Cõi Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 535 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nổi Loạn

❊ ❊ ❊

Bà Hai Cảo làm đồng về, vứt thịch mớ rau lợn cạnh cối đâm bèo, mặt mũi đỏ gay. Lên nhà trên, bà thấy ông khóa đang nhâm nhi, đùi rung tít. “Phải nghèo, phải sạch mới chân nho... ”, ông cao hứng ngâm. Bà khóa rít lên:

- Sạch với sẽ gì. Có ra ngoài kia mà xem, đứa nào nó viết gì lên tường nhà ông kia kìa...

Cầm sách Thánh Hiền

Mồm liền lẩm nhẩm

Đi ra ngoài ngõ

Giẫm phải cứt trâu

Trên bức tường gạch mủn lỗ chỗ nhà ông khóa có mấy dòng nguệch ngoạc bằng vôi, có lẽ viết đêm qua. Giận run lên, nhưng nếp ứng xử của người quân tử không cho phép ông khóa mở mồm chửi đứa thối miệng. Tốt đẹp phô ra, chứ xấu xa bới tung lên để cả làng biết càng thẹn chứ ích gì. Nên chi ông quay vào sai người nhà đi xin vôi quét dấp đi. Khốn thay, người nhà còn có ai. Đã gọi là bần nho mà lỵ!

Ông khóa Cảo bèn lấy dao rựa cùn ra cạo. Cả đời đi học, chừng nay bốn chục còn đi học, cạo mất sức lắm. Mồ hôi toát ra, vừa đẩy con dao trên tường mủn, ông vừa lầm bầm chửi đứa phá thối. Nó chê ông học nhiều mà ăn hại đây mà. Thằng nào nhà có đỗ đạt mới hoắng thế...

Trong khu vườn bên kia ngõ, mấy chú choai vắt vẻo trên cây ổi đào ríu ran. Khoái nhất dĩ nhiên là Liệu, tác giả mấy câu vè nghệch ngoạc.

- Tao giẫm con bọ nẹt rát quá chúng mày ơi.

Liệu đứng trên cành rung rùng rùng như có bão, reo đắc thắng. Mấy đứa khác nắc nỏm:

- Thằng Liệu giỏi, nghĩ tợn thật.

- Kể thì vè chưa chỉnh nhưng nghĩ thế đã sướng chán.

- Này, ông tướng có vợ rồi đấy nhá!

Câu nói sau làm Liệu cụt hứng. Tụt xuống gốc, cậu lững thững về nhà, bắt đầu thấy hối. Thì ông khóa Cảo dốt nát, học nhiều mà chữ nghĩa tối mò mò, giã cối gạo, chẻ cành củi không xong. Nhưng thế thì có tội gì mà bêu? Vả lại ông còn là bạn anh Chước, là sinh đồ của thầy mình. Nhưng ai bảo ông ấy gạo, gạo quá, ngày đêm lẩm nhẩm mà có hiểu ý nghĩa gì đâu. Những ý nghĩ nửa ân hận nửa hả hê theo Liệu về nhà, nơi Tý đang đợi cơm.

Từ ngày anh Chước, rồi thầy mẹ theo nhau về chín suối, gánh nặng gia đình đặt cả lên vai vợ chồng Liệu. Con gái Xuân, gọi là cái Mẹt, và cu Chiểu, tức thằng Mo ra đời, lại thêm các cháu con anh Chước, gia đình bị đẩy vào chỗ không ngóc đầu lên được. Lúc nào cũng lo ăn. Cả nhà là một đoàn tầu luôn luôn hối thúc như cảnh tượng ngoài ga Gôi, bắt phải ngược xuôi bươn chải.

Bình sinh Tý đã như người đàn bà ra đời để làm lụng. Quần quật với mấy sào ruộng, tối ngày về lại chăm vườn tược, gà lợn, Tý không thấy nhọc, chỉ thỉnh thoảng eo xèo vì mồm ăn lắm quá. Nhưng Liệu thì khác. Ngược xuôi Thái La, Công Luận, Hạnh Lâm gõ đầu trẻ, ngày chạy ba bốn lớp, cậu không thể trốn được tuổi ngựa non. Ông thầy đôi tám không chững chạc hơn trò là mấy, thi thoảng còn xà vào đám chọc phá của mấy sinh đồ đã lộc ngộc vỡ tiếng. Phải giữ lễ trước các bậc nho cựu trào, làm bộ trịnh trọng trước học trò là một cực hình. Lắm lúc Liệu phải ra vườn đá bình bịch vào bụi chuối hay nhẩy cỡn lên. Chí ít, là ngâm mấy vần thơ đầy hào khí nhưng bi phẫn của kẻ không gặp thời, những câu Tý chỉ cho là “dớ dẩn”.

