Vụ tuyệt thực 12 ngày đêm có thể coi là một thất bại của tù chính trị, nòng cốt là cộng sản, trước kẻ cai trị. Thất bại là phải. Mình định làm reo, không ăn, vẫn ở trên trại, thì nó cắt cả uống, lèn xuống hầm tối quá cá hộp. Cousseau hành động quá nhanh, cờ vừa bầy nó đã ra đòn tàn độc. Nghĩ cũng đau. Và người ngợm, lên trại trên rồi cả tháng mới lại sức.
Nhưng đêm dài, thức rồi cũng thêm lắm thứ hay. Cái tình người, sự đoàn kết được thắt lại, chả phải chỉ trong đám cộng sản. Qua thử thách biết anh nào có thể tin cậy, anh nào phải cảnh giác. Lính tráng, đám dân dưới phố, không hẳn như Cousseau trông đợi, nể tù ra mặt, cho khi quả nhót khi cuộn chỉ. Và cuộc tuyệt thực, dù có thế nào, cũng chỉ là một khấc trong cuộc đời còn rất dài. Ta tổ chức cái nhà của những đứa xa nhà theo ý ta, được lắm chứ.
Đầu 1940, vừa xấp ngửa lên Sơn La thì Tết xịch đến. Chiều ba mươi đi làm về, được ăn cơm tẻ mát ruột (trong năm toàn ăn gạo nếp nương), uống rượu men lá. Tù chế ra một thứ “tiền”, đánh bài bao nhiêu cũng không “thủng túi”. Hoa tươi không hiếm, đào phai nhẹ nhõm, mận trắng chi chít “bấu” trên cành rất mạnh mẽ. Và thơ, cái thứ họ trồng được, ngoài đời lo kiếm ăn, tranh đấu, giờ ngồi rồi tha hồ bò ra. Đêm ba mươi, nghe tiếng pháo dưới phố nổ ran, tù nhỏm dậy chuyện trò. Liệu đọc một bài thơ “chúc Tết những thằng mất Tết” là đừng đái ra máu, được hoan nghênh lắm.
Văn nghệ lu bù. Trần Đình Long, vốn là trưởng một đoàn kịch ngoài đời, đến là lắm sáng kiến. Diễn kịch, hát ả đào, thi thơ, câu đối rộn rịp, lính tráng cũng xúm vào xem. Xuân Thủy nhỏ nhắn, trắng trẻo được lựa đóng vai đào Thu. Đào Thu ra vào õng ẹo, giọng khéo rên rỉ trong câu Tỳ Bà Hành:
Đồng thọ thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất hằng tương thức
(Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau)
Bài thơ của Bạch Cư Dị về cuộc kì ngộ của đôi trai gái vận vào phận tù sao mà ngọt, khiến nhiều người ứa nước mắt. Liệu tranh thủ gửi tiếng lòng mình vào giọng hát “đào” Thu câu miễu:
Xuân về thu chửa thấy về
Rừng xanh bát ngát làng quê rộn ràng
Thấy ai, ai những mơ màng
Gặp ai tạm trút muôn vàn nhớ thương
...
Thu Tâm? Phải là Thu Tâm chứ còn ai! Người tù đa cảm ranh mãnh nhắc đến mối tình của mình giữa những người từng góp phần làm cho nó đứt đoạn. Đồng chí, cùng nhau hoan lạc phân ưu phân tư đấy, nhưng có những nỗi chỉ một mình mình biết một mình mình hay.
Hai Tết sau, các cuộc vui chung càng đình đám, việc tổ chức đã vào nề nếp lắm. Trại lớn trại nhỏ đều có tao đàn, gánh hát. Dù đóng góp nhiều thơ phú nhưng không có “tài diễn xuất”, Liệu phải chân rửa bát hai ngày sướng bỏ bu.
“Phong trào” làm thơ lên mạnh. Nhiều anh ở ngoài củ mỉ cù mì vào đây bỗng lai láng vần vè, hết gửi em yêu phương xa đến tưởng ra non nước bồng lai. Tết, như một cái “thúng” quá nhỏ, “đựng” không hết. Nhu cầu ra một tờ báo để chứa những tiếng lòng, khi ai oán, lúc hài hước - rất lớn. Tiếng suối reo ra đời, có cả tòa soạn, nhà in nhưng độc bản. Dưới ánh đèn điện được hạ thấp xuống cho cai ngục khỏi dòm, các kí giả mân mê con chữ, bàn cách trình bầy. Thực ra trình bầy là chuyện “nhỏ như con thỏ”, vì sau đấy nó xuất bản mồm hoàn toàn. Nhưng được thực hiện do những tay “gộc” vốn đã quậy tung trường báo mấy năm trước, nó có đủ các chuyên mục với tính chất riêng “như người lớn”, nghĩa là cũng khá chuyên nghiệp.
- Thầy đồ! Thầy đồ ơi, “Nhạn lai hồng” là thầy kí tên à?
- Thế những “Cù Văn Cười” với “Cù Không Cười” là ai? Chịu! Làm sao mà đoán ra cũng là thầy.
