Tỉnh lỵ Sơn La nằm trong châu Mường La, tiếng Thái nghĩa là “mường Cây lựu”. “Nước Sơn La ma Vạn Bú”, chả thế mà công sứ tỉnh Saint Pouloff năm 1933 đã gửi Thống sứ Bắc Kỳ báo cáo mật. Rằng số mạng loại chính trị phạm hung hăng khó trị ở Hoả Lò Hà Nội lên đây sẽ do vi trùng sốt rét định đoạt. Trong sáu tháng của năm đó, gần 40 người đã chết, xác vùi nghĩa trang Gốc Ổi dưới chân dốc Chiềng Lề. Sau này, kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật thiết kế một đài tưởng niệm họ ở đó, thiên nhiên hòa nhập với các mảng khối rất dễ chịu.
Liệu gặp ngay người quen. Công sứ Sơn La là Cousseau, thời Mặt trận Dân chủ làm trưởng phòng địa chính tỉnh Hà Đông. Báo Đời nay chửi việc trưng thu ruộng đền ruộng chùa, cả ruộng hậu tư nhân giao cho Nông phố ngân hàng. Cousseau nhắn muốn gặp riêng Liệu, phàn nàn sao cũng cộng sản với nhau mà công kích việc nó muốn tập trung ruộng đất lại cho nhân dân. Liệu nhắn lại là cứ đến tòa soạn làm việc, chả thấy hồi âm gì.
Giờ thì bài đã lật ngược. Nhưng Cousseau ra chiều tử tế, gọi ngay “đồng chí” Trần Huy Liệu ra, nhăn nhó: “Mấy ông quan lại An Nam bảo tôi là cộng sản, nhưng những đồng chí của tôi thì lại không nhận tôi là cộng sản. Thế thì tôi biết ăn làm sao, nói làm sao bây giờ”, tiếng Việt rất sõi. Liệu cười trừ, nhưng nhận sự chỉ định cùng Phi Vân làm đại diện chính trị phạm trước đương cục.
Cousseau là tay làm việc già dặn. Tổ chức lưới nội gián trong những nhà buôn bán dưới dốc Chiềng Lề, hắn cũng đồng ý vài thỉnh nguyện của tù. Liệu phô chủ ngục Gabori biển lận, đánh cắp phần ăn của những kẻ đã khốn cùng rồi, Cousseau bảo đừng chấp. “Lão già ấy giống lũ kì mục kì nát ở nông thôn Việt Nam ấy mà”. Và bắt anh em xe nước, kiếm củi cung cấp cho tòa công sứ, việc khổ sai rất cực nhọc. Gần hết buổi làm, nó đi ô tô đến xem xét, kéo thêm giờ, bắt tăng chuyến. Kẽo cà kẽo kẹt, đoạn đường từ cầu Bản Giảng lên đồi Chiềng Lề có biết bao nhiêu mồ hôi, máu tù đổ xuống, đêm nằm nghĩ những leo dốc đổ dốc
mà kinh.
Liệu là bí thư chi bộ, lại đại diện chính trị phạm, căm Cousseau lắm nhưng luôn phải mềm mỏng, đấu dịu, điều chả hợp với tính cách của anh. Câu chuyện không còn những “đồng chí” với “lập trường” nữa, toàn những đoạn: “Còn hai mươi phút nữa đi không kịp chuyến, anh em nghỉ là phải”. “Thì làm dấn thêm, có làm sao!”. “Nhưng anh em bị cắt khẩu phần. Người chứ có phải sức máy đâu mà... ”.
Cầm cự. Lãn công. Công sứ sai giám binh kèm cho đến hết giờ mà số chuyến nước lên đồi chả tăng, hết anh này đau bụng đến anh kia sứt móng. Cousseau phạt giam họ dưới nhà hầm, hình ngục tàn ác nhất. Phải tạo ra một sự kiện gì, lái nó theo hướng mình, gây sức ép trở lại chúng mới được.
Nhưng đỉnh điểm đến sớm hơn lúc những người tù dự liệu. Ủy ban tranh đấu, do Liệu làm trưởng, họp toàn trại phát động tuyệt thực. Chính trị phạm, ngoài cộng sản, còn những đảng viên Quốc dân đảng và Phục quốc Đồng minh hội, đều nhất trí tham gia, trừ hai ông thân Nhật Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Thế Song. Tô Hiệu có bệnh lao giai đoạn cuối, nằm riêng một xà lim, có nhiệm vụ đưa tin, tiếp tế, tất nhiên khi có thể.
Trưa 13 - 5 - 1941, tù đi làm về, không đụng đến cơm đã bày ra sân. Đại biểu thông báo cho Gabori biết họ tuyệt thực để phản đối công sứ bỏ hầm mấy người kéo xe nước, rồi đồng loạt vào nằm trong trại lớn. Đây là một thứ “bối thủy trận” tử thủ kiểu Hàn Tín, quay lưng ra sông mà đánh nhau, lùi là chết.
Chưa kịp xếp xong chỗ, lính xông vào dồn hết xuống hầm tối dưới gầm nhà bếp. 156 mạng lèn vào cái chỗ thường ngày chỉ nhốt được 11 người. Cousseau lệnh bắn ngay ai đem vào đây một hạt cơm, một giọt nước, bảo sở Công chính chuẩn bị sẵn áo quan. Cuộc tranh đấu đâm ra mất hướng, vì mình đâu có tuyên bố nhịn uống. Tù ngục, bướng bỉnh lắm anh đã trải, nhưng kiểu này thì chưa ai có kinh nghiệm.
