Hồi lang thang làm báo, ở tù, Liệu đã viết những cuốn sử nhỏ. “Anh hùng khứ quốc. Ông Nạp Nhĩ Tốn (Nellson)” in trong Cường học thư xã năm 1927, rồi đến “Bạo động Yên Thế”, “Thái Nguyên khởi nghĩa” (sau nhà xuất bản đổi thành “Loạn Thái Nguyên” cho dễ bán) là các khởi động đầu tiên. Trong kháng chiến, lúc “ngồi chơi xơi nước” và đợi... tự tử, “Sơ thảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam” ra đời, in giấy rơm. “Tiện thể”, trong một lúc vừa phẫn chí vừa rồi việc, ông thường trực quốc hội viết hồi ký kể lại đời mình, từ lúc tấm bé đến liên chi đoạn tù đày. Hồi kí thì chưa in, nhưng cuốn “Sơ thảo... ” đã đem lại cho ông nhiều thứ quý báu: bạn bè, những nhận xét, lớn nhất là sự tự tin. Ông được góp ý kiến rằng thời cận đại cũng có những thành tựu về văn hóa xã hội, sự phản ánh về kinh tế trong sách còn mỏng. Liệu muốn làm quyển mới trên nền cái đã có, đặt cho nó một phạm vi hẹp hơn, lịch sử chống Pháp thôi, trong 80 năm, còn những vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi, thơ văn các ông hoàng, những công trình, tiến bộ mang ảnh hưởng Pháp không đụng tới. Hẹp, nhưng nhất định phải sâu hơn, thấu đáo chứ không theo những yêu cầu bên ngoài. Đây là công trình của riêng ông cơ mà, dầu trong khi làm, ông vẫn sống bằng lương bổng Nhà nước.
Giờ là lúc tĩnh tâm, tĩnh trí để tra cứu trong thư viện, đối chiếu, học phương pháp trong các cuốn sử Pháp, Trung Hoa hay Liên Xô. Phương pháp chẳng phải là thế mạnh của một người tự học. Ngược lại, ông đã sống, nếm trải quá nhiều, đã gặp các nhân vật chính yếu của một thời như hai cụ Phan, Nguyễn An Ninh, Hồ Chí Minh, Bảo Đại... Không gì dễ hơn là đi vào sử cận đại, cái thời của cả cha, anh ông. Nó không quá xa xôi để “tan” vào huyền thoại. Tư liệu về nó đủ nhiều để khỏi phụ thuộc hoàn toàn vào các sử gia như thời phong kiến, dù đó là Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn hay Ngô Gia văn phái. Nó cũng không quá sát sạt, còn “nóng rẫy” như thời hiện đại, đủ để ông độc lập trong cách đánh giá. “Đánh giá”, cái công việc vừa trọng đại nhất lại vừa vớ vẩn nhất. Sự kiện vừa diễn ra ít năm trước đây thôi, chứng nhân còn sờ sờ đó, mà đã có người cứ riết riệt khoác cái ý nghĩa xa lạ này, phủi bỏ căn cốt kia đi, nên gọi là tham lam lố bịch hay là cái chi chi đây... Trời phú cho Liệu trí nhớ tuyệt vời, nó cho ông sống lại bao nhiêu câu chuyện đã nghe trong tù, khi làm báo, lúc gặp gỡ đủ loại người của nhiều thế hệ, lập trường chính trị. Nhưng lại có lúc nó hành, khi ai đó muốn ông quên đi điều gì...
“Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” được thai nghén, hình thành và đầy đặn dần giữa bao nhiêu công việc. Là viện trưởng viện Sử học, ông phải tổ chức đội ngũ nghiên cứu trẻ, tìm đề tài, cử người đi học, thăm hỏi nhà có đám... Là phó chủ nhiệm uỷ ban thường vụ Quốc hội, ông phải dự các kì họp, luận bàn về luật pháp, tranh thủ đọc sách giữa hai bài diễn văn. Là chủ tịch hội Việt - Trung hữu nghị, ông dự các bữa tiệc xã giao, lưu ý trung ương cảnh giác với đề nghị của bạn dời thủ đô từ Hà Nội lên Xuân Hòa. Quan hệ xã hội càng nhiều, “dự” lắm “ghế” thì càng sốt ruột, tiếc thời gian. Được cái Liệu dễ ngủ, và ăn cũng rất dễ. Không uống rượu, chè thuốc, ông đều đặn mỗi bữa ba bát cơm, trưa ngủ ít phút rồi đúng giờ ngồi vào bàn.
