Cõi Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 535 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trở Lại Với Thơ

❊ ❊ ❊

Đứng đầu cơ quan “Quốc sử quán” của chế độ, có nghĩa là phải tấp nập với trước thuật. Viết những cái của riêng mình, đọc và nhận xét của anh em, đồng sự, chú ý đến đám trẻ…, đó là những công việc Liệu phải làm hàng ngày, thường là có ý thức, nhưng đôi khi là vô ý thức. Chẳng hạn buổi tối đi dạo, thấy Chương Thâu, một sinh viên mới ra trường đọc sách dưới ánh đèn đường tù mù, vàng vọt, ông gằn giọng đùa: “Cái thằng đồ Nghệ… Cái thằng đồ Nghệ…”, lửng lơ, chẳng ra khen chẳng ra nhận xét. Nhưng Chương Thâu thì nhớ, cho đến khi đã trở thành nhà nghiên cứu sử cận đại, “sở hữu” bao điều về Phan Bội Châu.

Những mối quan tâm khác: Lê Văn Lan, Nguyễn Linh, hai nghiên cứu viên trẻ của viện Sử học gặp tai nạn nghề nghiệp. Nằm trong tù, chắc chả phải khổ sở thiếu thốn lắm, Lê Văn Lan thêu trên miếng vải bông hoa xoè cánh, mấy chữ kính biếu bác Trần Huy Liệu, viền nó lại bằng những đường hoa văn rồi gửi “chiếc khăn tay” ra ngoài. Ngẫm nghĩ về tay nghề thêu ren đang lên của cậu nhân viên trẻ, Liệu thấy phát phiền. Lại đi tới đi lui, đến những địa chỉ này nọ xin bảo lãnh. Hai người được trở lại đời tự do, nhưng Linh bỏ nghề sử, đi rất xa về phía Nam sống, còn Lan vẫn theo đuổi cái nghiệp ngắm nghía chế độ phong kiến Việt Nam. Sang đến thế kỷ XXI, hình ảnh giáo sư Lê Văn Lan ngoại bẩy mươi đầu xanh đen “bồng bềnh lãng tử” còn rất quen thuộc với người xem truyền hình.

Là người đứng đầu hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Liệu rất muốn xây dựng một mạng lưới nghiên cứu, sưu tầm, chỉnh lý ở địa phương. Đi đến đâu, làm việc với cấp tỉnh xong, ông cũng cố gắng để thời giờ gặp gỡ những người có “xu hướng” đó. Nhiều khi chỉ là mươi lăm phút giữa hai cuộc họp, có lúc xin phép người lãnh đạo kéo họ vào bàn ăn. Địa phương yêu cầu nói chuyện là ông nhận lời, cả những lúc rất mệt. Trước mặt là những thầy cô giáo, nhân viên tuyên huấn, cán bộ văn hóa, ông phải gieo vào họ tình yêu lịch sử, lòng tự hào dân tộc. Những “hạt” sẽ rơi xuống, có cái “điếc”, nhưng thế nào cũng có cái nảy mầm, cho hoa trái sau này. Muốn “mùa màng” đảm bảo, phải có một tổ chức tập hợp họ. Những hội Khoa học Lịch sử địa phương ra đời, Liệu chả thấy tiếc công sức để lập những “ngôi đền nhỏ” như thế ở tỉnh.

Nhưng chả được toàn ý. Ông lại phải ngồi rất nhiều “ghế”. Làm thường trực quốc hội, phó ban nghiên cứu lịch sử Đảng, bên Mặt trận Tổ quốc…, đi giảng, nói chuyện liên miên. Được cái Liệu ngủ tốt, và biết phân phối thời giờ. Giữa hai cuộc họp, ông hí hoáy vài nhận xét vào sổ tay, trao đổi với tác giả có cách nhìn khác - những người làm ông thấy mình mới ra, như được trẻ lại. Đọc sách khi trên đang quán triệt cũng là một “thói hư” của Liệu, nhưng quả tình chả phải bao giờ ông cũng háo hức với những điều đáng phải nghe. Ông đã có quá nhiều cái nhìn riêng rồi mà… Những lời, những chữ cứ bay lượn trong thinh không hội trường, đáp xuống đâu đó quanh con người biết mình đã qua tuổi tráng niên, chạm vào vai, sượt qua mái tóc đốm bạc, rồi lả tả rơi xuống nền nhà.

