Đứa Trẻ Cát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cánh Cửa Của Cát
19

❊ ❊ ❊

CÁNH CỬA CỦA CÁT

Một người đàn ông có đôi mắt màu xám ti hí gần như nhắm tít lại do mệt mỏi và thời gian, bộ râu có mùi khét bởi mùi cây lá móng, đầu vấn một chiếc khăn màu xanh, ngồi bệt trên mặt đất, chân tay duỗi ra như một con vật bị thương, mắt hướng về phía người lạ đang chìm đắm trong giấc ngủ nhưng đôi mắt vẫn mở to, ngước lên trần nhà, chúng không kiếm tìm cái gì cả mà để mặc cho những giấc mơ, những chiếc gương, những con suối nguồn, những con ruồi, những con bướm và tháng ngày đi qua.

Đàn ông và đàn bà lặng lẽ bất động. Họ sợ phạm phải điều tàn nhẫn là đánh thức con người xa lạ, tù nhân của điều bí mật mà họ mới chỉ biết được một vài mẩu chắp vá, điều bí mật đó đang kích thích trí tò mò của họ. Họ suy nghĩ và chờ đợi. Ánh sáng cuối ngày chuyển dịch vị trí của đồ vật, vẽ bóng những đồ vật đơn giản nhất, tạo cho chúng những sắc màu và những vẻ huy hoàng ngắn ngủi, ánh sáng lướt qua trên những gương mặt, dừng lại ở một ánh mắt, rồi lại quét sáng toàn cảnh mà không thay đổi gì cả. Người đàn ông có đôi mắt xám cố đứng dậy. Khó khăn lắm ông ta mới nâng được đôi chân dậy, rồi phải tựa vào một chiếc ghế và mệt nhọc lê người tới chỗ lối ra của tiệm cà phê. Chiếc áo choàng cũ kĩ và bẩn thỉu trùm kín ông ta. Người ta có thể nhận ra những đường nét trên gương mặt mà ông ta cố tình dùng khăn che giấu. Ông ta ôm một chiếc cặp dưới cánh tay, đi đến chỗ cử tọa đang đứng im, dừng lại và ngồi trên một chiếc ghế ọp ẹp. Một người đàn ông đưa tay ra hiệu, đề nghị ông ta không đung đưa chiếc ghế để khỏi gây tiếng ồn, nhưng chiếc ghế bị hỏng vẫn nghiến ken két. Ông ta xin một cốc nước. Một người bên cạnh trao cho ông già cốc nước đã uống vơi một nửa. Ông già lôi từ trong một chiếc cặp ra một túm bột vàng, thả vào trong cốc nước rồi uống cạn, miệng thầm thì cầu Chúa làm cho cơn đau của ông dịu bớt và chữa lành bệnh cho ông. Ông già đặt chiếc cốc xuống, gật đầu cảm ơn người bên cạnh, rồi đặt chiếc cặp lên bàn, mở cặp và lôi ra một cuốn vở đã cũ. Không báo trước, ông già nâng cao cuốn vở và nói: “Tất cả các bí mật là ở đây… Xin Chúa chứng giám…”

