Trượng phu chống kiếm đi thì đi
Đừng như nhi nữ lúc phân ly...
Liệu cứ tưởng mình lẫm lẫm ra đi được ngay, nếu vợ níu lại thì rút gươm cắt phăng ngay vạt áo mà tiến vào sương gió. Dễ như bỡn. Nhưng đâu có thế. Anh thấy mình cũng yếu mềm, lâm ly thổn thức như thói thường.
Để tang chồng hơn một năm, bà đồ cũng đi theo, tới cái chốn có cả con trai cả, để lại trên đời mớ cháu cho cậu út. Không phải chăm mẹ lòa, Liệu lại sớm gánh lấy vai bố. Hĩm Mẹt và cu Mo lọt lòng quặt quẹo, thiếu sữa mẹ dù Tý rất khoẻ mạnh. Có cách nào để vẫn vào với nhau mà không có con nhỉ? Đêm đêm, ngay khi hổn hển với nhau, vợ chồng trẻ ngay ngáy lo, sướng thế nhưng thêm mồm thêm miệng thì khổ lắm. Ông giời thế mà ác! Bỏ đấy mà đi tức là để nợ cho vợ, rất là không nỡ...
Nhưng không đi thì sao? Sinh nhai, dù cố cách nào không thể có cửa gỡ ra. Luôn luôn là cái gánh nặng lo ăn, cả đời không bỏ xuống được. Và cái làng quê thì quá lắm tục lệ, sống quanh quẩn không chịu được. Như anh Đích, tầm tuổi mình, nhìn cây cột ghi một năm ba chục cái giỗ mà mặt mũi bạc cả. Không trốn giỗ được nhà ai, mà ai trốn giỗ nhà mình thì cũng nằm lòng, sao luỹ tre làng nó thắt con người ta chặt vậy. Lên Hà Nội gửi bài cho tạp chí Nam Phong, Liệu thấy sao đời người đàn ông ở tỉnh nó nhẹ nhõm. Độc lập, không phải ra kính vào bẩm, thích chào ai thì chào; mình cũng có thể sống như bọn nhà báo tự do được lắm chứ. Khối thằng danh nổi mà thực lực đâu so nổi với mình, chỉ được cái cô đầu thổ đĩ là thành thần.
Thế thì đi đâu, thế nào, với ai, và nhất là lấy gì để đi? Liệu thiên về phía Nam, nơi cuộc sống thoáng đãng, ít “mùi” Nho học hơn Hà Nội. Sài Gòn, với những lề luật của xứ thuộc địa, nhất định là mở chứ không khép hờ hờ như đất lề quê thói. Và kiếm ăn hẳn là cũng dễ, “xúc cái rổ xuống nước cũng được mớ cá to” kia mà.
Và về phần chí hướng, Liệu cũng thấy khuôn khổ tự do trong Nam thích hợp với mình hơn. Dù những bài báo, kí nhiều tên khác nhau, đem lại chút vinh danh cho anh ở làng, nhưng Hà Nội vẫn cứ chật hẹp thế nào. Những tộc người từ một làng quê lên sống bằng một nghề thủ công, dựng đình đền, đem cả thành hoàng lên thờ, nó tạo ra cái bí bức. Liệu cũng đã bớt phớn phở với những tư tưởng của Lương Khải Siêu, thấy nó “nửa vời”, không đến nơi. Mà anh thì quá ghét thằng Pháp, thấy nó đứng đâu chỉ muốn đem đất chỗ ấy xúc đổ đi. Đi Nam, vào chỗ “mùi Tây” nặng hơn, tức là phải ngửi hít, chịu đựng những thói thực dân của chúng nó nhiều hơn rồi. Mà mình phải sống được chứ không thể thành cái xác bón cây cao su như đám phu mộ đang kìn kìn vào trong ấy...
Liệu thấy như bị bó chân. Lắm lúc mặt đần thối, đi đường làng dẫm cứt trâu, chả khác ông khóa Cảo. Cứ miên man chả rứt ra được. Cô vợ trẻ tất nhiên chả thích chồng lang bạt. Nghèo thì cũng có nhà có cửa rồi, ở nhà rau cháo có nhau chả hơn à...
Cú hích để anh rời khỏi quê nhà là từ ông Bùi Trình Khiêm, bạn thân anh Chước, một thời dạy Liệu học. Là nhà Nho có danh vọng nhất nhì vùng Vụ Bản, ông Bùi lại thấm thía con đường cụt của đạo Thánh Hiền, nhất quyết đoạn tuyệt với khoa cử ngay từ khi bỏ thi Hương. Học trò ông nhiều người đã chuyển theo Quốc ngữ, vào trường Pháp - Việt hay sang ngạch kĩ nghệ, buôn bán. Ít năm sau, ở Hà Nội, thông Vôi (Nguyễn Hữu Thu), ký Bưởi (Bạch Thái Bưởi) đã được coi là vĩ nhân khi rời bỏ đám nho sinh ưa bạo động, trở thành nhà tư sản hàng đầu Bắc Kỳ.
