Trần Huy Liệu thấp nhỏ, không “đường bệ” tý nào, chân hơi khập khiễng vì có tật, mắt lại hay “rơi” lệ do không được giữ gìn hồi còn ở quê nên mang biệt danh “ông Loè”. Vậy mà theo ngôn ngữ tử vi, cung Thê của ông lại tươi tốt. Liệu chỉ có hai bà vợ chính thức là Trần Thị Tý, lấy rất sớm, đẻ 6 lần đậu 4, và Nguyễn Thị Hy tức Sửu, đẻ hai con. Bà Phạm Thị Bách tức Thu Tâm nữ sĩ đi với ông một chặng đường khoảng mươi năm, là một gánh tình chẳng dễ quên, tuy chẳng được bà Tý và đoàn thể công nhận nào...
Sau năm 1975, ông Phan Huy Lê, người trong giới sử, vào Đà Lạt, thì bà đến, tự giới thiệu là người thân Trần Huy Liệu. Ông Lê thuật lại cùng đi có người đàn ông. Bà Bách chỉ vào, bảo là chồng, sau đó rất tự chủ: “Sau này tôi có gặp một vài người nữa, nhưng không có ai nặng tình như với ông Liệu”. Ấn tượng của Phan Huy Lê về bà Bách là rất sắc sảo, thành thực, có khả năng biểu đạt cao.
Sau giải phóng miền Nam ít lâu, bà Bách “lội” ra Hà Nội, mục đích duy nhất là để thăm mộ Trần Huy Liệu. Bà ở 16 Phan Huy Chú, ngủ trên chiếc giường ông Liệu nằm, cùng với bà Tý. Khoảng năm 1996, người viết gặp được bà ở Sài Gòn vài ba lần, lúc tới thăm bà trong cái “ấp” ở Củ Chi thì đọc, ngay trong đêm, hồi kí “Những ngày xa xưa ấy” mới in bên Mỹ. Tâm trạng của bà đêm ấy là “cái này in trong nước thì có sao không?”.
Rồi bẵng đi. Bặt tăm luôn.
Phạm Thị Bách tức Thu Tâm, như trong hồi kí kể trên, ra Côn Đảo năm 1930, lúc 18 tuổi. Giờ đây, bà ở đâu, còn hay mất chả biết, nhưng người viết cứ xin phép đoán bà đẻ năm 1912 theo cách tính của người Tây. Bà quê Hải Dương, dòng dõi văn thân, bà nội là chị ruột ông Tán Thuật theo Cần Vương đánh Pháp. Ông bố là giáo thụ, mẹ làm ruộng, dệt vải, ưu tiên con gái út cho học quốc ngữ. Có người bạn gái lớn tuổi là chị Giáo Nhất, Bách quen biết “luôn” Nguyễn Thái Học cùng đám đồng chí Quốc Dân đảng của ông, cả “chị” Giang, người yêu Học. Sự giao du này hẳn đã gieo vào Bách sự cảm mến với những người yêu nước chống Pháp nói chung, những người Quốc Dân đảng nói riêng. Mà Trần Huy Liệu, cuối những năm hai mươi thế kỉ trước, là bí thư kì bộ Nam kì của Quốc Dân đảng, đang làm loạn Nam kì bằng những bài báo kí Nam Đẩu, Côi Vị trên các tờ Đông Pháp thời báo, Mín đàm nông cổ, Ngòi bút sắt, Rạng đông... , các vận động để tang Phan Chu Trinh, đòi thả Phan Bội Châu... Cuốn “Một bầu tâm sự” của Liệu phân tích thời cuộc, bàn kế sách cho quốc dân làm cô gái lớn lên ở phố huyện say mê lắm.
Đến nỗi mà, khi có người em con chú là Phạm Thị Hồng, vừa tốt nghiệp trường hộ sinh, rủ ra làm việc ngoài đảo thì nhận lời ngay. Đối với tuổi trẻ, gặp được người mình cảm mến là tất cả. Xa xôi, đến chốn lưu đày có là gì, thậm chí tưởng tượng cảnh nhìn được mặt nhau giữa trời nước còn lãng mạn hơn. Nhưng thực tế lại nghiệt ngã. Giữa bể cả, những hòn đảo chả có gì đặc biệt. Cây cối, dù là cổ thụ, xơ xác. Cỏ héo queo ôm lấy những con đường gập ghềnh sỏi cát. Công việc cũng ít, vừa hiếm người sinh nở vừa có người tù được phái ra giúp, nên Bách tha thẩn tới nhà thờ xem lễ. Rồi ra được cha “giác ngộ”, theo đạo thật. Học giáo lý rất chăm, tuy chả mấy tin, sau sáu tháng, Bách được đặt tên Thánh Theresa và sắp chịu lễ Thêm sức. Đấy cũng là 6 tháng thư từ, xướng hoạ với Trần Huy Liệu. Giờ thì thật khó để xác định cô hay người em họ đã gửi lời nhắn đầu tiên của Hồng đến Liệu - đang ở banh 2. Nhưng đó là thời gian Liệu đang là tù chính trị Quốc Dân đảng, có nhiều đồng chí quen biết Bách.
