Ông Bùi Trình Khiêm có người bạn là Lê Đức, chủ trương tờ Nam Kỳ kinh tế. Ông Đức có hơn mẫu vườn ở ngoại ô Sài Gòn -Chợ Lớn, đang thiếu nhân công. Vậy là thầy trò có thể tha hồ múa bút hay đánh cây, làm cỏ. Bằng không, ra buôn bán nhì nhằng ngoài phố đợi thời phất lên cũng được chứ gì. Chuyển sang thương mại là một xu hướng của đám nhà Nho thất thế. Nghĩ đến nghiệp lớn đang chờ, thì hùng tâm tráng trí lại lên ầm ầm.
Nhưng trước hết phải làm chầu hủ tiếu. Sau đó, chải sạch quần áo để hết những tanh tưởi hôi hám trên tàu. Đi kiếm sống cũng phải bề bề thể diện, vừa giữ cho mình vừa giữ cho người mình sẽ nhờ cậy. Rồi cả đoàn đóng xe kéo đến địa chỉ đã được cho.
Căn nhà hoang tàn, như vừa có trận bão cuốn qua. Ông chủ, thiểu não hơn cả khách, cho biết do làm chính trị, ông bị mật thám khám nhà, phủ Thống sứ Nam Kỳ gọi lên bắt ký vào nghị định trục xuất về Bắc. Bơ vơ giữa Sài Gòn đắt đỏ, “phái đoàn nho sĩ Nam Định” giạt về Mỹ Tho rồi sang Sa Đéc. Sa Đéc có cụ Võ Hoành, cũng là một chính trị phạm bị an trí, sống bằng nghề thuốc. Cụ Võ rộng nhà rộng bụng, có thể cho họ dung thân ít lâu. Hàng ngày Liệu tán thuốc, thái đỗ trọng, xay tam thất, rầu ruột ngâm những câu thơ cảm khái. Thơ cảm khái thì sẵn vô cùng.
Áp Tết rồi. Xung quanh rậm rịch mổ lợn gói bánh tét. Ngoài sông vắng hẳn những con thuyền khẳm trái cây. Thầy trò ông Bùi đi dạo phố, ngắm những cửa hàng của người Hoa đỏ ối lạp xường, đàn trẻ nhấm kẹo bông mồm nhoe nhoét mà cám cảnh vô cùng.
- Xẩy nhà ra thất nghiệp là đây, Liệu ạ.
Ông Bùi rầu rĩ thở ra trong khi Liệu để tâm vào bàn thờ thiên trong góc chợ. Khói hương nghi ngút, mầu giấy phong bao thật tươi mắt. “Hay là chúng ta viết câu đối... ”, anh reo lên.
- Nhưng cậu vẫn thương hại bọn bần nho bán chữ kia mà.
- Thưa thầy, đến nước này thì mình phải thương lấy thân mình thôi.
Miệng nói, chân hăm hở rẽ vào hàng tạp hóa. Ông Bùi cũng hăng lên dốc túi mua mấy băng hồng điều, cây bút lông lớn và thỏi mực tầu. Ngần ngừ trước cái nghiên, hai thầy trò quyết định chẳng xa xỉ làm gì, ra mé chợ nhặt mảnh bát vỡ còn hơn.
Cái góc phố họ chọn đông người qua lại, trước một gian hàng đã đóng cửa ăn Tết. Giải chiếc chiếu lem nhem, Liệu sắn tay mài mực. Cũng may thầy trò mang cả áo lương theo nên trông ra dáng ông đồ. Ông Bùi ngồi bằng tròn lấy tờ báo ra thử bút. Nhưng sao tay cứ run bắn, mặt hết tái dồn sang đỏ. Được một lúc thì gác bút, chìa ngón cái tay phải nhăn nhó: “Dập đã mấy tháng rồi mà không hồi nổi. Liệu viết đi. Ấy, khoan đã... ”
Lại phải chạy đi mua thẻ hương. Bắt đầu một “nghề” mới, cách kiếm ăn mới, không cầu khấn mấy câu thì thần thánh nào ban cho cái may. Đoạn mào đầu không thiêng liêng lắm nhưng không đến nỗi báng bổ, vì Liệu chợt nghĩ đến đền Ngọc Sơn ngoài Hà Nội. Cụ Nguyễn Siêu viết “Tả Thanh Thiên” lên Tháp Bút là muốn tỏ ước vọng vòi vọi “viết lên trời xanh” của kẻ sĩ, mình cũng có ước vọng đấy chứ.