Lịch sử cận đại Việt Nam có những vận động căn bản: thực dân xâm lược, phong kiến tan rã từ hệ ý thức đến thực lực, các trào lưu đấu tranh cho dân tộc, sự giao thoa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây... Có những “nẻo” không đơn giản, như đánh giá các trào lưu cứu nước trước khi đảng Cộng sản ra đời. Liệu cố gắng giữ sự độc lập của mình, ít ra là vì trước khi trở thành cộng sản, ông đã lang thang từ chủ nghĩa này, đảng này sang chủ nghĩa khác, đảng khác rồi. Ông yêu nước, những người tìm đường cũng yêu nước, có lí gì cho họ là “không tiến bộ” khi họ chưa hề biết chủ nghĩa cộng sản là gì.
Tư liệu cho cuốn sách được bổ sung dày dặn dần, khi bộ “Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam” do Liệu chủ biên ra đời. Nguyễn Khắc Đạm, Nguyễn Lương Bích, Văn Tạo, Nguyễn Công Bình... , bao nhiêu thứ nhặt được trong các nghiên cứu của họ nữa. Liệu có cả vạn trang tư liệu để ngẫm ngợi, nung nấu thành gần nghìn trang sách. Bản thảo viết trên mặt sau những tờ tin, chữa be bét, được cái chữ dễ đọc nên người đánh máy không mất công đoán.
Quyển I bộ “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” hoàn thành và được in năm 1956, dày 328 trang khổ to, làm nhanh và suôn sẻ. Quyển II không như thế. Viết về giai đoạn Đảng Cộng sản đã ra đời, đánh giá của các nhà lãnh đạo đang còn sống có những chỗ vừa khác nhau, vừa khác ông. Nó có hai tập, tập Thượng dày 156 trang ra năm 1958, tập Hạ 230 trang ra năm 1960. Đây là cuốn sử dầy dặn, hệ thống nhất lúc đó về thời kì này. Nó được dùng làm giáo khoa trong trường đại học, đem ra nước ngoài giới thiệu. Trần Huy Liệu nhận huân chương Humbolt và bằng viện sĩ thông tấn của viện Hàn lâm khoa học Cộng hòa dân chủ Đức, có tiền đưa Nghiêm gom mộ nội tộc về một khu “lăng” ở quê. Niềm vui quả là lớn, đôi khi ông nghĩ mình đã làm hết bổn phận với cuộc đời.
Nhưng cuộc đời vẫn trôi, và ông thì còn sống. Liệu đi nước ngoài nhiều hơn, đổi ô tô con, từ chiếc Moskvich biển HNA 861 sang Lada đời mới mầu trắng. Nhà có bìa mua hàng loại A, “phẩm hàm” của thứ trưởng, ông không phải lo đến cái ăn. Bà Tý tham gia câu lạc bộ Phụ nữ trí thức, sinh hoạt cùng các “mệnh phụ”. Gia đình thứ hai ở Hàng Buồm, cách nhà ông hơn hai cây số. Nhuận bút viết báo dành đưa Sửu - giờ chỉ còn phải lo chính cho hai đứa trẻ họ Trần, vì bà đã đi làm ở tổ đan len, không dư dật nhưng không đến nỗi thiếu. Vinh và Dũng, hai con riêng của Sửu, một ở bộ đội, một đi làm xa, đã có lương.
Có điều, hòa bình đem lại những vấn đề mới cho cuộc sống không hề dễ xử như lúc còn thằng Pháp thằng Nhật dí súng gươm vào cổ đồng bào ông, bắt họ sưu cao thuế nặng. Bề nào, ông còn là người của chính trường, các hoạt động xã hội. Đến lúc tuổi ngoài sáu mươi, bao nhiêu ý đồ còn ấp ủ, mà ông không thể “đóng cửa” trong thư viện, viết những điều mình nhớ, mình nghĩ. Nỗi ham công tiếc việc cứ căng con người đa mang, đa sự ra.
Có hôm, sẵn thời gian, Liệu về bà hai ăn cơm tối, xong đưa tiền cho Chiến đi mua vé xem phim. Cậu út tám tuổi đã biết tiếc tiền, mua vé hai hào ngoài rạp Long Biên, gần chợ Đồng Xuân, loại rẻ nhất, khiến cả nhà ngồi xem mà bắt tay diễn viên được. Kể cũng vui, vì cái hạnh phúc đến đơn sơ. Và hơi hơi ngậm ngùi. Rất lâu, kể từ thời kháng chiến, Liệu mới ngồi giữa mùi mồ hôi nặng đến thế. Rạp bẩn thỉu, chỗ đi tiểu nhớp nhúa, đang xem trẻ con đánh đuổi nhau chạy huỳnh huỵch. Chiến và Quang đã lớn lên giữa những đứa trẻ như vậy, và ông chả dậy bảo được chúng tẹo nào.