Những lá thư cuốn hình tổ sâu đan đi đan lại, nối nơi cầm cố với ngoài đời, cũng không khác với một nơi cầm cố nhiều lắm. Có thể hình dung trong lòng người con gái đầy hoài bão, khao khát một cuộc sống mới mẻ, mạnh mẽ ấy hai quá trình diễn ra khá nghịch ngược nhau. Đằng này, là “thần tượng” trần trụi, cụ thể, đương nổi loạn chống lại trật tự hiện hữu. Đằng kia là Nước Chúa vĩnh cửu, người ta hướng đến để có sự yên hằng. Bên ngoài là con chiên siêng năng ăn nhời cha, bên trong lại giao du với phản nghịch. “Đu đưa” giữa hai nhẽ, cô gái vừa mơ màng vừa tủm
tỉm cười.
Được 6 tháng, thì vụ “đánh lừa” Trần Huy Liệu - mà chả phải là để đùa cợt - tắt cái phụt. Đang học kinh trong nhà thờ, Bách bị điệu ra, tống về đất. Những mối liên hệ của cô đã bị nhà cầm quyền trên đảo biết. May không thành bạn tù với Liệu, chắc vì những thủ tục truy tố chưa đủ. Nhưng khi rời đảo, giữa tiếng còi tầu tu tu, cô chỉ muốn nhảy xuống biển quay lại với người ấy.
Bách đi, rồi Hồng hết hạn cũng về Sài Gòn, lại mở nhà hộ sinh Hồng Phúc. Năm 1935, cầm tờ “Tiếng vang” ra ở Hà Nội, đọc bài đánh Tự Lực Văn Đoàn, trái tim Bách lại trồi đập dữ dội. Hồng “lăn” vào các hoạt động thời Bình dân, đi suốt ngày, giấy tờ, thư từ, trong đó có cả của Liệu đến chả đọc bao giờ, phó cả cho Bách. Ban đầu, cô chị tưởng cô em, chắc là hơn vài tuổi, cũng yêu Liệu. Nhưng rồi tìm cách “thanh kiểm tra”, thấy trong tim Hồng chả chỗ nào có chỗ cho “thần tượng” của mình, Bách nối lại cuộc “đùa dai” bắt đầu từ trên đảo.
Hồng lấy chồng. Chả còn lý do gì để “náu mình”, Bách “ra công khai” bằng lá thư kể tình đầu, mong Liệu tha lỗi. Cái phải đến đã đến. Trong thư trả lời, Liệu nhận ngay Bách là “người vợ yêu quý của anh”. Họ đã gặp nhau trong tình trạng “tình trong như đã mặt ngoài còn chưa tỏ” thế nào? Dường như đã có một giai thoại. Rằng, vì Liệu không được phép vào Nam kì nữa, hai người hẹn giáp mặt ở Huế, với “kí tín ám hiệu” anh cầm quyển sách, em mặc áo dài mầu vàng. Cầu Trường Tiền hôm đó chứng kiến đôi nam nữ, người thật sang trọng, kẻ rõ tiều tuỵ, lượn đi lượn lại mãi rồi mới bắt nhời nhau.
Những ngỡ ngàng, e ấp qua đi, còn lại là sóng tình dữ dội. Chắc chắn Liệu được hưởng ở Bách những cảm giác mà Tý không thể đem lại. Trẻ trung, thanh sắc hơn, đã đành. Nhưng cái tuyệt diệu là những câu chuyện. Đồng điệu, lời mới ra đã hiểu bao nhiêu ý nhị, khác hẳn “chính thất” chân phương nói thế nào biết thế nấy. Hai bên đều có những mối quan hệ, sự yêu ghét chung, đều lui tới tòa soạn này, hội thơ nọ. Bách chả lạ gì cái gia đình nhỏ, nheo nhóc của Tý, cũng thuộc rành rành cái trụ sở khét tiếng của báo Tin tức, nơi có những con người mà thực dân chả ưa gì như Đặng Xuân Khu, Trần Đình Long, Khuất Duy Tiến. Người con gái trẻ có ngán ngại gì đòn ngầm chính quyền có thể dành cho mình không? Chắc là có. Nhưng đã yêu thì kể gì. Được nghe cái giọng truyền cảm, vang, từng thuyết phục cả biển người thủ thỉ cho mình mình nghe, há chẳng quản những nguy hiểm rình rập. Vì chả muốn “ngứa mắt” Tý, tuy đã “chị chị em em” xin nhận làm hai, đôi người yêu nhau thỉnh thoảng lại hẹn hò ở những nơi xa xôi. Tự do giữa biển trời, chỉ có hai trái tim đồng điệu, không cần giữ ý giứ tứ khi muốn bầy tỏ, chả phải là hơn à.
