Cuộc cách mạng nổ ra vào tháng Tám năm 1945 đã thắng lợi mà không phải đổ nhiều máu. Dân chúng, trải qua ngót trăm năm nô lệ và nạn đói khủng khiếp đã căm thù ngoại bang - dù là Pháp hay Nhật - đến cực điểm, chỉ cần một “mồi lửa” là “cháy” bùng lên. Đó là nguyên nhân sâu xa. Còn trực tiếp, thì đạo quân Quan Đông vỡ trận ở Mãn Châu Lý trước Hồng quân Xô viết, Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Trục phát xít đi đời. Trong nước, chính phủ Trần Trọng Kim bối rối, không điều khiển được sự tình. Quân Nhật gần như tê liệt, Pháp rục rịch trở lại. Ở lán Nà Lừa trong rừng sâu Tuyên Quang, qua radio, Hồ Chí Minh, giữa những cơn sốt ác tính, nhận ra đây là thời cơ có một. Cướp chính quyền nhanh, không thì thời điểm thuận lợi qua đi, lực lượng dù còn mỏng cũng phải tiến hành.
Đội quân cách mạng từ Tuyên Quang tiến về Thái Nguyên. Lấy chính quyền quá dễ. Thực chất là nhiều nơi chả có chính quyền nào cả. Họ tiến luôn về Thủ đô. Được cái là mặt trận Việt Minh, tổ chức từ rất lâu, đã có cội rễ trong dân chúng, tập hợp được tất cả, từ anh dân cày đến người hào chủ. Việt Minh là lực lượng lớn nhất, ra lời kêu gọi là dân nhất tề.
Ngày 19 - 8 -1945, Bắc Bộ Phủ về tay Việt Minh. 2 - 9, Chính phủ mới ra mắt ở quảng trường Ba Đình. Dân chúng, kể cả hoàng gia, mừng rỡ biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Trong thành phần “tân triều”, ngoài Việt Minh còn có các đại diện đảng phái khác như Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng đảng. Sự phân chia quyền lực là không thể tránh khỏi, dù người Cộng sản chiếm ưu thế khi nắm Việt Minh.
Chính quyền thì có rồi. Nhưng lại bao nhiêu cái khó đặt ra, thách thức những người chưa có quyền lực thực sự. Quân Tưởng, được Đồng minh uỷ nhiệm, giải giáp lực lượng Nhật ở ngoài Bắc. “Chân phù” đi vào kéo theo bao nhiêu dân binh nhũng nhiễu. Nào lương thảo, chỗ ở, lại còn tiền bạc, thuốc phiện, gái. Ngay trong tháng Chín, tháng độc lập, mà quân Anh - ác cái, cũng là Đồng minh - đã gây hấn trong Nam Bộ. Rồi quân Tưởng dần dần rút ra, Pháp tràn vào. Dù là Sainteny ôn hòa hay d’ Argenlieu hiếu chiến, tư tưởng thực dân vẫn còn đó. Chả làm gì có chuyện họ không còn muốn làm chủ lại Đông Dương. Ngay Cộng sản Pháp có người còn muốn d’Argenlieu đánh mạnh đi để giương cao ngọn cờ nước Pháp.
Hơn bao giờ hết, chắc hẳn trong những ngày này, Hồ Chí Minh phải luôn nghĩ đến câu nói nổi tiếng “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Khôn khéo, tránh manh động, Ông Cụ đã lèo lái được con thuyền mỏng manh vượt những thác ghềnh hiểm nghèo nhất.
Điều cần nhất lúc này là sự ổn định. Có hòa bình thì mới có ổn định. Mà các lực lượng Anh, Pháp, Tàu Tưởng thi nhau gây hấn. Có chính quyền rồi mà ngày nào súng cũng nổ, quân Pháp bắn vào bộ đội Việt Minh ở Hải Phòng, Hà Nội…, cướp bóc, hiếp chóc dân lành. Lực lượng vũ trang có trong tay mà cứ phải án binh bất động, nín thở chịu đựng. “Hòa bình” mà không khí ngột ngạt, căng thẳng không thể tả. Nhưng phải có hòa bình, dù chỉ là “duy trì” nó, để đạt được sự công nhận của các nhà nước, phe phái trên thế giới. Trung Cộng còn đang đối phó với Tưởng Giới Thạch, Staline thành kiến với Nguyễn Ái Quốc, tổng thống Mỹ lơ lá thư Cụ gửi đi. Và dù sao, tính đến nước cùng, trở lại với chiến tranh, thì Việt Minh phải chuẩn bị chiến khu, xây dựng lực lượng. Chưa sẵn sàng thì chưa trở lại chiến tranh được. Phải có thời gian chuẩn bị chứ.
