“Nhất Thanh nhì Lò tam Than tứ Tấc”. Nghĩa Lộ, tức Mường Lò, là cánh đồng lớn thứ nhì Tây Bắc. Tự nghìn năm, người Thái đen ung dung trồng lúa nước, quăng chài đánh cá, ăn nậm pịa và múa xoè bên những con suối lớn. Thực dân đến lập nên một đồn binh lớn trên đỉnh đồi cạnh thị trấn nhỏ. Và vì hè thì nóng nung, đông rét giá, muỗi độc đốt mau chết, nên bên cạnh đồn binh lại mọc lên dãy nhà nhốt tù, bên ngoài là rào nứa, rào thép gai giữa cắm chông. Có vẻ như đã vào đây thì một con chim cũng không bay ra được.
Đang ở “căng” Bá Vân, một “thiên đường” so với Nghĩa Lộ của thằng đểu Cousseau, đám tù dời về Hà Nội do gần đấy có “loạn”. Pháp dò được bí mật của chi bộ ở Bá Vân, họ lại bị di lên Nghĩa Lộ sau hai tháng nằm Hoả Lò. Ngày đầu tiên lếch thếch qua thị trấn, thấy dân chúng bị cách ly với tù quá, có anh bảo “chúng nó coi mình như quan ôn rắc dịch tả không bằng”.
Thật thì cái “dịch” đám tù chính trị reo rắc còn nguy hại bằng mấy bệnh thổ tả, tất nhiên đối với bọn cai trị. Bởi vì vừa đặt chân tới nơi, mấy ông ở tù thành thần này đã ra báo Đường nghĩa, mở lớp chính trị, dậy lí luận, bắt mối tuyên truyền trong binh lính và dân chúng. Một cái mới trong những hành động có chủ trương, tổ chức giờ đây là huấn luyện cả quân sự. Thời thế đang thay đổi gấp rút. Pháp bị Nhật đè ép lắm rồi, lật lúc nào không biết. Có cơ cứ chuẩn bị, cờ đến tay là phất được ngay. Tết Ất Dậu đầu năm 1945 đã diễn ra không còn mơ màng, “vui như Tết” bằng hồi Sơn La, mà đã đằng đằng một cái gì phía sau.
Quản đồn Nghĩa Lộ là Civet, hàng ngày liên lạc qua vô tuyến điện với Hà Nội. Sau ngày 9 tháng 3, mọi thứ tắt ngúm. Tù nhận định: Hà Nội đã trong tay Nhật rồi. Lực lượng Pháp ở Yên Bái, Lao Cai... phân hóa. Có tín hiệu phái De Gaulle muốn gặp mặt, Liệu, cùng một người khác, được cử ra tiếp. Lập trường, tôn chỉ, phân chia lực lượng trong tương lai bên tôi bên anh thế nào đem ra bàn thảo rất hăng. Đang trong tù mà được bàn, chỉ có mỗi chuyện phía kia biết mình có quần chúng đằng sau nên muốn lợi dụng thôi, chứ còn gì. Việt Minh đương cả thế bên ngoài, thì chúng mình có thế một chút.
Bàn thảo chưa đi đến đâu thì “phái De Gaulle” không đến nữa. Lực lượng Pháp ở Nghĩa Lộ được tăng cường khi phó công sứ Yên Bái Pellier từ tỉnh lỵ kéo lính tráng về. Có lẽ là thực dân, sau những ngày đầu hoảng hốt, đã có một sách lược mới: né Nhật ở các trung tâm lớn, rút về vùng sâu xa, đợi viện binh từ biên giới Trung Hoa, nơi quân Đồng Minh đang có ảnh hưởng? Mình toàn người chủ trương đánh Pháp đuổi Nhật, hai thằng choảng nhau, nằm trong tay thằng nào trong tình hình xung sát này cũng dễ bị tàn sát lắm. Tình hình nghiêm trọng đấy. Một ban chỉ huy trại được lập ra, có Phạm Quang Thẩm, Nguyễn Sĩ Nghiêm, Vương Thừa Vũ, Trần Đức Sắc (Văn Tân), và Liệu. Tình hình rất khẩn trương. Những người tù có một trung đội thường trực, coi như “lực lượng vũ trang” - mà chẳng có vũ khí gì cả - đề phòng sự biến. Và phân nhau chuẩn bị lương thực, thuốc men, bản đồ, truyền đơn bằng quốc ngữ, chữ Nho, chữ Pháp, cả la bàn tự chế. Căng như sợi dây đàn, vì địch có thể choảng ta, hay ta choảng trước, bất cứ lúc nào cũng có thể. Những hành động theo từng tình huống, nay gọi “phương án tác chiến” được đặt ra, báo động tập thử.