Là phó chủ tịch hội Việt - Trung hữu nghị, Liệu lại có cái nhìn khá xét nét về quan hệ đôi bên. Lần đi Trung Quốc, dự tiệc, ngoại trưởng bên ấy là Trần Nghị ngồi cạnh ông hỏi nhỏ “Các đồng chí Việt Nam có sợ chúng tôi không?”. Liệu sững người như bị bổ một cú. Rồi câu trả lời ra rất nhanh: “Các đồng chí cứ nhìn lại lịch sử”. Thân thiết với nhiều cán bộ “xét lại” trong Đảng, Liệu có bao nhiêu “thế” phải giữ gìn, nhất là từ khi Vũ Đình Huỳnh “đi vắng”, Bùi Công Trừng biệt tăm trong các cuộc họp. Ông thấy chả được tự do khi nói, nhất là khi viết, đôi khi như có người giám sát. Mà ông có nhu cầu mơ mòng, ra lời những điều mình nghĩ. Thế thì chỉ có thơ, dù thơ chả phải cứu cánh lúc này.

Liệu làm thơ trở lại. Không hồn nhiên, thơ thới như xưa, bao điều không thể nói ra, nhưng những gì đã nói đều có thật trong tâm hồn ông. Làm sao ông có thể làm khác. Ông chỉ có thể “hộc ra thơ” kia mà. Thật ra thì nó đến cũng tự nhiên, chả phải “thần hứng” gì, vì trước hết ông là một người yêu nước, những sự kiện, thắng lợi trong cuộc chiến đấu giành thống nhất cho dân tộc hay một thắng lợi về xây dựng ở miền Bắc đều làm ông nức lòng. Và là một con người có trách nhiệm, ông cũng chả muốn trút vào thơ những phiền muộn, canh cánh. Liệu ý thức điều đó.

Có điều, thơ thường ra khi ông không ở nhà. Giữa đất trời tự do, thiên nhiên thơ thới, xa cách những ràng buộc hành chính, ông thấy mình hồn nhiên hơn. Mộc Châu, Cúc Phương, sông Đa - nuýp ở Slovack, núi Kim Cương ở Bắc Triều Tiên đem lại những lai láng để ra thơ.

Nhưng ông thấy mình đã cứng lại. Lập ý tức là ra người già mất rồi còn gì. Những câu không đến nỗi vô hồn nhưng nhạt nhẽo hơn rất nhiều cái đoạn Ô kìa cô gái sông Đen, non cao rừng thẳm con thuyền đợi ai còn trẻ. Thời gian khắc nghiệt thật, đã cho ông nhiều thứ, nhưng lại lấy đi sự nồng nàn, những cảm hứng “vô mục đích”. Và ngược lên giai đoạn thanh niên, sao mà Liệu có thể sôi sùng sục, nhiều nhiệt huyết tới liều lĩnh đến thế.

Thơ Trần Huy Liệu ở giai đoạn “trọng trách bề bề” rõ là đã không còn nhiều cái riêng như trước. Thời tù đày, ông còn có thể cười khúc khích trước một quan sát hóm hỉnh. Giờ thì không thế nữa. Thơ là sự thách đố lớn nhất. Khi đã trưởng thành, con người ta thường khôn ra, tỉnh táo, lịch lãm hơn, nhưng tiếc chừng nào cái chú bé ngơ ngác, dại khờ của một thời. Chả phải trong tiếng Pháp, tính từ prosaique - văn xuôi - còn một nghĩa khác là “tầm thường” đấy ư. Có nghĩa thơ mới khó nhất, là tột đỉnh.

Trần Huy Liệu có ý thức ra điều ấy không, chả biết được. Nhưng chắc chắn ông biết mình không làm thơ như một thi sĩ thuần túy. Ông là nhà tuyên truyền, làm lắm khi là để phục vụ. Đôi khi ông nói chí, dù chả khoái lắm cái quan niệm “thi dĩ ngôn chí” của nhà Nho. Nhưng ông đã nghĩ về thơ như nó phải là.