Sau những bỡ ngỡ, e dè, sự đụng chạm ban đầu, là những khám phá về tính cách đích thực của nhau. Bách nhận thấy Liệu rất tiết kiệm, không chịu xài hoang phí bao giờ. Chấp nhận điều ấy, cô lại ấm ức vì anh ghét cả ăn mày, cho đó là không tự lập. Về phần mình, Liệu bắt đầu làm quen với nếp cẩn thận, chau chuốt về ăn mặc của Bách mỗi khi ra ngoài. Sức khoẻ của Bách cũng là một vấn đề: cô không dai sức, chịu được gian khổ như Tý. Có rất nhiều “đỗi” để so sánh trong lòng người đàn ông đa mang. Nhưng mỗi lần đi đâu với Bách, Liệu đều thẳng thắn nói với vợ. Một người bạn gái chung của cả hai khuyên họ làm vậy vì “ngay từ buổi đầu, anh phải giữ lấy cái quyền làm chồng để sau này dễ xử”. Có lẽ những đận đi xa rất tốn kém ấy, anh đàn ông lại không phải là người chu cấp chính. Đoàn thể có tiền, Liệu còn viết báo rất nhiều, chắc không thể sinh lợi bằng ngôi nhà hộ sinh ở Sài Gòn, vừa đổi sang tên mới Hạnh Phúc.
Nhưng hạnh phúc nào thì cũng có giá, đòi “trả” trong những tình huống bất thường đến oái oăm. Một đêm khuya thức giấc, anh Liệu thở dài và nói với tôi thế này:
“Em có biết những lúc chúng ta vui vẻ thế này thì má thằng Diễm (tức bà Tý) ở nhà làm gì không?”
Tôi giật mình, thấy rờn rợn, ấp úng trả lời:
“Em làm sao biết được”.
Anh Liệu ngồi dậy nói một cách buồn rầu:
“Bà ấy ăn trầu em ạ!”.
Tôi ngạc nhiên: “Sao lại ăn trầu vào nửa đêm?”
“Thì bà ấy buồn mà lại. Em có biết rằng anh vắng nhà bao nhiêu đêm thì bấy nhiêu đêm bà ấy thức suốt sáng. Những lúc ấy dĩ nhiên phải ăn trầu miếng nọ tiếp miếng kia chứ ngồi không sao được”.
Tôi ngẩn ngơ hỏi:
“Thế tại sao anh lại biết được? Chị ấy nói với anh à?”
Anh Liệu lắc đầu: “Không, chị ấy không bao giờ nói với ai cả”.
“Thế sao anh biết được?”
“Chị Khu (vợ ông Đặng Xuân Khu, tức Trường Chinh) nói với anh”.
Tôi giật thót mình: “Trời ơi! Sao mà chị ấy ác thế? Muốn cho người ta tan cửa nát nhà hay sao?”
Anh Liệu lắc đầu nhè nhẹ: “Chị Khu sợ anh Khu sẽ bắt chước anh”
Tôi kêu lên: “Trời ơi! Mấy mươi đêm thức suốt sáng khổ đến thế ư?”.
Tôi bỗng thấy như có một mũi dùi nung đỏ đâm suốt qua trái tim mình. Tôi thật sự đã hiểu hết cái khổ của một kẻ yêu chồng người khác.
Giấc mộng yêu đương bừng tỉnh, hạnh phúc bỗng vụt tan đi như làn khói gặp cơn gió lốc. Tôi nắm chặt tay anh Liệu, giọng run lên: “Làm thế nào bây giờ! Làm thế nào bây giờ!”.
(Những ngày xa xưa ấy. Hồi kí của Phạm Thị Bách. Thế kỉ. Hoa Kỳ 1996)
“Lắc lư” giữa hai người đàn bà, hẳn Trần Huy Liệu phải thấm thía sức nặng của hai chữ “tình” và “nghĩa”. Một mặt, là người vợ ngang tầm tuổi, đã bắt đầu héo đi, dù có sức chịu đựng hầu như vô biên những tai ách do cuộc sống hoạt động của chồng đem lại. “Bên này” là người con gái trẻ trung nói mãi những chuyện đời mà không hết. Anh cố gắng làm mọi chuyện để đôi bên được đầy đặn, như về Hải Dương thăm nom mẹ Bách ốm nặng, đi đưa đám bà cụ, chắt chiu tiền nong đỡ đần Tý. Và “có hiếu” với con cái lắm. Như lúc Diễm 9 tuổi, không được vào trường nào vì “con nhà xấu”, ông bố đưa lên báo đấu.