Liệu lấy vợ sớm, ở cái tuổi non “anh” già “thằng”, nghĩa là chơi nhởi nghịch ngợm vài ba năm nữa không chán, mà khăn xếp áo the ra đình đàng hoàng một suất cỗ cũng đã đủ “chuẩn”. Tục quê xưa, nhà neo đơn hay lấy vợ cho con sớm để có người làm lụng. Nguyễn Thị Tý, cô gái khoẻ mạnh, sớm xốc vác là con ông lang ở làng Thái La, một trong mấy nơi hai bố con ông đồ đi bảo học. Đối với cô, Liệu là chỗ cha mẹ thuận gả, đã đành, còn bởi là người lắm chữ để “tham vì cái bút cái nghiên anh đồ”.
Đang còn trẻ con thoắt cái thành đàn bà, Tý như không cần cái đoạn chuyển tiếp thiếu nữ mơ mơ màng màng, luôn mong một cái gì mà không rõ. Đêm tân hôn chắc lắm cảnh cười nôn ruột, chú rể nói năng như ông cụ nhưng “sự đời” chả biết quái gì cả. Còn cô dâu, như người nhà đã lâu, sáng ra gánh ngay nồi hông đựng nước giải ra ruộng rau. Khi lứa lợn, lúc luống lạc, cô làm cho cái gia đình tiếng cả nhà thanh ở Vân Cát đỡ khốn cùng. Thời chữ Nho không còn đắt, bố con ông đồ dù đứt bữa vẫn phải ngậm tăm đủng đỉnh ngõ xóm, ra điều vừa được ấm chân răng. Giờ thêm người nhưng cũng chả thấm vào đâu. Cái nghèo như tấm lưới đen xì, chắc chắn và nhớp nhúa bủa lấy ngôi nhà nhỏ.
Liệu đi dạy ở Hạnh Lâm, Công Luận, Ngọc Ba... , góp được ít hào, quầy quả đi như chạy về làng. Đợi cậu có bà mẹ đau mắt, các cháu con anh Chước - vừa mất vì ho lao - để lại. Và người vợ trẻ vừa bén hơi. Cảnh nhà xum họp, dù rách rưới, vẫn vẫy gọi người “bán cháo phổi” xa quê.
Nhưng vừa bước vào ngõ, Liệu đã phải sợ đến thót tim. Mùi thuốc phiện bay ra ngầy ngậy. Ai mà lại hút ở nhà ta? Chắc không phải người nhà mình, tiền đâu mà rước cái ấy...
Gian giữa, ngay dưới bàn thờ, chềnh ềnh gương mặt lạ. Hai gã đàn ông ngả ngốn, chân cẳng chìa cả vào tranh tiên sư, đang móp má rít. Một đứa loẻo khoẻo, rõ là nghiện đã lâu, khoái chí nhìn thằng bạn vạm vỡ đang lên tiên, mắt đờ đẫn, chân tay thả thõng thượt. Liệu quắc mắt nhìn hai “vị khách” rồi quay sang Tý, lúc này đã ríu cả chân vì chồng về. “Chết thật. Thế này là thế nào?”.
Tý kéo gầu nước cho chồng rửa mặt, thì thào:
- Anh đừng nói to mà khốn. Họ đến đòi nợ...
Liệu dập tắt ánh mắt phẫn nộ, qua cửa ngách vào buồng mẹ. Bà đồ gầy võ, đeo mảnh vải màn che đôi mắt mù dở, luôn chảy nước. Bà nắn chân tay, vuốt lưng cậu út rồi đẩy ra, ý chừng vì Liệu lớn rồi, đã “thành gia thất”.
- Hai bác đây là người nhà ông chánh, bà giải thích. Ông chánh cử sang nhà ta nằm, bao giờ trả được thóc nợ mới về. Từ hai hôm nay nhà phải cơm rượu mời, con ạ.
- Nhưng sao họ nằm chướng thế?
- Ấy, khẽ mồm chứ. Chúng nó nghe lại ậm oẹ. - Giọng bà lại cao lên - Con phải từ tốn với hai bác, đừng để bụng những chuyện nhỏ. Ông chánh nhà đông đầy tớ lắm.
Đang chuyện, bên ngoài gọi giật:
- Cho nước nhá! Nước sôi đâu?