Hồ Chí Minh thực hiện sách lược “Câu Tiễn” đó bằng Hiệp định Sơ bộ, đồng ý “Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền nằm trong Liên hiệp Pháp”. Đi Fontainnebleau đàm phán trong một thế không “thượng phong” gì, nhưng dù sao cũng làm dịu sự hung hăng của phái hiếu chiến trong chính phủ de Gaulle, “tiện thể” kéo về những trí thức có tiếng như Trần Hữu Tước, Trần Đại Nghĩa, Võ Quý Huân… Còn trong nước, Cụ Hồ phát động Tuần lễ Vàng, diệt giặc đói, giặc dốt. Những nhà buôn yêu nước cảm mến Cụ Chủ tịch dốc túi cho chính quyền. Nhiều nhất là ông Trịnh Văn Bô, tới cả hàng nghìn cây vàng để mua vũ khí, còn vợ ông, bà Hoàng Thị Hồ, phải “chạy” thuốc phiện, gái cho đám Tàu Tưởng Lư Hán, Tiêu Văn.
Những hoạt động ngoại giao, nội trị tỏ rõ sự khôn khéo, tầm nhìn xa của Hồ Chí Minh. Từ chỗ “tay không bắt giặc” (nói thế liệu có quá?), trứng treo đầu đẳng mà giữ được chính quyền, kéo dài hòa bình ra đến hơn một năm, phải đánh giá vai trò lãnh tụ là kiệt xuất. Đã chìa tay ra với Truman, Staline, cả de Gaulle ra đều bị lạnh lẽo, mà làm được vậy, dần dần gây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi, Hồ Chí Minh xứng đáng là biểu tượng dân tộc.
Trần Huy Liệu là đàn em Cụ Hồ về tuổi tác, cảm phục tài ứng biến, sự lịch lãm, sức tập hợp, thuyết phục của Cụ. Nghĩa là CHỊU. Nhưng ông có những điểm nhìn riêng. Ngoài lòng căm thù người Pháp đô hộ, bóc lột, trí thông minh hơn người, tài hùng biện và một quá khứ đầy tiếng tăm, ông lại thiếu hẳn những đức tính của chính khách: sự khôn khéo, biết nín nhịn, khi nào thì tiến, khi nào phải thoái. Ông lại cũng chả có một “tinh thần kỉ luật” dồi dào dù dư biết đã trong đoàn thể là phải chấp hành lãnh tụ tối cao. Những hành động của Liệu làm người ta nghĩ đến hai chữ “tả khuynh”.
Điều đầu tiên làm Liệu ức là việc Đảng Cộng sản tuyên bố giải tán. Tôi biết tin này khi từ Nam Định lên Hà Nội, đọc báo Cứu Quốc dọc đường thấy đăng bài Đảng tuyên bố giải tán. Khi đến Hà Nội, tôi phải làm ngay cái công việc là triệu tập các nhà báo tại nhà hội quán Khai Trí Tiến Đức cũ để đồng chí Trường Chinh tuyên bố và giải thích về việc này. Hôm ấy, tôi có một ấn tượng không đẹp, vì bọn nhà báo vẫn nghi ngờ và hỏi vặn vẹo mãi. Cố nhiên là tôi không nghi ngờ về sự tồn tại của Đảng. Nhưng tôi băn khoăn tự hỏi vì những điều kiện bách thiết gì Đảng phải giấu mặt giấu tên? Về phương diện quốc tế, kẻ thù muốn giết Đảng ta lúc bấy giờ là đế quốc Mỹ và bọn quân phiệt Tưởng Giới Thạch không phải nghe ta tuyên bố giải tán mà chúng tin ngay. Bọn gián điệp Mỹ vẫn luôn luôn vạch rõ sự tồn tại của Đảng ta. Lời tuyên bố của ta càng làm tăng thêm sự nghi ngờ của chúng và cái dã tâm muốn bóp chết Đảng ta, bóp chết nền độc lập mới mẻ của ta quyết không vì thế mà gác lại. Về phương diện trong nước, thì, bọn phản động Đại Việt, Quốc Dân Đảng càng thừa biết sự tồn tại của Đảng ta. Bọn địa chủ tư sản hay công giáo nếu sợ CS thì cũng không phải thấy nói Đảng giải tán mà hết sợ vì trước mặt họ, người CS vẫn là người CS. Vì vậy, tiếng tuyên bố giải tán Đảng phát ra tiếng vang rất ít.