- Viết chữ gì bây giờ, thầy ơi. - Liệu cất tiếng.
- Thì cứ những câu thông thường ấy thôi. Không cần cao thâm làm gì.
Tống cựu tà ma ra khỏi cửa
Nghênh thân phúc lộc rước vào nhà
Liệu nhoay nhoáy thảo vào đôi băng giấy điều, chữ nhỏ và bay bướm, nét đậm nét thanh rất điệu, đoạn treo lên. Đang soạn một đôi câu đối khác thì có tiếng trầm trồ “Hảo a! Hảo a!”. Ông Tầu mặt tròn trĩnh đứng gác một chân lên hè ngắm nghía, miệng khen không ngớt.
- Tiên sinh viết đẹp hà. Phết phẩy rất có hồn hà.
- Dạ, không dám...
Liệu nhún mình đúng kiểu chân Nho không coi lời tâng bốc hay đàm tiếu vào đâu, phóng bút tiếp.
Tết đến nhà nhà vui con trẻ
Xuân về thôn xóm chúc ông bà
Đấy chỉ là những câu sáo mòn, đối không hẳn đã chỉnh, ngoài kia Liệu và đám bạn vẫn chỉ trỏ cười chê, nay cóp lại mà được khen nắc nỏm. Những là sâu xa, những là hàm súc, nhiều ý tứ bên trong lắm. Dân “ở trỏng” dễ tính thật. Vài người nữa xúm lại, kẻ không biết thì tò mò, người có chút chữ thì tán tụng. Ông người Tàu đợi cho câu đối ráo mực, cuộn lại, bảo “Tôi lấy đôi này dán cửa bếp. Nhưng hơi nhỏ. Phiền tiên sinh viết cho đôi đại tự dán cột nhà”. Thấy Liệu nhăn nhó, ông vỗ túi xường xám:
- Tiên sinh khỏi lo. Tôi có tiền. Tôi mua giấy lớn, bút to, tiên sinh phóng tay đại tự mới hả.
Ông ta cứ nhì nhèo, rằng bấy lâu ở Sa Đéc không ai biết viết câu đối đẹp, rằng được chữ tiên sinh là có phúc lớn cả năm. Có biết đâu rằng “tiên sinh” đang bí. Từ nhỏ đến giờ toàn tập trong vở, có viết đại tự bao giờ. Đó là một thử thách rất lớn, ai không rành thư pháp hở cơ ngay, như đô vật lấm lưng trắng bụng trên sới.
Cũng may ông Bùi đứng ngoài đỡ hộ: “Xin ông thông cảm. Thư pháp không phải không biết. Nhưng gia đình chúng tôi có một lời nguyền từ tổ tiên để lại là không viết đại tự bán, chỉ làm từng đôi nhỏ thế này, chơi cho vui. Các vị cho bao nhiêu cũng được... ”.
- Thế thì tôi đành chịu. - Ông khách trả tiền đôi câu đối nhỏ rồi bỏ đi.
Từ sáng đến trưa không bán thêm được đôi nào. Người người cứ tụ rồi lại tán, có khi chê gàn, có khi khen chân Nho giữ đạo nhà. Rồi cuốn chiếu thu “nghiên”, rửa bút lủi thủi về. Đau nhất là ông Bùi, rất thạo đại tự mà không múa bút được vì cái ngón tay chết tiệt. Liệu đau xót nghĩ đến cha, anh, giận mình chê cánh bần Nho bán chữ giờ mất cơ kiếm ăn. Mấy xu đôi câu đối chả đủ tiền giấy mực, đúng là chó cắn áo rách.
Về đến nhà, thì những miệng đang chờ. Cụ Võ Hoành nghỉ hàng, Tết không ai bốc thuốc. Liệu tần ngần rồi dứt khoát bảo ông Bùi:
- Thầy ơi, em phải đi thôi!