Không còn người kiềm toả trong nhà, Liệu thấy như mình đã hư thân hơn. Cho nên, trêu xong ông khóa Cảo, hả hê chút ít rồi lại thấy mình không phải.

Nhưng ác hại nhất, là Liệu thấy mình như đã hư tâm hơn. Những câu ghi xương khắc cốt của ông đồ Trình dần bợt bạt, phôi pha. Đạo Thánh Hiền đã không cứu nổi cả nhà. Học tài thi phận, chí cao mà có ai dụng? Bao giờ mới gặp người tri kỉ, để thờ phụng, để dốc sức như Bàng Thống, Khổng Minh gặp Lưu Bị xưa? Chữ Thánh còn đáng để ta nhai nhải, ghi tâm, trích dẫn, ví von hàng ngày, khi mà độ nhật toát mồ hôi không xong? Cho nên, hàng ngày bán chữ kiếm ăn, dạy lại những “chi hồ giả dã” nằm lòng, Liệu thấy mình như trâu nhai rơm. Mà mình là con người, đang độ lớn, chứ có như con trâu cày ruộng ngoài kia, tối về được nằm chân đống rơm là đủ. Không lo thân, xoay chuyển được hướng đi, khéo lại như con trâu về già, người ta chọc tiết ồng ộc xong pha ra cho vào nồi ninh, là hết. Còn không được phong lưu bằng ông khóa Cảo...

Càng bức bối khi đọc tân thư. Từ trước, chỉ biết chữ cụ Khổng, nhai nhải những điều người trước đã biết cả vài trăm năm. Xung quanh, những túc nho, học giả yêu nước bề bề, một lòng cho Tây Dương là giống lang thú, vì người nó lắm lông lá, không biết đến cái Đạo của ta. Nhưng sao nó cứ đánh đâu được đấy, “ăn” xong trong Nam thanh toán nốt Bắc Kỳ, coi quan quân ta chả ra gì. “Sang ta chỉ là cặn bã của Đạo Nho thôi. Có thấy cũng theo trung nguyên, nhưng phong kiến ta có bao giờ được Trung Hoa coi trọng bằng các triều ở Cao Ly, Nhật Bản đâu”. Có lần Liệu nghe được câu ấy trong buổi anh Chước gặp mặt mấy người bạn, bèn nằm lòng. Cái ý phê phán vật cũ, nhận biết cái mới nảy mầm, ngọ ngoạy trong đầu. Mấy quyển sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu như mũi tên bắn vào hệ thống Nho học cụ đồ để lại, làm những mảng miếng chữ nghĩa rụng xuống lả tả. Ở làng thì bụng đói chân tay bí, ra đến ga Gôi, đến tỉnh Nam Định, thấy những việc người Tây họ làm, thì đức tin phải lung lay thôi. Những trung tâm lớn như Hà Nội, Sài Gòn thì sự kính tín càng dễ suy sụp.

Không suy làm sao, khi mà ở chính Trung Hoa, nơi đẻ ra đạo Nho, người ta theo cả mấy nghìn năm, mà đám cách tân còn mọc sủi ầm ầm. Dù nhà Mãn Thanh còn trị vì, nhưng trí thức, thanh niên tiến bộ bên ấy đã trông sang phương Tây. Lương Khải Siêu lấy hiệu Ẩm Băng, ý nói trong lòng nóng quá phải uống băng cho hàn bớt. Cuốn Ẩm Băng thất của ông khiến lòng Liệu ngổn ngang, rã rời. Đả kích lối thi cử hủ bại, gọi bốn trăm triệu đồng bào mình là bốn trăm triệu cầm thú, họ Lương tự nhận mình là cái đích cho muôn mũi tên của bọn hủ nho bắn vào. Sĩ phu náo loạn vì những phát đạn tiên sinh bắn ra. Ai lại đang dầy dầy quốc đạo, đường đường trung tâm vũ trụ, mà ông ta rước về những tư tưởng của Mông - tét - ski - ơ, Rút - xô, Von - te. Bá đạo chứ còn gì. Tà đạo ấy chứ lị. Mấy cái lão những lông đầy người ấy là ai. Cần gì những thứ của bọn Tây Dương mũi lõ!

Những mầm nghịch thấm vào Liệu mỗi lúc một tẹo, cựa quậy, lớn lên trong sự chèn ép của chân Nho. Ít ai, kể cả ông đồ Trình, lại ngờ được người đầu tiên rước “bá đạo” về nhà là anh Chước. Một hôm Liệu bị anh lôi ra đám rau ngót cuối vườn, thì thào:

- Hôm nay thi hạch, quan trường ra đề luận Tử Lộ và Quản Trọng ai giỏi hơn ai...