Tôi băn khoăn hỏi Bác thì Bác nói: người đi trên chiếc thuyền tròng trành muốn đắm nếu cần phải vứt cả hành lý đi thì cũng cứ vứt! Câu ví dụ này không đem lại cho tôi một kiến giải thoả mãn. Vì sự thực đã cho thấy rằng: chiếc thuyền tròng trành không phải chỉ vì hành lý, mà chính vì người. Nên, sau khi vứt hành lý rồi, con thuyền vẫn tròng trành như trước. Có chăng, trong một lúc hoảng sợ, người ta vứt hành lý xuống rồi lại phải mất công mò lên thôi. (Dự thảo bản tổng kiểm thảo tại đợt chỉnh huấn cán bộ, chiến khu cuối năm 1952 - đầu năm 1953, viết tắt là DT TKT)
Đây là nhận thức Trần Huy Liệu bảo lưu rất “kĩ”. Năm 1951, tại đại hội II, Đảng Cộng sản ra công khai trở lại với tên Đảng Lao động, ông lại phát biểu, đặt vấn đề rằng “nếu ngày ấy ta không tuyên bố giải tán thì nay đã chẳng phải ra công khai trở lại”. Đại hội im phăng phắc, chỉ có Bùi Công Trừng đứng thót lên vỗ tay (nhật kí).
Một điều nữa, chả phải chỉ mình Liệu, mà nhiều người khó “thông” với lãnh tụ hồi đó là Hiệp định Sơ bộ kí ngày 6-3-1946. Tại sao đã giành được chính quyền mà Cụ Hồ còn kí nhận ta làm một quốc gia có chủ quyền nằm trong Liên hiệp Pháp, chả ra hèn kém lắm sao? Mất xương máu, cố công tranh đấu mãi mới làm chủ được đất nước, làm thế là một bước lùi chứ! Đã không tán thành Hiệp định thì cái Tạm ước kí hôm 14/9/46, chuyến đi của Hồ Chí Minh sang Fontainebleau và hội nghị Đà Lạt cũng chỉ là “tiêu cực”.
Khác hẳn một hình ảnh ôn hòa, điềm đạm, từng trải của Hồ Chí Minh, ông bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền Trần Huy Liệu cứ sồn sồn như lửa. Lễ hoan nghênh Hà Ứng Khâm, quan chức cao cấp của Quốc Dân Đảng Trung Hoa, vị Chủ tịch nước bị đặt vào ghế khách thường, trong khi Nguyễn Hải Thần ngồi chỗ trang trọng, Liệu bực không thể tả. Biết nết “đuya” của Liệu, đám Quốc Dân đảng nhiều khi đưa yêu sách trực tiếp cho Cụ Hồ, rồi Phủ Chủ tịch lại gọi sang bên Liệu can thiệp. Về việc đặt tên phố ở Hà Nội, Cụ bảo chỉ được đặt tên bốn người cộng sản là Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, ông cứ đặt “thêm”. Có lẽ chuyện đổi “Nhà thương Khách” thành phố Tôn Đản, danh tướng đã vây đánh châu Khâm châu Liêm của phương Bắc làm ông khoái chí nhất.
Tình hình mỗi lúc mỗi căng thẳng như sợi dây đàn. Nhật vừa bị giải giáp thì Tàu Tưởng nhũng nhiễu, rồi Pháp lại vào bắn giết dân chúng, vây trụ sở ta. Trên Chèm, bộ đội, có súng trong tay, đã choảng lại , giết chết mấy Tàu trắng. Sợ lửa bùng lên quá, dẫn đến chiến tranh, Chính phủ ra lệnh đem mấy người đó ra xử bắn. Mình bắn mình bảo sao không đau! Liệu chả thích gì chính sách Câu Tiễn của Cụ, mà luôn nghĩ đến hai ông kiệt hiệt, đến chết vẫn cực đoan trong Cách mạng Pháp là Mara và Robespierre.