Ông Bùi yêu mến chú hậu sinh vừa là trò vừa là đàn em, bàn rằng: Nam Kỳ là đất thuộc địa, chính sách nới rộng, tư tưởng mở mang hơn. Ta vào đấy kiếm ăn dễ, lại đoạn tuyệt thói thủ cựu, có khi cậu như cá gặp nước.
*
Tháng chín năm 1923, tàu Caravellas, thường gọi là chiếc “Năm - sao - cụt” rời cảng Hải Phòng vào Sài Gòn. Lộ trình thường mất ba bốn ngày, gặp bão lốc sống được là may. Tàu chở bò xuất khẩu, khai thối không thể tả. Khách, là đám “đi thêm”, có vợ chồng ông Bùi, hai con, Liệu và vài anh bạn. Năm người trong “phái đoàn ông Bùi” được ngủ trong phòng chủ tầu có độc chiếc giường, giá thuê mỗi ngày một đồng bạc Đông Dương. Nhưng sự chật chội, nhớp nhúa và mùi nước đái bò không làm Liệu ngán mấy. Ngổn ngang trong lòng chàng trai hai mươi hai tuổi là bao nhiêu hi vọng.
Caravellas không phải tàu khách nên chả có ai tiễn. Hú lên hồi còi dài, nó đủng đỉnh rời bến. Đứng trên boong, nhìn cầu cảng xa dần, Liệu chợt cồn lên nỗi rưng rưng. Phía đuôi tàu là phố xá, chả nhìn thấy đâu cái làng Vân Cát bé tẹo nghèo khó, ngôi mộ của thầy mẹ, anh trai đã sang cát. Tý liệu có chạy gạo đủ cho các con cùng cháu, hay sẽ sang Thái Bình cắt rau má như chị Riệu. Và ngôi nhà, đã đôi ba phen cháy rụi...
Khỏi Đồ Sơn thì mọi tâm trạng bay biến. Chỉ còn nôn oẹ, choáng váng, sây sẩm. Có cái gì như lưỡi câu móc vào ruột kéo ra, rút tuột mẩu bánh mỳ hồi sáng. Một lúc, mật xanh trong bụng cũng không còn, nhưng cơn nôn khan cũng chả buông tha. Căn phòng nhỏ tanh tưởi, ai nấy nằm như lũ gián chết. Liệu ra ngoài đứng ụ tầu.
Sóng đâu mà lớn thế. Như núi chờm qua. Cả cây nước từ trên trời trút xuống. Thấy người khách trẻ hãi, vào buồng tránh rồi lại chạy ra, anh mạch lô bảo từ đây là chỗ lắc mạnh rồi. Chẳng có núi nào cản nên sóng từ xa cứ nhè tầu mà bổ.
“Phái đòan” bảo nhau cố chịu, bốn ngày đến nơi sẽ thư sướng, tha hồ ăn mặc gấp nghìn lần ở quê. Nhưng sao đám thủy thủ đều hối hả vậy, hết ca không ăn cơm mà chỉ nhá bánh mỳ, tiếp tục làm việc. Ai cũng thất sắc, vẻ khẩn cấp hiện rõ là thế nào. Nghe đâu máy hỏng, tàu bị thủng, phải hàn. Anh mạch lô trẻ, từ đầu lúc nào cũng nghêu ngao hát, chui từ buồng chỉ huy ra hét chõ vào buồng máy:
- Quan tư ra lệnh lúc nào kéo còi mới được cắt phao đấy!
Thôi. Thế là chết rồi! Bất đắc kì tử giữa biển khơi, đến nấm mồ cũng không có. Bà Bùi oẹ khan, cố cầu giời khấn Phật. Bất giác Liệu cũng “Nam mô A Di Phật... ”, “Lạy Bà Chúa Liễu, con là người làng Vân Cát đây, bà đừng vật chết chúng con ạ” (1). Trong cơn cồn cào là hình ảnh vợ con, những con người yêu mến ta và ta hằng yêu mến. Sự nghiệp ngắn quá thế. Ta mới có mấy bài thơ tỏ chí trên Nam Phong... Đời ngắn thế ư? Tình đoạn thế ư? Không được chết vì tay những kẻ ta hận thù thế này thì uổng quá.
-----
(1) Bà Chúa Liễu Hạnh quê Vân Cát, tương truyền hay làm dịch bệnh, thiên tai, hoả hoạn phạt kẻ bà không ưa.
Chừng như trời phật nghe thấy, nên sóng bớt to, bể êm hơn. Tàu đã chữa xong, bơm được nước ra, còn máy lúc chạy lúc hỏng. Lênh đênh, ngắc ngoải mãi ngoài khơi, thế nào mà cũng vào được tới Đà Nẵng sau bẩy ngày.
Ngày thứ mười sáu thì cặp Sài Gòn. Năm thầy trò lên bờ xanh xao, tanh tưởi. Nhưng chỉ sau bữa cơm no, Liệu đã có thể ngâm rống lên “Mãi mãi phồn hoa kim thế giới, Lịch triều khai thác cổ phong cương” (Thế giới ngày nay đầy mắt phồn hoa, bờ cõi ngày xưa đã từng khai thác từ triều vua này đến triều vua khác).