Dền dứ. Cảnh giác. Giữ miếng. Có những người lính đã bỏ đi mang theo súng. Địch không dám đàn áp nhưng đề phòng rất mực. Rồi sự việc xẩy đến bất thình lình, chả theo cái cách đã dự liệu nào.
Đó là hôm Tây giải 50 thường phạm từ Yên Bái về Nghĩa Lộ. Quản tù muốn nhốt chung “cả lũ”, chính trị phạm nhất định không chịu, bèn cho lính xông vào đám tù phụ nữ, có 6 chị. Đang giằng co thì viên phó công sứ tiến vào sân trại. Tù nhân, đã chuẩn bị sẵn, đứng sắp hàng, trương lên hai tấm băng viết sẵn hàng chữ Pháp: “Hãy võ trang cho chúng tôi chống phát xít Nhật!” và “Thả ngay chúng tôi ra!”. Pellier đứng cười khẩy, bảo các anh không phải tay quân sự lành nghề, không chống được Nhật đâu. Cứ ăn no ngủ kĩ đi, nửa tháng nữa người Pháp sẽ trở lại Yên Bái... Đang đắc ý thì “huỵch”, bẩy tám cánh tay xúm vào vật sấp Pellier xuống. Củi, guốc bổ vào thình thịch. Lão đồn Civet chạy ra cổng, Phạm Quang Thẩm phóng theo bị thằng quản người Việt bắn trúng đầu. Lính Pháp dưới chợ kéo lên nã súng vào. Cuộc vũ trang cướp đồn, định nổ ra vào đêm ấy, đã trở thành cuộc tháo chạy xuất ý bất kì của
tù nhân.
***
Bụi cây lúp xúp, phần nhiều là giống chó đẻ, cứt lợn, lá bị dứt ra toả mùi hăng nồng. Dây xấu hổ đầy gai xóc vào người xót điếng. Lũ kiến càng bắt đầu kéo đến bu. Vậy mà cứ phải nằm yên. Trời còn nắng nỏ, chưa chạy đi đâu được.
Cuộc cướp đồn hóa thành cuộc chạy trốn lúc nãy đưa đẩy ba người vào chỗ náu quái quỷ này. Chốc chốc già Tế lên một cơn rũ rượi, càng nén càng ho khoẻ. Nằm trong bụi gần đó, Liệu và Tiếp lo lắng nhìn nhau. May mà tiếng ho không bay ra nơi mấy đàn bà Thái đào măng đắng. Rừng già đầy vắt muỗi và hiểm hoạ, thường ngày là nỗi khiếp đảm của tù nhân khi đi kiếm củi, giờ quá xa xôi để có thể bươn tới mà ẩn trốn. Có lúc Liệu trông thấy hai bóng áo vàng phía xa, nhưng không lo lắng mấy. Lúc tán loạn trên đồn, lính dõng chả toàn bắn chỉ thiên đấy ư. Đấy là kết quả của những ngày tuyên truyền vận động, khơi gợi lòng yêu nước, đùm bọc đồng bào. Nếu cuộc bạo động không bị non, hẳn không ít người trong số họ đang đứng về phía những người tù. Dầu sao những kẻ đi trốn phải hết sức thận trọng. Hồi Sơn La, một bạn tù trốn của Liệu chạy đã xa rồi còn bị bắt, chặt đầu đem về bêu.
Trên đồi đồn rộ lên một tràng súng. Tiếp bấu vào tay Liệu: “Có lẽ nó làm thịt những thằng chưa chạy được”. Sau này, họ biết trong những người bị bắn lúc ấy có Kim, chú bé ngoan rất hăng hái trong cuộc chuẩn bị.
Gần tối lại hồi kèn điểm. Vậy là địch đã làm chủ được tình thế, thiếp lập lại chế độ sinh hoạt hàng ngày. Liệu ngao ngán. Là chỉ huy tối cao, anh đã không làm chủ được cơ sự, để nó nổ ra bất thình lình. Máu người phải đổ ra. Những mạng không còn về được dưới xuôi, nơi vợ con chờ đợi, cách mạng cần người biết bao. Đau nhất là lúc vượt hàng rào, Liệu phải bỏ lại người đồng đội ốm yếu. Cái túi đã chuẩn bị sẵn anh không kịp vớ, còn thứ quý giá nhất là những thư, ảnh người thân yêu.