Việc đầu tiên xác định với nhau là lâu dài, gian khổ đây, đừng thối chí. Binh lính được gieo ảnh hưởng của tù, dân dưới phố biết, rồi chuyện sẽ lan đi, không đời nào Cousseau dám “chôn sống” cả ngần này đứa mình đâu. Và xếp chỗ nằm, dành nơi thoáng khí nhất cho những anh già yếu, có bệnh, gọi là “tiểu Đồ Sơn”. Trong tối đen ngày đêm như nhau, cứ 12 tiếng người nằm cuối và đầu hầm đổi chỗ cho nhau, để không ai bị thiếu không khí quá lâu. Nào, anh này để chân cho anh kia gối đầu, ngả lưng vào nhau nhá. Không khí có vẻ bình yên, thậm chí có tiếng khúc khích. Sướng nhất là Khánh, được suy tôn “Hoàng đế” vì “ngự” trên thùng cứt.
Dần dà, nặng nhọc đè lên. Tiếng thở to, gấp gáp. “Tàn dư” những bữa ăn trước thải vào ống bơ, chuyền đến cái “ngai” của Khánh, mấy ngày đầy ứ. Bọ trắng nhun nhút bò ra chui lên mặt mũi những con người đã hết thần sắc, mắt nhắm nghiền, chả biết có còn sự sống. Nhưng nước đái thì quý vô ngàn. Uống của mình không đủ, còn xin người “dùng không hết”. Nhưng của những cậu mắc bệnh phong tình thì bố bảo không dám.
Cái đói tử tình tử tội hành hạ nhất vào ngày nhịn thứ hai, thứ ba. Muốn ngủ lắm, nhưng dạ dày nó không yên cho, gào réo như con thú dữ tợn. Thèm nhớ miếng mẹ đi chợ về ngày bé, tiếc sao vợ nấu canh cá dấm ngon mà mình bỏ dở. Ngày nhịn ăn ở Khám Lớn Sài Gòn, nhìn đôi giầy da, nghĩ chuyện thái nhỏ nó ra xào hành mỡ, Liệu đã tốn bao nhiêu nước dãi.
Đói so với khát không là gì. Thần kinh lúc nào cũng căng, nhất là những anh “thực như hổ”. Liếm láp mồ hôi, chắt bóp từng giọt nước đái. Mùi người khẳn lằm lặm, da nhơm nhớp, có anh khoả thân trăm phần trăm. May có cái chăn đem kịp xuống, để mà quạt khí từ cái cửa sổ nút kín.
Sang ngày thứ tư, hầm tối đúng là cái nhà mồ. Người của uỷ ban không còn sức động viên, những người khác cũng không thể đáp lại. May ông Đắc điên người Hải Phòng lại hiền khô, phục tùng kỉ luật vô cùng, còn động viên anh khác đừng thối chí. Hồi trên trại (hồi nào ấy nhỉ, xuống đây bao lâu rồi nhỉ... ), những cơn lên, ông ấy lại múa chổi hét “Giai cấp vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!”.
Cousseau đi kiểm tra, “bắn” vào là sẽ xây gạch bít cửa hầm lại. Tô Hiệu xoay được mấy miếng đường phên gửi vào, chia nhau liếm. Nhưng vị ngọt vẫy gọi bao nhu cầu, cái đầu tiên không gì khác là nước. Lũ giun sán trong bụng không được ăn làm loạn. Nhiều anh bí đái bí ỉa đã lịm đi. Đập cửa báo với lính, là có người sắp chết cần tới bệnh viện. Tin tới tai Cousseau, “đồng chí” này truyền lại: “Đứa nào chết cứ để cho chết trong hầm rồi chôn luôn một thể”.
Bảo nhau kiên gan. Mình vững vàng thì rồi bên ngoài sẽ biết mà tiếp sức. Chớ cáu giận nhau nhá, chả ai được hơn phần thở cũng như chỗ nằm nào... Mà không, cũng đừng manh động, ra khỏi chỗ này mà bạo động thì cũng làm gì được thằng vạn ác Cousseau đâu. Bao nhiêu mưu mô được mấy bộ đầu não thều thào bàn tính, cuối cùng chỉ đến một cuộc hò la “Nước! Nước!” bằng tiếng ta lẫn tiếng tây.
Hai đêm liền, một người lính dũng cảm tiếp nước cho cuộc tuyệt thực. Ngày thứ năm, uỷ ban tranh đấu quyết định dừng lại. Nhưng thằng công sứ Pháp quá đểu, bắt phải viết ra giấy những lời nhận lỗi theo ý nó. Không đầu hàng thời cứ ở dưới hầm, có điều đã có nước uống. Đó là thứ nước từ trại gia đình binh lính thải ra, bẩn thỉu vô cùng.
Ngày thứ 12 thì dừng hẳn. Không phải bãi chiến cả hai bên. Cousseau đương có thế, gọi Liệu lên chế nhạo. Muốn chơi à? Biết tay nhau chưa? Người tù đang ở cơ dưới nín thinh, tránh khiêu khích. Dù sao cuộc tuyệt thực đã phải nổ ra bất thình lình, chưa chuẩn bị tới nơi. Còn nhiều cách đấu tranh đòi cải thiện chế độ lao tù, ta chơi dài dài được.
Lên khỏi hầm, gặp cơn gió mát, mà yếu quá, Liệu bàng hoàng tưởng ngã gục. Trại giam bình thường giờ đã là thiên đường để mà tận hưởng, mà xem ai thức hết đêm dài...