Những dự cảm lớn dần, trở thành nỗi lo, rồi hiển hiện trước mắt mối nguy hiểm. Nguyễn Thị Năm bị bắn. Đấu tố ngày càng khắc nghiệt. Không ít đội “xâu chuỗi”, “bắt rễ” nhầm, để người ta đem tư thù, tỵ hiềm ra trị nhau. Hệ thống cán bộ ở cơ sở lung lay. Đêm đêm, có những bí thư Cộng sản bị lôi đi kết tội “Quốc dân đảng”, vợ con không bao giờ thấy trở về. Không khí làng quê u uất, căng như có quả bom tấn gài vào.
Nhức nhối nhất, là khi “lũ” tràn về gia đình thứ hai bên kia Tam Đảo. Dù có ba em - một đã hy sinh - và một con trong quân ngũ, đóng góp thóc gạo cho bộ đội, dù căn nhà thường xuyên nuôi ăn cả tiểu đội, Sửu vẫn bị quy địa chủ vì mấy chục mẫu ruộng cụ đốc Ngọc mua bằng tiền viết sách trước kia. Bị cô lập, thiếu ăn, bà ho lao, thổ ra máu mà không có tiền chữa chạy.
Lớp chỉnh Đảng, những cố gắng để ra đời một cơ quan nghiên cứu khoa học... khiến Liệu không về thăm Sửu được. Chả có tin tức gì từ bên kia Tam Đảo của mấy mẹ con. Mà cuộc phát động quần chúng đánh địa chủ đã bước vào cao trào. Nghe rầm rầm tin đấu tố đâu đó, lòng ông cứ như có lửa cháy. Phải dứt ra mà đi thôi, dù việc đang bề bề.
Qua mấy quả đồi, thung lũng, cái ấp bé nhỏ dưới chân núi Con Voi hiện ra. Ao rau muống, ai đang nhấp nhô hái, dáng tiều tuỵ mà quen quen. Không thể ngờ được. Sửu của ông, bắp chân trắng xanh ngấn bùn. Một cảm giác khó diễn tả, nghẹn ngào pha chút vui vui. Thế là Sửu đã gần người lao động hơn. Nhưng cái gần đó có giá gì không?
12-8-1953
... cả một cảnh tượng điêu tàn và hiu quạnh hiện ra trước mặt cha. Con và chị Quang đương nằm chơi trên giường. Hãy biết các con vẫn sống, vẫn mạnh khoẻ. Mới đầu, con không nhận biết cha, mà gọi là “ông cụ”. Cha vừa buồn cười vừa có cảm tưởng như Lưu Nguyễn xưa kia từ Thiên Thai trở về, xa lạ với cả mọi người yêu dấu!
Cha muốn biết ngay những biến thiên trong gia đình, nhưng không muốn hỏi và thấy ngại ngùng khi hỏi đến. Vì biết nó sẽ không hay gì. Ở đây đội công tác phát động quần chúng chưa về làm việc. Nhưng nhà ta, cũng như các địa chủ khác trong làng, đã bị cấm không được tự do đi lại. Sự thực, mẹ con có phải là địa chủ chính thức đâu. Vì ruộng là của chung gia đình mà cậu Bích, cậu Khôi đều đi công tác vắng nhà, nên việc cai quản gia đình rơi vào tay mẹ con...
Gia đình ta hiện nay như ở trên một hòn cô đảo, cách xa với đất liền rộng lớn là đại chúng nhân dân. Những người thân thuộc trước kia đều không dám bén mảng tới, vì sợ mang tiếng xấu câu kết với địa chủ... Ngay đến cả việc cha về cũng ngoài sự chờ đợi của mẹ con. Vì mẹ con tưởng rằng cha sẽ không dám về thăm trong khi phong trào đương sôi nổi... Mẹ con từ trước kháng chiến vẫn sống xa nông thôn. Từ khi lên đây đối với những người nông dân xung quanh, mẹ con vẫn giữ được cảm tình. Không chiếm đoạt ruộng đất. Không cho vay lãi. Không đánh đập chửi mắng ai. Không giựt công ai. Không mắc nợ máu với nông dân. Nói cho đúng, mẹ con ở trong giai cấp bóc lột, cái giai cấp mà nông dân coi là thù địch, phải đánh đổ nó cũng như tiêu diệt đế quốc. Tuy vậy, cộng với những công tác phục vụ kháng chiến (nhà có 3 người đi bộ đội và thường xuyên góp khá nhiều cho kháng chiến), nhà ta vẫn được liệt vào hạng thân sĩ yêu nước và tiến bộ. Có chăng, chỉ phải thanh toán với nông dân một khi tính ra rằng có nợ với nông dân thôi. Mà chắc rằng cũng không nhiều.