Đám cử tọa nhốn nháo, bỏ rơi người xa lạ đang ngủ; họ quay lưng lại phía ông ta, bỏ mặc ông ta trong giấc ngủ say nồng. “Mọi chuyện nằm cả trong cuốn sách này… và các bạn sẽ biết tất cả.. ”, người đàn ông vấn khăn nhắc lại. Câu nói được nhắc đi nhắc lại nhiều lần với giọng nói thân quen có tác dụng như chiếc chìa khóa thần kì mở tung những cánh cửa bị bỏ quên, hoặc đã bị khép lại. Chỉ tay vào người mù, ông ta nói: “Chúng ta sẽ nghèo đi một khi người đàn ông này chết. Vô số những sự việc - những câu chuyện, những giấc mơ và những đất nước - sẽ chết cùng với ông ta. Chính vì vậy mà tôi phải ở đây, một lần nữa tôi lại đến đây với các bạn, trong vài tiếng đồng hồ, hoặc vài ngày thôi. Mọi vật đã thay đổi từ lần gặp sau cùng đó. Một số người đã ra đi, số khác lại đến đây. Giữa chúng ta, là tro bụi và sự quên lãng. Giữa các bạn và tôi là một sự vắng mặt dài ngày, một sa mạc mà tôi đã lang thang, một nhà thờ nơi tôi sống, một sân thượng nơi tôi đã đọc và đã viết, là ngôi mộ nơi tôi đã ngủ. Tôi đã dành thời gian để đi đến cái thành phố mà tôi không hề quen biết ai và không thông thạo một chỗ nào này. Tôi đã ra đi, bị đuổi ra khỏi quảng trường. Tôi đã đi rất lâu trên những cánh đồng và qua những thế kỉ. Mọi chuyện ở cả đây... Xin Chúa chứng giám...” Ông ta ngừng lại một lúc, nhìn chằm chằm vào quyển vở, lật giở từng trang: Những trang giấy trắng tinh. Kiểm tra kĩ từng trang, người ta nhận ra dấu vết của những nét chữ bằng mực nhạt màu, những hình vẽ nhỏ không đáng kể bằng bút chì đen. Ông ta nói tiếp: “Cuốn sách này không có chữ. Nó bị tàn phá. Tôi đã bất cẩn mở ra trong một đêm trăng tròn. Khi soi cuốn sách dưới trăng, ánh sáng của mặt trăng đã lần lượt xóa sạch những con chữ. Không còn gì tồn tại ngoài cái mà thời gian đã kí thác vào trong cuốn sách này…, tất nhiên, còn sót lại những đoạn manh mún, một số âm tiết…, mặt trăng đã chiếm lĩnh trọn vẹn câu chuyện của chúng ta. Một người kể chuyện bị mặt trăng làm cho khuynh gia bại sản, bị nó cướp bóc không một chút liêm sỉ còn có thể làm được gì nữa kia chứ? Ông ta buộc phải im lặng, trốn chạy rồi, đi lang thang, tôi đã chứng kiến rất ít. Tôi muốn quên đi tất cả. Tôi đã không thành công. Tôi đã gặp những kẻ lang băm và lũ kẻ cướp. Tôi bị lạc trong những bộ lạc du mục đang xâm chiếm dần các thành phố. Tôi đã quen với hạn hán, súc vật chết, nỗi thất vọng của con người trên những cánh đồng. Tôi đã bước những bước rất dài từ bắc xuống nam và từ phía nam tới vô cùng. ”

Người mù thức dậy. Mái đầu ông ta động đậy. Đôi mắt mở to không nhìn vào một cái gì cả. Ánh mắt vẫn bị neo lại như ngày đầu tiên ông bị mù lòa. Ông ta đứng dậy. Một chiếc ghế bỏ trống rơi xuống, tạo nên một tiếng động khó chịu. Một cậu con trai chạy nhào lại đỡ lấy tay ông. Rồi cả hai đi ra ngoài quảng trường lúc này đã bớt nhộn nhịp. Ông già lẩm bẩm vài câu vào tai cậu bé, cậu ta dừng lại một chốc rồi dẫn ông ta đến chỗ đám đàn ông và đàn bà đang ngồi bệt dưới đất, trên những tấm chiếu trong quán cà phê. Họ đang ngồi xung quanh một người đàn bà mặc đồ trắng đang chậm rãi nói chuyện. Mọi người dành cho người mù một chỗ, ông ta ngồi xuống, hai chân khoanh tròn. Ông chú ý lắng nghe giọng nói của người đàn bà. Như vậy, ông ta đã chuyển từ một câu chuyện mà ông ta tin là đã có chìa khóa sang một câu chuyện mà ông ta không biết sự bắt đầu cũng như ý nghĩa của nó. Ông ta sung sướng vì đến rất đúng lúc và được nghe câu cần nghe cứ như chuyến viễn du của ông giữa thành phố Ả Rập đang tiếp tục vì sự thích thú của ông ta cùng với niềm đam mê mất phương hướng và đắm chìm trong khu vườn đấy những mê đạo mà ông ta đã vẽ nên trong thư viện ở Buénos Aires. Người đàn bà vẫn tiếp tục câu chuyện: “…bằng cảm giác, và cả thị giác nữa! Hoặc là thanh kiếm này chỉ là một ý niệm của một hoàng tử bị ma ám! Tuy nhiên lưỡi kiếm rực sáng dưới mặt trời vào buổi trưa, và những người đàn ông đang lau rửa những viên đá lát còn vương những vết máu đọng.. ”