Khu rừng vắng, khá xa phố Chiềng Lề rộn lên những tiếng đùa reo tinh quái của đám tù. “Thầy đồ” là Liệu, hôm trước vừa đem cái tật hay gãi của Nguyễn Văn Phúc ra trêu trên Tiếng suối reo, dù bệnh ghẻ của Phúc đã chả còn. Khối anh có tật cũng bị réo, nào ỉa chẩy, nào mới ra con sán “dài bằng bốn đoạn ruột”. Liệu cũng tự bôi bác đôi mắt ướt của mình. Báo in nhem nhuốc, đêm đêm được “ra đi ô” thêm mắm thêm muối khi “xuất bản” gây những trận cười nôn ruột trong từng trại.
Đang là kì kiếm củi. Tốp năm người, đa phần là thanh niên, như Hoàng Tùng mới ngoài hai mươi, ưu tiên Liệu ngồi trên khúc cây cho khỏi đu đưa, còn bốn người kéo cưa xoèn xoẹt.
- Thế cái tích bài “Tỳ bà hành” là thế nào?
- Tớ nhớ không rõ, đại loại ông nhà thơ gặp bà chán chồng bèn lai láng lên. Thằng chồng đi buôn muối thế nào đấy, cô mình không thoả mãn...
- Mấy chữ population dịch là “bình dân” được à?
- Tuỳ văn cảnh. Tiếng tây tớ “i tờ ít”, phải về trại hỏi Hoàng Công Khanh mới chính xác.
- Những bài chính trị thầy giảng rất hay, nhưng khó nhớ quá. Sao không in lên báo nhà tù cho nhiều anh em học nữa?
- Thì tù mình có phải cộng sản cả đâu. Mà in nữa báo nặng nề, khó đọc lắm, mình muốn dành chỗ cho những thơ phú, tiếu lâm.
- Kể thế cũng phải. Đêm đêm cười rung cả trại, hay thật. Thế thằng Cousseau nó đã biết gì về báo chưa?
- Để yên. Đến giờ thủy phi cơ lên xuống rồi...
“Thầy đồ” giơ tay ra hiệu im lặng, rồi tụt khỏi khúc cây, rón rén ra bụi le. Từ chỗ đó, tụt xuống dưới dăm chục mét, một cảnh tượng bồng lai hiện ra trước mặt họ. Mấy cô gái Thái đi nương về qua suối trầm mình tắm. Họ rất khéo, cứ nguyên váy áo bước xuống, nước đến đâu mới kéo lên đến đó, ngủm cả người thì cả bộ váy đội cả lên đầu. Đứng xa mà nhìn, suối như đang bồng bềnh những đóa hoa lớn. Mà hoa thật, đàn bà là hoa của trời đất chứ đâu. Suỵt! Khẽ chứ. Các bố đừng cười. Chả xem được cả tòa thiên nhiên đâu mà tưởng bở.
“Thủy phi cơ” về bản, năm anh đàn ông quay lại kéo cưa lừa xẻ, vẻ mặt thoảng chút mơ màng, nhất là mấy thanh niên. Trên đầu, lũ ve rừng râm ran, dòng suối bên dưới róc rách. Cứ trông vào câu chuyện và khung cảnh, có thể tưởng họ là những du khách an lành, hồn nhiên nhất trên đời.
- Thế những hôm đi với Thu Tâm, chị ấy nhà anh có hề hấn gì không?
Câu lục vấn đến là oái oăm. “Thầy đồ” chợt thoáng buồn, rồi trở lại bông phèng: “Phải “nộp thuế” trước chứ lị”.
Rừng chiều ngả sang sẫm sịt. Củi vác qua khe, qua con suối vừa in bóng những bông hoa rừng, chất lên xe. Hò dô. Bắt bánh nào. Quành nhanh quá hết bố nó đà rồi. Đằng sau, người tù có tuổi trở nên trầm lặng. Ô, mình đã qua tuổi “bất hoặc” rồi, sức vóc thanh niên nhìn mà thèm. Mình xa vợ con, xa người yêu mà còn vô tư được thế này... Mấy hôm nay Tô Hiệu ho ra máu nhiều quá. Hiệu biết Thu Tâm đấy...
Đêm đến, trên “giường” xi măng, có những trạng thái trái ngược không cho người tù ngủ sớm. Này, thật êm đềm, lãng mạn, bài thơ về một “bông hoa rừng”. Này, nghịch ngợm, quấy phá một ý tứ cho mục “Cù không cười”. Tiếng suối reo đã thành một phần cuộc sống nhà tù. Nhờ nó, bao người đã thay đổi, trở thành một phần của cái chung, lại “phát hiện” ra rằng mình cũng có tâm hồn thi sĩ.
Tháng 8 năm 1942, Liệu rời Sơn La về “căng” Bá Vân ở Thái Nguyên. Chỗ trại tập trung mới, điều kiện đỡ khắc nghiệt hơn. Tờ báo ra lần này có tên Dòng sông Công, ảnh hưởng lan ra cả dân cư bên ngoài. Chẳng phải chỉ có đời tù, người ta còn biết Hồng quân Liên Xô bắt đầu phản công quân phát xít, cờ Việt Minh kêu gọi đánh đổ đế quốc đã phất lên...
Liệu khoẻ ra. Đến nỗi mà Tý lên thăm, khi trở về mang thai, đứa bé ra đời mang tên Công để nhắc dòng sông “sinh thành” ra nó.