Liệu nhận được bản thảo tập “Thơ Sóng Hồng” của Trường Chinh, đang giữ những trọng trách lớn. Là người nghiêm cẩn, “đánh dấu chấm trên chữ i”, ông quan tâm, đồng thời có trách nhiệm lãnh đạo khối tư tưởng, khoa học xã hội. Sau những mật thiết thời lao lung, đến hòa bình, Liệu đụng nhiều “ca” với Trường Chinh. Nhưng thơ lại khác. Nó chả phải chính trị, học thuật, quan điểm nói ra có khắc nhau cũng đỡ đụng chạm hơn. Vả chăng, Liệu quen rồi cái thói “không nói ra thì thôi, đã nói thì đúng điều mình nghĩ”. Dầu sao giữa hai người còn rất nhiều liên hệ chung, bên tâm trạng xa lánh vẫn còn sự nể trọng. Liệu đọc kĩ tập bản thảo “Thơ Sóng Hồng”, cẩn thận đánh dấu, rồi trả lời.

Anh Trường Chinh

Hôm nay chủ nhật, tôi mới có thì giờ và cũng rất hào hứng ghi một số ý kiến sau khi đọc tập thơ của Sóng Hồng.

Như đã nói chuyện với anh, tôi đọc tập thơ này, nói chung, thấy thích; nhưng tiếc rằng không có bài nào đọc thích từng câu, từng chữ từ đầu chí cuối mà nhà Nho gọi là “toàn bích”, vì rải rác nó cứ vấp phải những câu, những chữ kém thi vị. Anh đã nghe nhiều dư luận về tập thơ này chưa? Có thể có hai thiên hướng. Một cho rằng, anh có làm thơ thì cũng là “chiến sĩ làm thơ” thôi. Một số đông khác nghe nói anh làm thơ, thì ngạc nhiên nên tìm để đọc và vì biết tác giả trên mọi phương diện khác nên sẵn sàng khen hay. Cháu Kính, con dâu tôi cũng vào loại ấy. Tôi còn nhớ trong một số báo tết của báo Tin tức bị cấm năm trước, có mấy bài thơ của Trần Đình Long (1), tôi bằng lòng đăng nhưng vẫn cười rằng thơ theo kiểu “dùi đục chấm mắm cáy”, còn anh thì vừa đọc vừa gật gù khen hay. Tôi và Trần Đình Long cùng nháy nhau cười khúc khích...

-----

(1) Trần Đình Long: thành viên nhóm “Tin tức”, tờ báo Cộng sản từ 1936-1939, thời kì Trường Chinh làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau này Trần Huy Liệu viết trong kháng chiến chống Pháp: “mất Trần Đình Long, tôi còn Hải Triều. Bây giờ tôi mất nốt Hải Triều”.