Tý “vâng” rõ to rồi chạy vội từ dưới bếp lên. Thằng loẻo khoẻo ghé vành môi thâm xì vào vòi ấm. Nước nóng bỏng mà nó uống không ghê mồm. Thằng vạm vỡ chân vẫn còn giật, đập tay xuống chiếu ầm ĩ:
- Cậu Liệu đã về rồi hả. Ra làm một bi với chúng tôi nào...
- Chào hai bác! - Liệu đứng chắp tay trước cửa buồng, giọng rất lễ độ. - Tôi không biết hút. Các bác cứ tự nhiên.
- Ôi dào, vẽ!... Không biết thì tập mới hút được chứ.
- Quả là tôi cũng tập rồi, nhưng không hút nổi.
- Cậu chê thuốc hả. Thế thôi. Ta ngồi nói chuyện.
“Loẻo khoẻo” với chiếc thước lim nặng chịch dựa vách, nhìn anh đồ rất xấc láo, nhưng giọng lại bẻo lẻo, ngọt ngào: “Chuyện là thế này... Các cụ nhà ta vay ba thúng thóc của ông chánh, từ giáp hạt. Nay đến hạn mà nhà chưa trả, chúng tôi sang trọ lại ít ngày.
- Chúng tôi cũng chả thích xa nhà đâu. Từ Bình Lục vào đấy. - Thằng vạm vỡ đế theo - Nhưng ông chánh đã nhờ, thì cũng coi như việc nhà mình cả. Cụ nhà và các cô các cậu chắc cũng chả thích. Thì cứ sòng phẳng mà trả cho xong.
“Được cả đôi bên cậu ạ”. Hắn đặt bàn tay nặng chịch lên vai Liệu làm cậu suýt ngã xuống. Mặt chuyển từ đỏ sang tái, vừa tức vừa sợ, Liệu lắp bắp:
- Nhưng... , nhưng...
- Thôi “nhưng” sau. Cậu vừa đi dạy xa về, có đồng rượu cho bọn này bữa chiều chứ! Phải thịt thủ đấy nhá. Mấy hôm nay toàn nhắm với lạc, nhạt mồm nhạt miệng tệ.
Ngoài ngõ chị Riệu đã về, gánh rau má lèn chặt oằn cả vai. Thằng loẻo khoẻo nghển lên, “tưởng gì... ” rồi lại ngả xuống.
Chị Riệu mệt lắm, gánh rau đặt bịch từ ngoài cổng, không thể tha vào sân nữa. Phải vượt sông sang Bến Đá bên Thái Bình mới có rau, đi về bốn ngày vừa cắt vừa lôi tha, làm gì chả phát ốm. Liệu bê từng quang rau vào sân, sức nam nhi mà thấy nặng quá thể. “Ấy chớ... Nhẹ tay thôi kẻo giập rau, mai nó héo hết”, chị Riệu đang ngồi thở đã nhắc.
- Nhà đâu, hết người rồi a? Cho ấm chè nào!
Trong nhà thằng loẻo khoẻo dài giọng. Trông hai ngón tay khô đét của nó vuốt dòng nước dãi chảy xuống cằm đến là ghê. Liệu cố nén, nhưng giọng đã toát ra vẻ giận dữ:
- Các bác xem, nhà còn ai đâu. Mẹ tôi mắt kém, chị tôi mới về đang nhọc.
Thằng vạm vỡ xồng xộc ra sân dứ dứ tay thước vào cái chum hãm nước phèn. “Cái này dễ vỡ lắm đây, phải không cậu?”. Liệu nén nhịn xuống bếp gây lửa, tức nổ đom đóm mắt mà không dám nói gì. Ông chánh Cam thâm thật, mượn tận Hà Nam mấy thằng cẩu trệ. Quân nặc nô xa làng xóm dòng tộc còn biết nể sợ ai.
Buổi tối, cả nhà ngồi quanh nồi cám trộn rau má. Trên trời, trăng giáp rằm tròn vành vạnh tỏa xuống thứ ánh sáng trong trẻo. Ngoài vườn tre chuối xào xạc, cây khế rụng quả lộp bộp. Cảnh đẹp thế mà Liệu nuốt không trôi, chị Riệu giục mãi mới lùa nổi hai bát.
Trong nhà, đám khách không mời vừa tì tì nhắm rượu vừa cằn nhằn chửi đổng. Không có thịt, chị Riệu phải mua mấy bìa đậu nướng, dẫn vào buồng chỉ thúng cám và chum gạo nhẵn thín, chúng mới tha cho.
