Cái chết là sự kiện đặc biệt trong đời người. Có thể vô nghĩa, lại có thể vô vàn ý nghĩa, thì chả ai tránh nó được nào. Ở tuổi gần bẩy mươi, Trần Huy Liệu hẳn phải nghĩ nhiều đến nó.
Một nhà văn “tổng kết” về ba cách chết thông thường. Một là từ từ, rất từ từ, ròng rã từ vài tháng đến cả chục năm, đông cứng từng bộ phận, trên thực tế là cái xác sống. Người thân rất mệt mỏi, đám tang sẽ ít nước mắt vì sự chuẩn bị đã quá kỹ. Thứ nhì, cách thú vị nhất: là ốm trong một tuần, vợ con được tề tựu, chăm sóc, động viên, hy vọng rồi thất vọng. Sự ra đi sẽ mát mẻ, người ở lại an lòng vì đã không phụ người đi. Thứ ba, để lại nuối tiếc, ân hận nhiều nhất: bỗng nhiên đứt phựt.
Ông chọn cách thứ ba, dở dang nhất, đặt người ở lại trước ngổn ngang ứng xử. Ai sẽ thay mặt cơ quan điều hành đám tang với muôn ngàn rắc rối. Linh cữu quàn ở trụ sở Mặt trận Tổ quốc trên phố Tràng Thi, tức là nghiêng về tư cách dành cho nhân sĩ, trí thức. Bà Tý nhất định không cho bà Sửu xuất hiện ở đám tang. Điếu văn phải đánh giá thế nào đây về con người đã từng trải qua những sự kiện rất lớn, sau này đốc chứng đa sự?
Cơ quan tổ chức tang lễ là Ủy ban Khoa học xã hội và viện Sử cứ rối bời. Ông giáo sư phó chủ nhiệm Uỷ ban đến bàn bạc với đôi bên gia đình. Bà Sửu thỉu đi, chấp nhận đề nghị “không ra Tràng Thi, tránh một sự ồn ào rất có thể xẩy ra để giữ gìn uy tín cho anh Liệu”. Cuối cùng mọi sự cũng xong. Nửa đêm, ông “gặp” lại người đàn bà đã làm trái tim mình loạn nhịp, đi đến những quyết định trái ý đoàn thể.
Tang lễ “tiến hành trọng thể” như báo chí đưa. Đằng sau là những chuyện không thể nói ra. Gia đình mỗi người mỗi tâm trạng. Trưởng ban tang lễ Hoàng Văn Hoan, từ chối đọc điếu văn như lệ định. Thay mặt, lại là một người cũng chả xuôi chèo mát mái lắm với Liệu. Điếu văn đăng báo Nhân dân được “dịch chuyển” chút ít phần đánh giá chuyên môn sử học, cho ông là một “người sưu tầm”.
Trong cuộc đời sáu mươi tám năm, ít nhất Liệu đã bốn lần cảm thấy cái chết lạnh lẽo thế nào. Chuyến đi biển thời thanh niên với cụ Bùi Trình Khiêm, cú ngã xuống hang yến ở Côn Đảo, rồi máy bay đuổi dưới chân đèo Kháng Nhật. Trước đó mấy năm, ông lại trải qua cái chết lâm sàng mấy ngày, để rồi khi qua khỏi, đã tự giễu mình không được giống người tráng sĩ chống kiếm một đi không trở lại như trong câu thơ cổ. Cứ sau mỗi lần như vậy ông lại dai nhanh nhách, nghĩa là thấy yêu cuộc đời, đa mang đèo bòng nhiều, ưu tư và hăng hái hơn.
Liệu có thói quen ghi nhật kí đều đặn, nhất là từ năm 1946, khi cuộc sống không còn mấy nguy hiểm. Hơn hai chục quyển sổ nhỏ, đa phần giấy xấu, ghi chi chít những chuyến đi, nhận xét, dự cảm. Đến những ngày hòa bình, tưởng như “tha hồ quan sát bản thân” được, thì thói quen ấy lại thưa dần rồi mất hẳn. Tâm trạng ngổn ngang, khó “gọi ra” được hơn ư? Hay cảm giác bất ổn? Có lẽ là cả hai. Không khí của những năm sáu mươi thế kỉ trước khá nặng nề với nhiều “lão thành”. Trong một kiểm điểm cuối đời, ông tự nhận “càng ngày càng hay cáu bực”, “trong cách mạng giải phóng toàn tâm toàn ý, sang đến cách mạng dân tộc dân chủ phải dùng đến lí trí nhiều”... Hai tuần sau khi mất, có chiếc xe con đến 16 Phan Huy Chú thu hết nhật kí, lai cảo, bản thảo của Liệu về xem xét, để hai năm sau trả lại.
Văn tự về cuộc sống riêng, có lẽ là duy nhất lúc cuối đời, lại xuất hiện dưới dạng khá tạm bợ, trong một cuốn sổ, lẫn với những tư liệu khác. Di chúc của Liệu nói mình không có tài sản gì để lại ngoài sách vở, sau này muốn được để vào chỗ lưu niệm. Sau phần về gia đình lớn, ông nhắc đến vợ hai là Nguyễn Thị Hy tức Sửu, có hai con là Quang và Chiến, muốn họ được cùng dự lễ tang mình.
Mùa hè năm 1969 không nóng lắm, Liệu làm việc như có ma đuổi. Ông vẫn khoẻ, chỉ thỉnh thoảng đau đầu, ít ngủ hơn. Không ít xung động ngoài bàn viết ảnh hưởng. 27 tháng 7, ngày Thương binh Liệt sĩ, ông chuẩn bị bài nói rồi đến cơ quan. Cần phải động viên những ai có thân nhân ngoài chiến trường, nhắc nhở mọi người đừng quên xương máu chiến sĩ. Nhưng đó lại là một đề tài quá nhạy cảm. Bản thân ông có ba con trai đang tại ngũ, người con rể bác sĩ quân y vừa hy sinh, quá đủ cho một cơn kịch phát.
Đang nói người cứ ngả dần ra. Đưa vào viện đến đêm hôm sau thì tắt hẳn, không trối lại một lời. Đêm rằm tháng sáu của năm Kỷ Dậu đã chấm dứt cuộc đời sáu mươi tám năm “con người của thế kỉ” như ông tự đùa.
Gọi Liệu là “con người của thế kỉ” hẳn là không chính xác. Nhưng ông đã sống quá nhiều, trải qua những sự kiện, gặp gỡ những nhân vật chủ yếu cùng thời. Thế kỉ XX quá nhiều dòng chảy, lắm biến động, đứng ở thời điểm này, vị trí này nhìn một con người, một sự kiện sẽ thâý những đánh giá hết sức khác nhau, đôi khi mâu thuẫn. Nhưng có thể hình dung cuộc đời Trần Huy Liệu một cách đơn giản thế này chăng: giữa những “dòng”, “lạch” ấy, ông đã bơi quần quật, xô từ “bờ” này sang “bờ” kia, có chỗ đỗ tưởng là hợp, là yên ấm bỗng lại nóng ran, bất trắc, thế là lại tìm kiếm bến mới. Suốt đời lang thang giữa các chủ thuyết, ông đã thấy và chấp nhận những cái chỉ của riêng mình. Quần quật, nặng nợ, đơn giản là vì ông cứ sống hết mình. Nếu sống lại kiếp khác, chắc Liệu sẽ không chọn được một số phận thư nhàn hơn để “yên hưởng”.