Tòa án quân sự Bulgarie lần lượt kết án 2000 kẻ phản cách mạng từ chung thân khổ sai đến xử tử. Liệu mang tờ thông tin quốc tế ấy sang phòng Chủ tịch. “Đây, đồng chí Dimitrov, trong việc trấn áp phản cách mạng, đã chặt hàng ngàn cái đầu phản cách mạng. Cụ có thấy cái chính quyền cách mạng nào hiền lành đến nhu nhược như chính quyền của cụ không?”. Cụ Chủ tịch kệ cho ông phát tiết cơn phẫn nộ, chỉ tủm tỉm cười, thắt lại cái cravatte cho Liệu; cử chỉ của một chính khách lão luyện. Có thể hiểu Ông Cụ coi những lời của Liệu là trẻ con, chả nên chấp. Lại có thể cho là nói lại Liệu không dễ. Liệu có cái lý của mình. Ông Cụ, với những tiên cảm nhờ vào sự từng trải, có những ý định của mình, nhưng càng phân giải với cấp dưới càng “rách chuyện”, chi bằng cho “hắn” mỏi mồm, hả tức thì thôi.
Ông Hoàng Tùng, sau này giữ chức trọng trong bộ máy tuyên huấn, có những đánh giá thú vị trong bài “Trần Huy Liệu - ông thầy của tôi” in trong nội san “Nhà báo Hà Nội”: Về chính trị, lúc đầu Ông (nguyên văn viết hoa) ghét bất kì ai là Tây. Sau khi trở thành người cộng sản Ông bênh vực chủ nghĩa quốc tế song rất bất bình trước sự hống hách của bọn thực dân. Ông không chống việc kí hiệp định ngày 6-3-1946, nhưng không tin là phía Pháp sẽ tuân thủ... Pháp đánh Nam Bộ, ném bom giết đồng bào ta. Bộ Tuyên truyền của ông, qua đài phát thanh, cảnh cáo rằng, nếu Pháp không chấm dứt hành động dã man đó, thì tính mạng những người Pháp bị quân Nhật bắt, mới thả ra từ các trại giam, sẽ không an toàn. Hôm sau, đài ta lại phát tin về những cuộc ném bom mới. Anh em thanh niên đã tham gia khởi nghĩa ở Hà Nội tổ chức ngay từ sáng sớm một cuộc săn lùng người Pháp, đánh họ ở phố Tràng Tiền, chợ Đồng Xuân. Là bí thư thành uỷ, tôi bị cách chức mấy tháng về việc đó.
Rồi cái phải đến đã đến. 19 -12-1946, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Đôi bên Việt - Pháp xốc dậy cầm lấy vũ khí, bất kể bên kia có Sainteny luôn muốn trì hoãn binh lửa, bên này có vô số cựu học trò đã thụ giáo làu làu văn hóa Pháp. Chiến tranh là chả tránh được.
Trong những ngày nhàn rồi ở chiến khu, Liệu có thời gian nghĩ đến năm 1945, nhất là năm 1946, khi đang ở trọng trách “loa” phát ngôn của Chính phủ. Quyết tâm kháng chiến của Hồ Chí Minh buộc Liệu, như hàng triệu con người khác, phải bước vào cuộc gian khổ, sinh tử. Nhưng ông đã nhận thức lại con người Lãnh tụ cũng như bản thân. Tôi thấy mình đã chủ trương tả khuynh, phiêu lưu, mạo hiểm, không thấy rõ hoàn cảnh…, muốn áp dụng những phương sách thích nghi ở nước khác vào nước ta bấy giờ… Nói tóm lại, tôi đã bị tình cảm cá nhân chi phối, thiếu quan điểm duy vật biện chứng nên không nhìn thấy hiện tại và cũng không nhìn rõ được tương lai. (Dự thảo nói trên)
Bị tình cảm cá nhân chi phối có lẽ là ðặc ðiểm lớn nhất của con nguời Trần Huy Liệu, làm thành ðiểm mạnh cũng nhu ðiểm yếu trong ông. Liệu luôn xốc nổi, chả bao giờ biết chờ thời. Bảo là nhân bản cũng ðuợc, bảo là thiếu sự lịch lãm của chính khách cũng chả sai. Liệu luôn luôn là mình, nói thế chắc ðúng nhất.