Trở lại tập thơ đầu lòng của anh mới ra đời. Bài Cùng bạn đọc tôi không thích lắm vì nó có giọng chiến sĩ hơn là thi sĩ. Trước khi đọc, tôi cũng mang cái chủ quan là anh mạnh về ý chí mà nghèo về tình cảm nên làm thơ sẽ không hay. Nhưng đọc rồi thì thấy anh quả có một tâm hồn thơ. Một bài mà tôi thích nhất có lẽ là bài Nhớ bạn làm ở Nam Định mùa xuân 1927, vì nó thanh thoát, nhẹ nhàng, dạt dào tình cảm. Đọc bài Ở căn cứ địa Việt Bắc, những câu trên nói lên được ý chí, khí phách, tình cảm rất thích, nhưng vấp phải câu: “Trường kì kháng chiến gian nan, con đường cứu nước cứu dân sáng ngời” thì tôi bị cụt hứng. Bài Đi họp cũng có nhiều câu thú vị, những thỉnh thoảng có những chữ kém vị, như “xuống đèo vừa mới tối”, và “thấp thoáng ở sườn non”. Hai chữ mới và ở nếu được đổi bằng chữ khác thì thú hơn. Bài Thư nhà, hai câu “Quê ta cải cách xong rồi đó / Tiền tuyến anh nên gắng lập công” thì thật là lời nói chớ không phải là lời thơ. Trái lại, hai câu cuối cùng thì rất mộc mạc, rất nông dân và cũng không kém thi vị “diệt xong quân địch ( sao không đề là quân giặc ) về thăm vợ / thăm ruộng, thăm làng, thăm bãi dâu”. Bài Dọc đường số 5 cũng là một bài hay và không có một “hạt sạn” nào làm mất thi vị. Bài Ở Mạc Tư Khoa ra về làm năm 1960, tại sao không có một ý gì nhắc đến cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc của ta? và nhắc đến như nhân dân An - giê - ri anh dũng mà không nhắc đến cuộc trường kì kháng chiến còn nóng hổi của ta? Bài Gửi qua Bến Hải cũng như Thăm In - đô - nê - xi -a có những câu chưa hả lắm, nhưng cũng là những bài chứa nhiều thi vị. Bài Từ trên núi cao nhìn xuống Vĩnh Phúc, bên những câu rất thiết thực nhưng không kém thi vị, già dặn như “mong sao biến được chí căm thù, thành lúa, thành ngô, mùa bội thu, thành mức chỉ tiêu, giờ cứu nước, thành đôi cánh mới vút trong mơ” và “ngói đỏ reo lên đời sống mới, cây rợp bên đường thôn Lạc Trung” - thì lại có không ít những câu chẳng thơ chút nào, như “đường lối trung ương đã thấm rồi; then chốt thành công cần nắm vững; ăn thua phát động sức muôn người”, hay “Phù Lập làm phân thật khác thường, Phượng Trù thủy lợi đáng nêu gương. Chăn nuôi tập thể Hòa Loan giỏi”, hay “mong sao luyện tập cả ngày đêm, giặc đến là ta chặt cổ liền. Thuốc súng có khô (?) cây mới vững, sẵn sàng mọi mặt, phóng tâm thêm”, hay “Chiến đấu lại càng hăng sản xuất, quyết tăng tiềm lực diệt Giôn - sơn”, hay “Bến Tre xứng đáng với thành đồng, ta gắng thi đua kẻo phụ lòng”, và “anh hùng Vĩnh Phúc về ra mắt”. Trong bài này anh có câu “mong sao kĩ thuật thắng nhân tuần, không hiểu anh dùng chữ nhân tuần theo nghĩa nào? Theo chữ Nho thì nhân tuần là quen theo nếp cũ, lần chần, rề rà, lề mề... Bài Ngọn lửa Mô - ri - sơn kém gợi cảm vì chất thơ ít. Những câu như “vì cuộc đấu tranh tiêu cực của anh, đang truyền phẫn nộ cho quần chúng nhân dân”, hay “ đang thúc giục những ai có lương tri, phải bóp đầu suy nghĩ để tự trả lời… rồi ai nấy sẽ tìm ra câu trả lời đúng nhất” cố nhiên không phải là thơ! Bài Diệt phát xít là một bài diễn thuyết trước quần chúng hơn là một bài thơ. Những câu “… Cứu cho nhau khỏi nô lệ dã man thời trung cổ, rồi tiến lên vác búa đập cho tan - dân Việt Nam hỡi! Dân Việt Nam hỡi! - Thống nhất để tiêu trừ quân Pháp, Nhật… Chúng ta phải tham gia cùng chiến đấu… Gương anh hùng sáng rực cả non sông” có thể dùng làm bài văn vần tuyên truyền cho người ta dễ thuộc lòng. Cuối cùng là bài Quyết thắng, đọc cái tên của nó cũng có thể biết nội dung của nó. Nhưng có mấy câu về ý nghĩa, tôi thấy trong chỗ lực lượng đối sách giữa ta và địch, ta ngày càng mạnh hơn thì đây chưa phải đã là một quy luật nhất định. Và, câu “sức triệu người là sức mạnh vô song”, tôi e người ta đọc chữ triệu sẽ có ấn tượng là con số thì không đúng.

Trong những bài thơ trong tập, nếu đem ra đọc ngâm nga thì tôi thích bài Đi. Vì nó có nhiều ý thơ lại theo thể thơ Đường bốn câu. Những câu “Xao xuyến lòng anh bao ý thơ, muốn bắt quang âm ngừng lại chút, cho thêm nồng thắm những ngày xanh, lòng ta man mác, gió bay bay, câu chuyện tâm tình lẫn nước mây” thật là đẹp!

Bên những ý bạo, lời mới, tác giả cũng còn những ý, những câu của một thời đương qua. Ví dụ: “Cho bừng lửa hận, biết tay anh hùng” trong bài Lấy củi, “Hãy tạm ngừng gót hải hồ” trong bài Xuân đã về. Đọc những bài này, tôi nhớ lại những bài xướng - hoạ của Thu Tâm - Hải Khách (2)trong những năm 1933 - 1938. Nhất là câu “Buổi ấy ra đi chí khí hùng” trong bài Buổi ấy, tôi gợi nhớ lại những liệt sĩ U, Yên trong thời Xuân Thu chiến quốc!