- Hỏi gì mà hỏi lạ thế? - Liệu ngạc nhiên.

- Lạ chỗ nào, chú nói anh nghe!

- Tất nhiên là Tử Lộ hơn. Ông ta môn đồ cụ Khổng, chính đạo rành rành. Quản Trọng có giỏi đến mấy cũng chỉ là phường bá đạo thôi.

- Thế mà anh Cung ở Nho Quan lên, học trò cụ đồ Huyến, lại luận Quản Trọng hơn. Kể thì dũng cảm thật, dám nói ngược các cụ. Mà anh thấy Quản Trọng có nhiều cái mới lắm.

- Dũng cảm nhưng thi trượt đầu nước cho mà xem...

- Anh cũng chán sự thi cử lắm rồi. Nhả chữ phun châu như con vẹt, mà nhà vẫn chả đủ ăn. Có khi anh đi buôn...

Liệu tròn mắt, như thể không nhận ra người anh hàng ngày. Tú Chước nói rất hăng về những biến pháp, tân pháp trong lịch sử, bọn Thương Ưởng, Quản Trọng nghịch ngợm, phá cách thế nào. Anh khuyên Liệu đọc Công ước (1), Vạn pháp tinh lý (2),những Nam sử, Địa dư, Toán pháp...

- Cả mấy tờ Đông Dương tạp chí, Đại Việt quan báo, Đại Việt công báo nữa. Nhất là Đăng Cổ tùng báo rất lạ, không như trong trường ốc mình đâu.

Đang hăng thì trong nhà ới ra. Hai anh em quay vào, tú Chước không quên dặn em:

- Đừng nói gì với thầy nhá. “Thủ tử thiên đạo” (3)mà.

-----

(1) Contrat social của J. Rousseau, nay dịch “Khế ước xã hội”.

(2) Esprit des lois của Montesquieu, nay dịch “Tinh thần pháp luật”.

(3) Giữ đạo trời cho đến chết.

Từ hôm ấy, luống rau ngót sau nhà thành chỗ Liệu vểnh tai ra nghe anh nói về “Mưa Âu gió Mỹ”, sách “Trung Quốc hồn” của Lương Khải Siêu. Cả một chân trời mới mở ra. Liệu bắt đầu lần mò sang những sách về Lu- i Kốt - suýt, nhà cách mạng Hung - ga - ri, quyển “Ba người anh kiệt nước Ý” của Man - di - ni. Chúng như có thuốc kích thích, đọc xong muốn bắt chước nhân vật để tang nước mất, đi làm cách mạng để ở tù. Cứ quay cuồng vậy mà ông đồ không biết, phần bị giấu, phần nhà lắm việc, vắt mũi chả đủ đút miệng, lấy đâu thì giờ hỏi han con.

Anh Chước mất, để lại một hòm sách. Rất lâu sau đám tang, ông đồ mới mở hòm, lấy ra cuốn vở xem kĩ rồi thở dài: “Anh con không sang Nhật được, phí quá!”.

Cuốn vở có tên “Phương châm cứu nước”, ghi chữ Nho, đặc những điều trần mà đám sĩ phu mới ở Trung Hoa đang sùng sục đòi áp dụng: mở trường kiểu mới, bỏ lối thi truyền thống, cưỡng bách học tập, lập hội buôn, áp dụng kĩ thuật của người Âu, cải lương phong tục ta...

Những điều anh Chước viết là một đòn giáng nặng vào người ở lại. Liệu vừa sợ vừa xa bố, cảm thấy nghiêm cẩn cũ kĩ quá, trong khi ông đồ đêm ngày lo con út đi xa dần những nguyên tắc của mình. Liệu mất người bày tỏ những “cái gì” với “tại sao”, mà ông bố cũng hoang mang lắm, không biết có nên gò thằng bé đi mãi con đường cũ...

Năm 1917, bố và anh đi cả, Liệu chả còn ai để kiềm toả. Dù đã vợ con, cậu vẫn là chú nghé ngứa sừng. Cái mần tân học lớn dần khiến Liệu cứ phải chọc ngoáy, quấy phá những bậc tiên nho trong vùng.

Thoả chí đấy, hả hê đấy, nhưng chỉ được chốc lát. Ông khóa Cảo ù lỳ cũ kĩ, chẳng có tội gì nữa mà hành thêm. Thi hỏng rồi, muốn thi tiếp không được, mà việc mở trường bán chữ ngày càng khó, càng rẻ. Mà chữ chỉ là chữ thì để làm gì, mình không trọng chữ nữa lại cứ dậy mãi được a...

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.