Khám Lớn Sài Gòn đã vào đêm. Ngọn đèn hành lang soi lờ mờ bóng người lính gác bất động. Thỉnh thoảng anh ta đứng dậy, xốc súng đi rảo qua các phòng giam. Tiếng ngáy, tiếng chép miệng, nghiến răng như một bản hợp xướng kinh khủng, khúc “sô lô” là tiếng rên của người bị đánh ban ngày.
Mò mẫm trong xó tối, Liệu lôi ra mảnh báo tiếng Pháp. Lợi dụng ánh đèn ngoài kia, và lúc người lính gà gật, anh đứng hẳn dậy xem. Đến một chỗ ngắc ngứ thì ngẩn người ra, cứ thế tần ngần, cuối cùng mò mẫm đến cuối phòng, lay người dược sĩ bị bắt vì tội làm thuốc giả.
-Này, hỏi tý đây. “Anh - đê - păng - đăng - xơ” là gì?
- Là “độc lập”, người dược sĩ lầu bầu, trở mình ngủ tiếp.
- Nhưng “anh - đê - păng - đăng” cũng là “độc lập” kia mà...
- Một đằng là tính từ, một đằng là danh từ. Còn gì nữa không?
- Còn một đoạn nữa nhưng tối quá.
Tiếng thì thào làm vài người thức dậy. Góc bên kia có tiếng càu nhàu:
- Thôi bố trẻ ơi, để chúng con ngủ ạ.
- Rõ là con mọt, đêm xuống mới cót két.
- Đ. mẹ thằng nào phá giấc ông... Mai cho một trận!
Một thường phạm nổi cáu làm Liệu lo lắng, lui về chỗ. Cái bọn chuyên lấy đấm đá đạp làm cơm ăn nước uống hàng ngày, anh ngán lắm, dù ngoài kia có lúc chỉ huy cuộc mít tinh cả vạn người. Mảnh báo lại dúi vào xó, để mai lôi ra.
Ấy là vào năm 1927, những hoạt động chính trị tạm lắng xuống với Liệu. “Lắng xuống” vì anh phải nằm bót sáu tháng, “trận phủ đầu êm dịu” của chánh cẩm Arnoux với kẻ quậy phá nguy hiểm. Nhưng khám Lớn có cái hay, là chỗ để bồi bổ sự học. Liệu rất tự tin khi dùng tiếng Việt và chữ Nho, nhưng lỗ mỗ về tiếng Tây. Vào khám thiếu tự do mà anh không phát điên, có lẽ vì nhờ cái đức “mọt sách bẩm sinh”.
Vào Nam Kỳ, xứ thuộc địa Pháp, sinh sống, thực hành chí hướng đều bằng chữ nghĩa, Liệu thấy có quá nhiều thứ mình còn thiếu. Thực dân sang đây đô hộ người Việt, đặt chế độ cai trị tàn ác khiến anh căm thù. Nhưng nước Pháp - với tư tưởng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, những nhà triết học của thế kỉ Ánh sáng - hấp dẫn anh. Trước đó, những “Tinh thần pháp luật”, “Khế ước xã hội”, rồi nay là “Tư bản luận”, “Lịch sử tiến hóa nhân loại”, “Lịch sử tư tưởng thế giới”... anh đã đọc qua tiếng Hoa của Thương vụ ấn quán Thượng Hải. Nhưng chỉ là ông đồ non mà làm báo ở Nam Kỳ thì thiếu hụt quá.
Thời làm chủ bút Đông Pháp thời báo, Liệu lấy tin khá nhiều ở báo chữ Tây. Trước khi đưa người biết dịch, anh hay tò mò “điểm” những từ quan trọng, đoán nội dung tin, hễ khớp với bản dịch mà thấy mình mò đúng thì khoái chí lắm. Liệu nhất định phải học tiếng Pháp. Không hệ thống cũng được. Nhưng lúc thì “cày” một nghìn ba trăm chữ về đám tang Phan Chu Trinh, lúc vợ đòi sữa cho con, đành chịu. Có ai ngờ được tập trung để học mà cũng khó thế.