-----

(2) Thu Tâm: tức Phạm Thị Bách. Hải Khách: một bút danh của Trần Huy Liệu.

Tôi muốn viết dài hơn nữa nhưng mấy hôm nay huyết áp hơi cao phải dừng lại. Nói tóm lại, tập thơ của anh đã nói lên được những Tiếng lòng của anh bên những tiếng đanh thép mà mọi người quen nghe. Chắc anh cũng cảm thấy vui và cũng muốn biết các bạn đọc thơ mình có ý kiến gì. Tôi đã làm cái việc mà tôi muốn làm. Anh ạ, tôi thì tôi muốn rằng các đồng chí của ta mỗi người mỗi việc, nhưng ai cũng phải biết thưởng thơ và nếu có thể được thì làm thơ cho tâm hồn được thư

sướng hơn, đời sống mạnh mẽ và đậm đà hơn, có thể nói là yêu đời hơn.

Thân ái

Trần Huy Liệu

Tập “Thơ Sóng Hồng” ra đời với số bản in lớn, có bài được đưa vào sách giáo khoa. Báo chí khen. Các nhà phê bình nhấn mạnh mặt nội dung tư tưởng, một điểm mạnh của nhà thơ cách mạng. Tức là khác nhiều so với những nhận xét của Trần Huy Liệu. Ông có cứng quá, “gồng” mình lên để được tiếng dũng cảm trước lãnh tụ không? Hẳn là Liệu chẳng phải làm ra thế. Đơn giản là khi đối diện với thơ, ông thấy mọi người đều bình đẳng, ý kiến cá nhân là quan trọng nhất chứ không phải ý thức chấp hành kỉ luật. Thái độ tôn trọng, thành thật đó, ra lối giữa hai người bạn cũ, được Trường Chinh trả lời bằng bức thư cũng rất

tôn trọng.

Hà Nội 28-10-1966

Anh Liệu, cảm ơn anh đã cho những nhận xét về Thơ Sóng Hồng và đã nhặt cho một số hạt sạn trong tập thơ đó.

Lúc nào hứng lên mà có thì giờ hoặc cách mạng yêu cầu thì tôi làm thơ. Cũng ít có thì giờ suy nghĩ, chọn lọc hình tượng và mài giũa về lời thơ. Cho nên có nhiều hạt sạn trong thơ của tôi, đó là điều tất nhiên. Sau này nếu còn làm thơ tôi sẽ chú ý những ý kiến của anh để tránh những cái mà trong thơ không nên có, tránh một cách tương đối thôi, vì dù sao giọng văn lý luận, văn chính luận của tôi cũng đã in ít nhiều dấu vết trong thơ tôi, và chủ quan mình quen đi rồi, cho nên tự mình cũng khó phát hiện những chỗ “ít chất thơ” của mình.

Có một cách là đưa các anh em nhà thơ xem giúp và góp ý kiến. Nhưng sợ phiền các anh thôi, trong thư anh có vài điểm nhỏ tôi cần giải thích:

- Trong câu “Thuốc súng có khô cày mới vững” (bài Từ trên núi cao nhìn xuống Vĩnh Phúc), anh đánh một dấu hỏi sau chữ khô. Đây là tôi dùng cách nói Âu Tây. Nhân dân các nước Âu Tây thường nói “giữ thuốc súng cho khô” (tenir la poudre seche) nghĩa là phải luôn luôn cảnh giác.

- Trong câu “Mong sao kĩ thuật thắng nhân tuần”, chữ “nhân tuần” đây là theo nếp cũ, lề thói cũ kĩ, bảo thủ, lạc hậu; chữ Pháp là Routine, ý tôi muốn nói cần mạnh dạn làm kĩ thuật, đừng bảo thủ.

Thường nhận xét về thơ (hoặc một thể loại nào đó) người ta nhận xét về tính tư tưởng và tính nghệ thuật. Nếu anh có thì giờ góp thêm cho về mặt nội dung tư tưởng nữa thì tốt.

Thân ái

Thận

Trường Chinh

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.