“Tiền làm quan, đạt làm thầy”
“Với mục đích học để đi thi, người dậy cũng như người học đương thời có cần gì phải nghiên cứu ý nghĩa của những quyển sách, mà chỉ cần thuộc lòng từng câu, từng chữ, từng điển tích để làm bài. Nhận xét người hay một việc khác đều không được phép ra ngoài ý kiến phê phán của Tống nho và Hán nho”.
Nghĩ về sự lố bịch, vô tích sự của việc học hành cử tử thời đầu thế kỉ XX, Trần Huy Liệu nhận xét vậy. Nhưng đó là vào mãi sau này, khi ông năm mươi tuổi. Chứ còn bây giờ, hễ mó tay vào việc gì trong nhà, cậu út đều nhận những lời ngăn cản:
- Cứ để đấy, đã có các chị.
- Học đi con. Có nghe câu “chẳng tham ruộng cả ao liền, chỉ tham cái bút cái nghiên anh đồ” chửa? Con phải đỗ đạt rồi ra làm quan cho cả làng, cả tổng biết tiếng chứ.
Làm anh đồ, ông quan, cậu bé vắt mũi chửa sạch chưa đến đoạn thích thú. Nhưng những lời dạy bảo thấm vào cậu như giọt nước ngày đêm nhỏ vào đất cát, cằn cỗi mấy cũng có ngày sũng sịu. Đến nỗi mà trên đường từ Vân Cát đi Hạnh Lâm, qua cửa huyện nha Vụ Bản, Liệu giở ra cái trò làm ông bố vừa sợ vừa buồn cười. Đứng trước mặt anh lính gác, cậu ưỡn ngực ra, trỏ vào công đường: “Ngày sau ông lớn lên thi đỗ làm quan to gấp mấy cái ông huyện ngồi trong kia ấy chứ”. Chú lệ tròn xoe mắt vì ngạc nhiên. Ông đồ vội vàng kéo con đi, trong lòng không phải không thích thú.
Mỗi việc hàng ngày đều được dẫn ra một câu Thánh Hiền làm mẫu mực. Sách “Luận ngữ”, thiên “Hương đẳng” chép những cử chỉ thường ngày của Khổng Tử, Liệu thuộc nằm lòng.
- Con biết không, ông đồ bảo, trước kia có người chuyên đi nhặt giấy bẩn có chữ Thánh đem đốt đi, đến lúc đẻ con, sau lưng có bốn chữ bằng dấu chàm “Kính tích chỉ tự”, người con sau này thi đậu tiến sĩ.
Những lời răn ấy ngày một thấm, khiến mảnh giấy có chữ trở nên thiêng liêng, không dùng vào việc bẩn thỉu, để rơi xuống đất cũng không dám.
Thông thường, trẻ mới học đều phải qua “Tam tự kinh”, cuốn sách vỡ lòng. “Nhân chi sơ, tính bản thiện, tính tương cận, tập tương viễn” (1), tiếng trẻ khao khao trong lớp học dưới luỹ tre. Sau “Tam tự kinh” là hai quyển Sử thượng, Sử hạ và Hán sử, nghĩa là toàn sử nước người. Nhưng Liệu, giống cái cây bị nhấc lên cho mau lớn, phải bắc ngay sang các sách “Đại học”, “Ngũ kinh”, “Tứ thư” và “Bắc sử” trứ danh. Nhai nhải, nhồi nhét, nhồm nhoàm, thật chẳng khác con vẹt mấy tý. Nó làm cậu bé ra ông cụ non, khác hẳn chúng bạn cùng trang lứa. Mà thế thì đâu có gì phải xấu hổ, còn làm tấm gương, làm chỗ để trẻ khác học theo ấy chứ.
-----
(1) Ý nói con người ta sinh ra có tính tốt lành, do hoàn cảnh mới đổi khác đi.
Trong vùng, ông đồ Trình nổi tiếng về cách dậy nghiêm khắc và hiệu quả. “Thứ nhất hay chữ, thứ nhì dữ đòn”, có thế mới nên thân, cái lũ chỉ xếp sau “quỷ” và “ma” ạ. Sáng ra các trò đến trường, thầy chỉ đích danh anh nào ngủ sớm hay chịu thức khuya nhá chữ. Đêm mưa to gió lớn, ông xắn quần, bận áo tơi đi “tuần thú” những nhà có trò trọ học, bắt quả tang anh nào lười, anh nào lẩn. Đấy là việc dạy chữ, gọi như bây giờ là truyền bá kiến thức đại trà. Chứ khi dạy phép tắc đi thi, ông lại có những “món tủ” riêng cho trò yêu, nhất là hai con trai. Tỷ như những bài văn sách quá hay, thường đem ra bình phẩm ở tỉnh, huyện thì nên tránh đi kẻo dễ trùng lặp, mà hãy chăm rèn những bài loại nhì, loại ba thôi. Tỷ như, cha “giải” sẵn những đầu đề trong sách học đi thi rồi cho học thuộc, vào hạch khảo không quán quân cũng trúng tuyển. Đây là món gia truyền, “tử công phu”. Bao nhiêu cay cú, kinh nghiệm một đời thi hỏng, ông truyền cho con cả.
Nhồi lắm thì chữ phải đầy. Liệu, giống anh Chước, sớm nổi tiếng thông minh hơn người. Rất khổ là mỗi khi có bạn bè đến, ông bố cứ gọi con ra đối lại những câu người ta ra. Đối đáp trôi chảy nhưng đúng là cực hình, dù nó kích thích tính háo thắng, đợi chờ lời khen.
“Thằng Di nhà tôi đi sau mót lấy những chữ cậu Liệu nhà bác bỏ rơi, có mà cũng nhất tổng rồi”.
“Sau này đỗ đạt nên ông, đi võng che lọng đừng quên chúng tôi, cậu Liệu nhá”.
Những lời làm Liệu ta phổng mũi, giá ðứng ngoài giọt gianh, trời mua nuớc chui cả vào mũi cũng nên. Nguời ta mời cậu về học cùng, bảo học cho con. Muời lãm tuổi, cảnh nhà túng quẫn, Liệu ðã ði dạy học riêng, tuy không thành cua hái ra tiền nhu các thầy giáo dạy thêm bây giờ, nhung khi nải chuối, lúc dãm quả trứng gà, lộc ðã lỗ chỗ. Chua biết sợ, tự tin và liều lĩnh quá, bất chấp luật ðịnh, có lần Liệu ðội tên nguời khác ði thi các kì tuyển sinh và khóa sinh. Bấy giờ chua có thẻ thi dán ảnh, nguời thi hộ chỉ nộp quyển, khai họ tên, quê quán, kí tên, ðiểm chỉ là lọt vào ðuợc truờng thi. Việc làm bài càng dễ, vì bấy nhiêu ðòi hỏi của ðề chả ðáng là bao so với bồ chữ cậu tích cóp nên. Xong việc, nếu trúng tuyển sinh, Liệu ðuợc nãm ðồng bạc Ðông Duong, trúng khóa sinh ðuợc hai muoi ðồng, cả một gia tài so với công sức dạy học của bố, làm ruộng của mẹ và các chị. Nhung mà lo, mà hãi lắm. Mỗi lần xong lại hú vía. Bị phát giác ra, cả nguời thi hộ lẫn nguời thuê thi ðều tù cả.