“Dịp tập trung” ấy là sáu tháng khám Lớn ông Arnoux dành cho. Thày dạy có thừa. Bạn tù giỏi tiếng Pháp rất nhiều, dư thời gian và sẵn sàng bảo học, có khi hai ông thầy cãi nhau trước mặt trò. Khó hơn là tài liệu. Sách vở giáo trình thì Tây cấm ngặt. Đành gom nhặt những mẩu báo gói đồ tiếp tế, “nghiên cứu” rồi đem hỏi, có khi “nghiên cứu” cả trong hố xí. Bên ngoài, Tý rất chịu khó gửi cho anh những gói đồ tiếp tế mà báo gói nhiều hơn cá khô, muối lạc.
- Từ này nghĩa là gì?
- Trật tự câu này thế nào?
- Mệnh đề nào là chính?
Cái mạnh của Liệu là kiến thức chính trị, kinh nghiệm sống. Thày giáo bổ sung nghĩa từ, giảng văn phạm là anh “thủng”, trước biết ý nghĩa câu văn, sau có thông tin về ngoài đời.
Sang năm 1929 lại có dịp tập trung lớn, lớn chưa từng thấy, tòa Nam Kỳ cử đi bồi bổ kiến thức. “Khóa chuyên tu” dài những năm năm, “trường” biệt lập, không có vợ con eo xèo, đám nặc nô đòi nợ, cũng chả lo viết báo kiếm sống. “Trường” Côn Đảo cách đất hàng trăm cây số, Liệu được phân về “lớp” Hòn Cau còn hẻo lánh hơn, tha hồ tập trung.
Côn Đảo tuy xa nhưng không phải không có liên lạc. Nhân vợ một mã tà về Sài Gòn, Liệu nhắn Tý đang bán rau ở chợ Bến Thành gửi cho quyển từ điển Larousse. Thay cho những mảnh báo tiếng Tây, anh có hẳn người bạn nhỏ dầy cộp, cầm nặng tay, có điều giấu giếm khó. Một chương trình nghiêm ngặt được đề ra: mỗi ngày học 200 từ với đầy đủ nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa rộng. Gốc dừa, vườn chuối, bãi cát là vở, mẩu gạch, khúc que là bút, đâu đâu cũng chi chít chữ viết. Trong một tháng, Liệu học được 6000 chữ. Nhịp độ “nhồi” sau đó chậm lại vì cái đầu đã “đầy” dần. Hai năm ở Hòn Cau, vốn tiếng Pháp của anh tăng vùn vụt, chỉ trừ sáu tháng nằm liệt vì chuyến rong chơi xuống hang yến.
Có lần bạn tù trêu, thách Liệu nhớ hết nghĩa của một từ rất hóc hiểm. “Lời giải” đâu ra đấy làm anh em phục lăn, gọi anh là “tự vị sống”. Dường như chả biết sốt ruột, bí bức là gì, “nhai” từ điển chán, Liệu tấn công sang sách, từ chính trị sang văn học. Nghiền “Tội ác của Sylvestre Bonnard”, một tuyệt tác của Anatole France - đến mười lần, anh điên cả người vì chưa cảm nhận được cái hay trong câu chữ.
Do cách học đặc biệt này ở “trường Côn Đảo” mà khi “tốt nghiệp”, anh học trò đã đọc hiểu thông, viết chưa thạo, còn nghe và nói không được chuẩn. Nhưng thế cũng đã đủ để xông vào trường văn trận bút sôi nổi sau đó.
Cảnh tù ngục bí hãm sinh ra cho con nguời những phẩm chất tuyệt vời. Ông ðồ non nhất ðịnh phải học tiếng Tây và vẫn nhất ðịnh phải làm báo. Là thu kí tòa soạn Hòn Cau tuần báo, Liệu góp bài với Tiếng sóng bể, Bàn góp, những tờ báo viết tay ðộc nhất vô nhị trên thế giới. Ðây cũng là thời kì manh nha nhà viết sử tuong lai. Dựa vào trí nhớ, anh viết về cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên (1917), khởi nghĩa Yên Thế. Bạn tù Quốc dân ðảng Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Phúc, Nguyễn Phuong Thảo (sau này là trung tuớng Nguyễn Bình) xem và góp vào ðấy khá nhiều ý. Bên phe Cộng sản, Ngô Gia Tự, truớc cuộc vuợt biển bất thành, ðã bao ðêm ngồi ngoài bãi cát nghe anh tâm sự về mộng viết sử. Trần Huy Liệu không thể ngờ rằng sau này, sau những tột ðỉnh vinh quang, thãng trầm trên ðuờng ðời còn là cái cớ ðể anh trở thành nguời viết sử chuyên nghiệp.