Ba kẻ trốn tù chia nhau tài sản, quý nhất là tám mươi đồng bạc và ít gạo rang của Tiếp. Đã đến lúc lên đường, dặn rằng bước gần nhau, lạc không hú gọi được đâu. Dây rợ giằng dịt, có lúc cả ba lăn xuống suối, người bó tròn trong gai móc. Rất lâu mới ra đến cánh đồng, sa ngay vào đám thụt, mỗi lần rút chân lên lại “oạp”, nghe trong đêm rất to. Lũ chó chết tiệt chốc chốc lại sủa ác. Chạy ào qua đường cái sau khi xe tuần rọi đèn sáng trưng chạy qua. Bao nhiêu lần hú hồn, tưởng đã bị phát hiện, đến lúc ung dung được lại nghĩ đến rắn, hầm hố, những hồn ma bóng quỷ. Nhưng sợ gì cũng không bằng gặp người. Biết đâu trong những ngôi nhà đương say ngủ kia có kẻ đang muốn tóm mình đem lĩnh thưởng. Sao trong ngôi nhà không nóc, chỉ còn nền kia lại có tiếng ho, tiếng chẻ củi... Cuống cuồng chạy. Sau lưng có tiếng vó ngựa. Thôi chết. Càng thục mạng, cho đến lúc biết chỉ có con ngựa không yên lồng đứt dây theo.
Sáng ra, cả ba người đều đoan chắc đã lạc đường. Sang đến Tú Lệ mất rồi. Đi đâu thì đi, càng xa Yên Bái càng tốt. “Quán trọ” đầu tiên là một nhà sàn, bà mẹ mù nghe câu được câu mất, nhưng hai con trai nói tiếng Kinh sõi. Được cái họ chả hỏi gì cả, lại thông báo tin Tây chạy qua đây hiếp cả người già, còn Nhật đã tràn ngập sông Đà, chiếm cả Sơn La, Trái Hút. Năm đồng bạc mất hút vào bữa cơm rau bí sào, tiếc đứt ruột. Nhưng hướng đi được xác định, là ra Trái Hút. Vấp Nhật còn hơn gặp Tây “đi cả nải”.
Xuyên sơn. Cái chân Tiếp ngày một tệ, khiến anh lúc phải dựa vào Liệu, lúc vào ông Tế mà lần. Tế già thế mà dai sức. Liệu giữ con dao của ông, bị bắt là tự tử ngay. Anh chả hi vọng gì rơi vào tay Tây Nghĩa Lộ mà được chúng tha mạng. Ông cụ bản Nhốn cho hay hội kín ở nhà tù Nghĩa Lộ giết chết một quan ba bị bắn chết hết, có sáu kẻ chạy thoát, lính đi tìm đang ở ngay nhà bên cạnh.
Những ấm lạnh bất chợt. Những hẻo hút thê lương. Trùm lên tất cả là nỗi sợ, nó khiến người ta không thể ngủ trong chăn dầy, mà chui vào búi tre, đầm mình trong cứt trâu. Cũng có lúc đã tuyệt vọng, hạnh phúc đơn giản lại hiện ra trớ trêu, được cảm thông, thương tình, được ngả lưng thây kệ sự đời, ngửi mùi khói, ngắm bóng đàn bà trên vách. Ra đến Trái Hút, bán nhẵn nhụi sống áo, họ thuê được bè về xuôi nhưng lạc mất Tiếp. Âu Lâu hiện ra với những thanh kiếm Nhật sáng loáng, hàng ria mép trên gương mặt lạnh. Sống lưng kẻ đi trốn bỗng như có bàn tay ma vuốt dọc. Sau lưng anh tiếng chân rầm rập, ai đó bị lùng đáng thục mạng tháo thân.
Đò dọc từ Việt Trì đổ về chen chúc đủ loại người. Một ông khách không ngớt “xi nê ma mồm” về đám tù làm loạn ở Nghĩa Lộ, rằng chúng tợn tạo, luồn lách khôn ranh lắm, quân tuần đã bắt được cả chục, còn dăm ba đứa chả biết thăng thiên độn thổ nơi đâu. Hôi như cú, liên tục “à” “ồ” ngạc nhiên, Liệu và già Tế nghe như nuốt câu chuyện. Ngoài mui thuyền, gió sông ào ạt thổi. Những tàu chuối trên bờ đánh phần phật. Người đàn bà ngồi cạnh Liệu, chắc đang nuôi con, toả ra mùi sữa ngầy ngậy. Tự do đang rất gần trong cái khung cảnh vừa hung hiểm vừa giản dị, tức cười biết bao.
A! Ta sắp làm một người đàng hoàng! Ta sẽ gặp ai, nói câu gì, có được chọn món gì để ăn không nhỉ? Làm sao mà, có dễ đến chục lần rồi, mà tự do vẫn có cái mùi tươi mới quyến rũ đến vậy...