“Ăn” xong, Liệu đóng áo the, dận đôi guốc mộc, bỏ chục trứng vào rá sang nhà chánh Cam. Ra đến cổng còn quay lại mò que tăm vừa đi vừa xỉa chèm chẹp. Không ra điều có ăn, ai người ta mượn dạy chữ cho con...
Nào nhà ngói chữ môn, nào cầu ao lát đá. Những vựa thóc ngần ngật chấm mái, những đỉnh đồng, vạc đồng sáng choang. Nhà chánh Cam là một thế giới giầu sang, quyền quý, làm anh đồ nghèo lo ngại. Lại con chó dữ như hổ chực đớp áo lương mủn, và mấy đứa con gái váy nái khuyên vàng khủng khỉnh không thể tưởng. Liệu đứng ngoài bờ ao đến lúc muỗi cắn sưng chân mới được gọi vào, ấp úng:
- Bẩm, nhà cháu có con gà nhảy ổ, chẳng có gì, gọi là đem biếu bà...
- Đem về đi. Nhận của cậu chả bõ. -Mắt bà chánh liếc lem lém vào rá trứng - Đến vụ gặt rồi bà đồ không giả thóc là thế nào, hả?
- Dạ, bà biết đấy, hai năm qua lụt có cấy hái được gì. Năm nay đê lại vỡ. Văn Chỉ cao thế còn ngập, ruộng không bỏ thì làm thế nào. Xin bà thư thư, cháu mới lo được từng này...
Liệu móc túi lấy mấy đồng bạc gói sẵn, để lên bàn. Mắt bà chánh lại quét nhằng nhằng. “Ngần này mới chỉ đủ vốn. Ba thúng thóc cơ mà. Phải thúng rưỡi nữa mới có lãi chứ. Tôi không lấy lãi, làm phúc cho làng để chết đói à?”.
- Dạ, nhưng thóc mùa rồi bị mủn do ngâm nước lụt, bà tính lãi hạ cho, nhà cháu phải trả gấp rưỡi thì thiệt quá.
- A, nhà anh đi cả huyện gieo chữ, gặt về bao nhiêu bạc, mà còn bài bây, hả? Người ta tôn sư trọng đạo lắm kia mà.
- Nhưng mấy năm đê vỡ liền liền, công cho thầy hạ lắm rồi. Mà chữ Nho mất giá... Bà cho cháu thư thư dăm bữa rồi xin trả lãi đủ.
Hứa hẹn mãi, rã họng, mỏi mồm, bà chánh mới cho “y hẹn”, bảo người nhà cùng về gọi đám nặc nô Hà Nam rút.
Đêm ấy gia đình được yên thân, khỏi nghe thằng loẻo khoẻo khạc nhổ, thằng vạm vỡ tồ tồ trước cửa sổ gian bà đồ ngủ. Nhưng Liệu, sau hồi chầm bập vợ, không thể ngủ nổi như mọi lần.
- Sao vậy? -Tý xoay cái bụng đã thây lẩy sang hỏi.
- Tức quá. Con mẹ chánh Cam cho khất nợ tạm nhưng riếc đến nhục.
- Bảo sao?
- Thà là nó cứ phũ mồm thô kệch, thì còn đỡ. Đằng này lúc về lại nói chữ, bảo “quân tử nhất ngôn đấy nhá”.
- Ôi dào, tưởng gì... Thế mà cũng tức!
Tý cười khì rúc vào lòng chồng, một tẹo đã ngáy khò. Anh đồ không thể ngủ. Cơn tức đã phải nhường chỗ cho cái đói đang cồn lên, quặn cả ruột. Mà ngoài sân trăng lại sáng quá. Những câu thơ chợt đến làm anh nhổm dậy, tiếng ngâm bật ra trong đêm...
Trời chưa sáng chừ! Lốm đốm những sao
Thời chưa gặp chừ! Vùi lấp anh hào
Cỏ chi trong hang tối chừ! Ai biết mà hái
Hoa lan trong rừng rậm chừ! Ai ngửi thấy hương
Thơ, nhất là thơ cảm khái thậm vô tích sự. Vì một đêm đang trầm tư u tịch như thế, nhà Liệu bén lửa, cái tàn tro từ hàng xóm bay sang. “Của cải” cháy tiệt, trừ cái nồi hông đựng nước giải. May là bà lão mù giở và vợ chửa được dắt chạy ra ngoài kịp.