Khi viết những dòng này, trong một quyển vở riêng cho con trai út mới 26 tháng tuổi, Liệu thấy hơi buồn cười: chính cha lúc này đương phụ trách kiểm tra trong đoàn chỉ đạo công tác ruộng đất tại Việt Bắc. Ông không ngờ mình đang nhầm. Đám đông, nhất là đám đông thuần phác, bị vô thức kiểm soát, khi được phát động một chiều hướng nào, sẽ phát tiết ra những năng lượng khổng lồ, tăm tối hay tích cực tuỳ thuộc người khơi mào. Đến một lúc “âm binh” trỗi dậy mạnh mẽ quá, chính người đốt lửa cũng thành bất lực, đứng xuôi tay nhìn thực tế nghiệt ngã.
Ngày 7-5-1954, trận chiến ở Điện Biên Phủ kết thúc. Cả thế giới thán phục chiến thắng của bộ đội Việt Nam. Dân tộc tự hào. Ý nghĩa của sự kiện là quá lớn, nhất là trong mắt con người vừa làm chính trị, vừa bắt đầu nghiệp nghiên cứu lịch sử. Nức lòng với tư thế mới của phe cách mạng, Liệu lại có những ấm ức khác. Tin kí hiệp định Geneve về Tân Trào, ông tốc lên Hồ Chủ tịch, Trường Chinh thắc mắc “đứng về tương quan lực lượng các bên thì ranh giới quân sự phải lui xuống phía Nam mới đúng chứ. Chính địch cũng thừa nhận ranh giới chỉ lên được đến vĩ tuyến 14 - 15 là cùng, thế mà ta chịu kí ở vĩ tuyến 17, phí bao nhiêu xương máu đấu tranh của quân dân”. Lãnh đạo giải thích, nhưng làm sao có thể hở cho một người “xốc nổi về chính trị” cái điều ranh giới ở đâu thì các cường quốc đã quyết định rồi được. Con suối ở Tân Trào chiều tháng 7 - 1954 ấy đến là lắm thác lũ.
Dù sao, trước mắt là hòa bình rồi. Ngày về Hà Nội đang đến, với vô vàn hạnh phúc, hạnh phúc quá giản đơn sau những ngày hầm hố bom đạn, có khi chỉ là giấc ngủ ấm, bữa ăn no. Liệu sẽ được rảnh rang trong việc đèn sách, làm việc theo chí hướng, đào sâu chiêm nghiệm cái mình thích. Hòa bình đem lại bao nhiêu thứ, thế mà trước ngưỡng cửa của nó, lòng Liệu lại ngổn ngang.
13-5-1954
Chiều nay tại cơ quan tổ chức ăn mừng chiến thắng Điện Biên Phủ bằng những hình thức ăn chung, nói chuyện, mặc niệm các chiến sĩ hy sinh, hô khẩu hiệu, ca hát… Trong lúc này, mình nhớ đến Diễm đã dự chiến trong trận Điện Biên Phủ, có lập công theo như lời hứa hẹn gửi về nhà không? Mình cũng nhớ cả Chiến, Quang và mẹ nó đương sống trong những ngày ảm đạm ở Bồ Tỉnh, không được cùng toàn dân reo mừng trong trận chiến thắng lịch sử này.