Tầu thủy Sa Đéc - Mỹ Tho trống hoác như dạ dầy người khách ngồi gần buồng máy cho ấm. Người bán vé đến, Liệu phải vật nài mãi mới bán lại được chiếc đồng hồ ông Bùi cho làm kỉ vật được ba đồng bạc, đủ tiền về Mỹ Tho rồi bắt xe lửa về Sài Gòn. Tiếc lắm. Nhưng phải độ thân trước đã.
Sài Gòn sáng rực. Pháo nổ đì đẹt, người đi lại sao mà diện, mà đẹp, trong khi mình chỉ cốt ấm. May ông chủ nhà 80 đường Bonard rất tốt, đón khách vào nhà. Không gian có mùi nhang, cành mai trong lục bình làm vợi nỗi cám cảnh trong lòng người xa nhà. Nhưng lại ốm mới chết. Tê phù, chân tay liệt như không phải của mình. Phong tê thấp, cái chứng quái ác người Bắc hay mắc khi vô Nam đã hỏi thăm đến Liệu. Anh không thể ngồi dậy, người múp míp như túi nước, ấn tay vào nhũn nhùn nhùn. Và hôi thối vì không thể ngồi dậy đi vệ sinh. Cũng may hàng ngày có người dọn dẹp, lau chùi hộ, chứ không thì căn gác bị lầm tưởng là cái nhà cầu không ai quét. Thật ra thì Liệu không cám cảnh nhiều lắm, niềm vui ra giêng có việc làm anh khấp khởi.
Đó là tập sự nghề khắc dấu đồng, theo học những thợ đàn anh trong nhà. Cầm dùi sắt, chạm đồng, xước sát, chảy máu luôn tay, Liệu chẳng quản. Khốn thay anh không phải người khéo. Thế nên, phần vì thương mến, ông chủ cứ phân thêm những việc nhà cho nhẹ nhàng hơn. Thỉnh thoảng ông rủ Liệu đi ăn hủ tiếu, xem hát bội. Với một người Nam Bộ bình thường, những nhận xét của Liệu được xem là rất sắc sảo. Được tôn trọng, coi là nửa tập việc, nửa là chú em, mà Liệu không thấy thoải mái. Người ta tốt. Nhưng cứ thế này anh sẽ không học được nghề mà vẫn mang ơn nuôi ăn.
May là thuê chung ngôi nhà có ông phó may. Liệu bèn xin sang học nghề mới với cái cớ chân tay lóng ngóng, e tốn công dậy dỗ của thầy. Bây giờ là đốt bàn là, đơm khuy, thùa khuyết, dọn vải vụn, chạy đi mua chỉ... Tuy lặt vặt, anh có tâm trạng đỡ là người ăn theo, kiếm tiền một cách sòng phẳng hơn. Có lẽ Liệu sẽ thành một thợ may khéo? Không chừng sẽ thành ông chủ tiệm lớn, hàng ngày tươi cười đứng đón các bà các cô tới đo ướm, cũng nên... Tối đến, còn chút thì giờ, Liệu sẽ ngâm thơ cho mấy ma - nơ - canh nghe. Những cô nàng ngực nở bụng thon bằng nhựa, bằng gỗ sẽ vui lòng thưởng thức tâm sự của “anh hùng mạt lộ” suốt đêm...
Nhưng chứng tê phù giã bẹp mọi mong ước. Các khớp ngón tay đau đớn. Đầu gối to tướng, đỏ bóng. Chỉ cần ra Bắc, nơi khí hậu kém ẩm thấp hơn là ta sẽ khỏi. Nhưng tiền đâu mà ra. Nằm lại thì thuốc ai bố thí? Được người cơm cháo, dọn rửa thế này, là phúc đã lớn tày ngôi phủ thờ Bà Chúa Liễu ở quê rồi.
Tráng sĩ đau lòng thân ỷ lại
Anh hùng thẹn mặt cảnh vô nhan
Mặc dầu ai biết, ai không biết
Mắt thiết nào trông thấy ruột gan
Trong căn gác tối om, hôi hám, tiếng ngâm của kẻ cuồng sầu thảm như vọng từ cõi âm lên.