Nửa đêm, trong ấp đã lao xao. Dậy sớm nhất là cánh buôn đường dài, lỉnh kỉnh trong bồ, sọt là cả tạ pin đèn, dầu muối, gương lược, kim chỉ... Đầy kinh nghiệm, họ biết phải vượt cánh đồng trước khi giời sáng mới an toàn. Những cán bộ đi công tác có vẻ đủng đỉnh, hẳn vì mang nhẹ và cũng chủ quan hơn.
Liệu mang theo Nghiêm, người cháu từ dưới quê lên, để đỡ đần lúc đi xa. Nghiêm nhỏ người, dai sức, tần ngần nhìn ông đang ngủ rất say trong cái nong. Suốt tháng trời hôm nào cũng đi, đêm diễn thuyết cổ động kháng chiến, tối đen còn ngồi ghi chép, Liệu yếu đi nhiều.
Cũng đã đến lúc. Nghiêm ra chỗ cái nong, lay: “Ông dậy... Cháu nấu cơm rồi”. Trong tối mịt, hai người trệu trạo nhai cơm với thịt rang mặn chát. Sắp lên đường, Liệu thấy bụng đau quặn. Ra khỏi xóm, ông còn vào bụi vài bận nữa.
Vì thế đến giữa cánh đồng thì đã sáng bảnh. Cánh lái buôn đi vùn vụt dễ đã cách vài cây số. Nghiêm rất muốn chạy gằn nhưng người ông lại yếu quá, chốc chốc phải dừng lại chờ. Vai Nghiêm đeo cái túi dết có gạo muối, lọ thịt rang, chăn màn, quý nhất là cái ra - đi - ô và mấy quyển nhật ký.
Con đường mòn nằm giữa cánh đồng vừa gặt như sợi chỉ mảnh uốn éo, từ trên cao nhìn rất rõ. Chiếc Bê vanh xít ầm ầm lao qua rồi đảo lại. Phi công nhìn rõ hai con mồi bên dưới, thèm khát bủa xuống.
Ặc ặc ặc ặc... Đạn mười bốn ly năm cày sát hai thầy trò đang chúi xuống rãnh ven đường. Đất và đầu đạn tiện phăng đám chó đẻ. Mùi lá hăng hăng bốc ra. Kể cũng lạ là Liệu lại muốn hít hà tý chút. Nhưng Nghiêm đã đẩy ông xuống ao rồi nhào theo. Chiếc máy bay vòng lại xả đạn hủm mặt nước.
Yên chí đã bắn hạ được con mồi, phi công bay đi. Phía xa kia, đằng cuối cánh đồng, nó phát hiện ra con mồi khác. Lần này anh bộ đội đi chiếc xe đạp đuya ra đã không thể thoát.
Hai ông cháu lồm cồm bò lên bờ ao, vớ túi dết chạy chối chết. Chạy một lèo hai cây số mới dừng lại gỡ đỉa. Lên đến đỉnh đèo Kháng Nhật, thầy trò chưa qua cơn thất sắc. Tuy thế việc đầu tiên là phải xem chiếc đài có sao không. May, nó vẫn ọ ẹ, có điều lọ thịt mặn vỡ, ngấm nhoe nhoét quyển nhật ký.
Buổi tối, đám buôn chuyến đang gặm sắn ngỡ ngàng nhìn Liệu và Nghiêm bước vào. “Chúng tôi đã thắp hương cúng vong hồn ông với chú... ”, một bà xuýt xoa. “Thôi thế là vợ con ông không mất người rồi”.
- Có làm sao thì hai bà phải làm giỗ ông cháu hôm nay. May không sao...
Nghiêm không hề bông phèng, lầu bầu xin điếu thuốc lào dịt chỗ đỉa cắn. Loay hoay lo xong nồi cơm, anh quay ra thấy ông đã ngủ như đứa trẻ. Bữa cơm sau hồi hút chết rất ngon. Nghiêm ngạc nhiên thấy ông mình không nhắc gì đến làn đạn sáng nay, cứ như đã không xảy chuyện gì.
“Đây là lần chết hụt thứ hai của mình sau cú ngã ở Hòn Cau... ”. Thực ra, Liệu đã nghĩ ngợi rất nhiều. Tử thần đã sờ đến, phả hơi lạnh ngắt vào gáy. Ông đã thoát khỏi tay nó, có lý gì lại không vượt được những trắc trở đang gặp...