14-5-1954
Mấy hôm nay mình phải trấn tĩnh lắm để làm việc như thường. Hôm qua Nghiêm về báo cho biết tình hình Sửu và các con đương sống những ngày đau khổ mà chưa có lối thoát. Sửu, con người hiền hậu, yêu nước và ủng hộ cách mạng, bây giờ không may lại là “kẻ thù” của nông dân mặc dầu vẫn được nông dân công nhận là không có tội ác gì. Hai đứa con đáng thương của mình là Quang và Chiến cũng do đó, sống không chỗ dựa, thiếu thốn, bơ vơ mặc dầu chúng nó vẫn không cảm biết những sự vật xẩy ra trong gia đình nó. Mấy tháng trước, mình đã đề việc này với TƯ và định rõ thái độ của mình. Thái độ ấy là trong cuộc tranh đấu giữa nông dân với địa chủ, mình phải đứng về phe nông dân, nhưng vẫn phải có nhiệm vụ đối với con, với vợ. Khốn nạn cho Sửu, tự mình không phải là địa chủ chính thức, mà chỉ là nạn nhân của một gia đình ăn tiêu phung phí rồi đến ngày cuối cùng, một mình phải chịu sỉ nhục trước nông dân trong khi không thanh toán nổi số tô phải thoái. Thương hại cho Chiến và Quang, nếu hoàn cảnh thuận tiện được ở chung với cha thì làm gì phải sống trong cảnh đau thương hiện nay. Hôm trước, viết cho Sửu, mình đã dặn phải thành khẩn với nông dân, bình tĩnh xử trí trước mọi sự biến và luôn luôn tin tưởng vào tương lai cải tạo của mình. Đối với các con, đừng để chúng nó có một ấn tượng xấu trong khi chúng nó là dòng dõi của một gia đình cách mạng, là thế hệ xã hội chủ nghĩa sau này. Cũng may là các con còn thơ dại chưa biết gì. Theo Nghiêm thuật lại, thì Quang vẫn nhập bọn với nhi đồng, mỗi buổi chiều đi hô khẩu hiệu: Đả đảo địa chủ! Chiến nằm ở nhà cũng hô theo. Cũng may là các con tuy thiếu thốn nhưng vẫn khoẻ mạnh. Nghiêm đem tiền phụ cấp về và mang theo cho các con một chai đường. Quang viết thư lên, bức thư đầu tiên gửi cho cha từ khi biết chữ quốc ngữ, đã khoe là ăn đường ngon lắm. Chiến thì vẫn khoe đòi Nghiêm cho lên với cha. Cha nghĩ đến mà se lòng lại.
Mình tự hỏi: tình cảm của mình có gì là yếu đuối không? Trong lúc toàn dân đương phấn khởi về chiến thắng Điện Biên Phủ, sao mình vẫn không quên được những thường tình gia đình? Mình thì cho rằng tình cảm này vẫn là tình cảm của một con người, nó rất tự nhiên và hợp lý. Sao mình lại không thương con và thương vợ, miễn là mình không luỵ về tình cảm để hại đến công tác. Trong cuộc tranh đấu, mình đứng về phe nông dân, nhưng vẫn biết rõ những tham lam ích kỉ của nông dân, nhất là khi đức tham lam ấy được nuông chiều.
17-5-1954
Đến hôm nay mình mới thảo xong tập giới thiệu lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam để tuyên truyền quốc tế. Nhưng còn phải để cho ban Sử - Địa - Văn duyệt lại. Làm xong việc này, mình cũng đỡ thấy sốt ruột đôi chút.
Nghiêm hôm nay từ Bồ Tỉnh về đem theo tin tức của Sửu. Tình hình còn nghiêm trọng hơn. Sửu nói vẫn muốn sống để gần các con và thành khẩn với nông dân trong việc thoái tô. Nhưng can đảm hết rồi, sức lực kiệt rồi, tiền của không còn gì nữa, không chắc có còn sống được để gần con gần chồng dưới áp lực của nông dân không? Sửu còn gửi lên trả mình một gói nhật kí, thư từ và kỉ niệm vật để mình giữ, vì giữ ở dưới ấy lúc này không có gì là đảm bảo cả. Sửu phải xa lìa những vật liệu đã hòa vào đời sống này chắc là khổ tâm lắm. Vấn đề sống chết của Sửu đã đề ra rồi. Mình có còn giữ được bình tĩnh không? Về bề ngoài, mình vẫn làm việc không ngừng. Nhưng ban đêm, mỗi khi nghĩ đến thì đến sáng không ngủ được.
(Nhật kí quyển 448, lưu trữ Viện Sử học)
Vào cuối cuộc kháng chiến, Sửu không còn gì để chạy ăn. Không thể về thăm - chẳng ai được phép làm việc ấy, Liệu viết thư lên Trung ương, xin đón Quang, Chiến lên Lạng Sơn gửi người bà con bên Sửu, lý do là “các con tôi có tội gì đâu”. Trong ngôi nhà tranh dưới chân núi Con Voi còn trơ lại “hoa khôi phố Hàng Đường” dạo nào với căn bệnh hiểm nghèo.