Quả là bước sang tuổi “tri thiên mệnh”, cuộc đời Trần Huy Liệu lại gặp những vấn đề mới, gọi là “nhỏ” hay “lớn” đều được. Nó làm ông phải lựa chọn một cách thẳng băng, nghiệt ngã, như trước đây, khi ông đứng giữa cảnh bần Nho và đi Nam lập nghiệp, hay giữa hai lập trường Quốc dân đảng và Cộng sản.
Năm 1946, lập trường chính trị cứng rắn “đối với thằng Pháp chỉ có đánh” của ông không phù hợp với chủ trương tìm kiếm hòa bình, gây dựng lực lượng, chuẩn bị kháng chiến của lãnh tụ. Với tầm nhìn lịch lãm của người đã ra ngoài biên giới nhỏ hẹp của đất nước, trong Hiệp định Sơ bộ, Hồ Chí Minh chấp nhận “Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền nằm trong Liên hiệp Pháp”. Cụ Hồ quý, và tin Liệu, dù ông không phải dân “cộng sản gốc”. Nhưng quanh Cụ là cả đoàn thể, tổ chức. Và cái tính thẳng thừng cũng không để Liệu can dự sâu vào những cuộc bàn bạc chủ chốt. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai 1951, ông phê phán nặng nề chủ trương Đảng rút vào bí mật để rồi giờ lại phải ra công khai, chỉ được mỗi Bùi Công Trừng hoan nghênh. Việc dùng quá nhiều quan lại, thân sĩ cũ trong Liên Việt đầu kháng chiến, ít năm sau lại loại bỏ cả ngay cả con cái địa chủ trong nhiều vị trí ở cơ sở, Liệu thấy bất ổn. Những dự cảm được phát biểu trên diễn đàn tạo nên “khoảng cách riêng” giữa ông với đồng chí. Thấy mình cô lẻ, tách khỏi những sự kiện trọng yếu, Liệu bắt đầu nản.
Ông đang là gì? Là một công chức cao cấp đi tuyên truyền nghĩa vụ thuế kháng chiến, rất nổi danh nhưng không có thực quyền trong bộ máy, hay đơn giản chỉ là đã thất sủng? Là gì thì cũng đã ra khỏi ban lãnh đạo, hết thực quyền, chỉ làm quả chuông leng keng thôi, tuy kháng chiến cũng cần những “quả chuông”.
Gia đình thứ hai cũng là giọt nước làm tràn cốc. Con trai út ra đời khi Liệu năm mươi tuổi, ông càng gắn bó với bà Sửu. Thu xếp một cuộc gặp giữa “hai chị em” để rồi thất bại, ông bị bà Tý rầy rà dữ dội, “ý kiến” lên cấp trên. Nhiều người đánh giá Liệu lấy vợ Việt gian, con dâu phản động. Có cả tin đồn ngày vào Huế nhận ấn kiếm Bảo Đại, ông đã giết bố con ông thượng để chiếm Sửu.
Nhiều phiền hà, lắm khúc quanh thật. Nhưng Sửu, với sắc đẹp và sự hiền thục, là vưu vật trời ban cho ông. Nặng tình nhưng không thể “thu xếp” ổn thoả, Liệu chả bao giờ gỡ được mối tơ ngày càng rối, trong khi con cái đôi bên ngày càng lớn lên, và quãng thời gian của ông càng mỏng đi.
Quốc hội có tờ “Toàn dân kháng chiến”, Liệu điều hành nhưng chả để mấy tâm sức, làm nó ra đều đều mà ít tiếng vang. Tâm tính ông nó thế, khổ là chỉ ham những thách thức thực sự. Cái ý đồ viết sách, nung nấu từ những năm trong tù, ngày càng hầm hập chín. Cuốn “Sơ thảo lịch sử cận đại Việt Nam”, dù chỉ là “sơ thảo” và in trên giấy rơm, đem lại cho Liệu sự tự tin vào nghiệp viết sử. Tuy hơi buồn cười, Liệu thấy mình bị ám ảnh cái phận nhà Nho: khi không hợp quan trường thì lui về dậy học, bốc thuốc và “trước thư lập ngôn”.
“Không hợp” thôi. Chả nghĩ chuyện “ai” sai “ai” đúng nữa. Đời rộng, nhiều nẻo, chả ngả này ta rẽ lối khác, nhưng đừng để ảnh hưởng cái tinh thần dân tộc mà ta đã tranh đấu.
Lạ nhỉ. Ngũ thập mà ta chưa “tri thiên mệnh”, còn muốn phiêu lưu là làm sao...