Ông già mù gật đầu đồng ý.

Ở một phía khác của quảng trường, trong tiệm cà phê, người đàn ông quấn chiếc khăn xanh tiếp tục câu chuyện:

“Sở dĩ thành phố của chúng ta có bảy cửa là vì nó được bảy vị thánh yêu quý. Nhưng tình yêu ấy đã trở thành một thứ bùa mê. Từ khi dám kể ra câu chuyện và số mệnh của lần sinh thứ tám, tôi biết rõ chuyện này. Cái chết đã sờ sờ ra đó, bên ngoài kia kìa, nó đang quay tròn như một cái bánh xe của sự ngẫu nhiên. Nó có một bộ mặt, những bàn tay và giọng nói. Tôi quen biết nó. Nó đã đi cùng với tôi từ lâu. Tôi là kẻ thân thuộc với thái độ vô sỉ của nó. Nó không làm cho tôi sợ hãi. Nó mang theo tất cả những nhân vật trong những câu chuyện của tôi. Nó cắt đi của tôi mọi nguồn sống, Tôi đã rời bỏ quảng trường này không chỉ vì người ta đã xua đuổi chúng tôi đi, mà còn vì cái chết lần lượt thanh toán từng nhân vật chính của tôi. Buổi tối, tôi ra đi, câu chuyện kết thúc giữa chừng với lời hứa sẽ tiếp tục cuộc phiêu lưu với những thính giả trung thành của tôi vào ngày mai. Khi tôi trở lại, thì câu chuyện đã hoàn thành. Cái chết đã bám riết những nhân vật chính suốt đêm qua. Cuốc sống và sự đi lại bị ngăn cản, tôi lại trở lại với những mẩu chuyện. Trí tưởng tượng của tôi lại bị đổ sụp. Tôi đã cố gắng khôi phục, điều chỉnh lại những đoạn bị biến mất một cách phũ phàng đó. Công chúng không bước đi. Cái chết mà tôi nghe rõ tiếng cười và những lời châm chọc của nó từ xa đang cười cợt chế giễu tôi. Tôi nói lẩn thẩn, ấp a ấp úng. Tôi không còn là một người kể chuyện nữa, mà là một gã lang băm, một con rối giữa những ngón tay của thần chết. Lúc đầu, tôi không hiểu điều gì đã đến với tôi. Tôi kết tội trí nhớ của tôi đã bị mòn mỏi bởi tuổi già. Nhưng đó không phải là vấn đề trì trệ, bởi vì tôi còn cả một kho dự trữ đầy ắp những câu chuyện. Chỉ cần bắt đầu kể chúng ra là chúng lại tự vắt kiệt những tinh chất của mình. Tôi trải qua nhiều đêm không ngủ. Rồi một trong những đêm đó, cái chết xuất hiện ở chỗ tôi dưới những đường nét của một nhân vật, đó là lần sinh thứ tám của Ahmed hay Zahra, và cái chết đã đe dọa tôi bằng tất cả sấm sét của bầu trời. Hắn quở trách tôi là đã phản bội lại điều bí mật, là đã bằng sự hiện diện của mình làm nhơ nhuốc vương quốc của những điều Bí mật, nơi mà điều bí mật đang trú ngụ ở chỗ sâu kín nhất. Con người tôi là nơi ẩn trú của điều bí mật tối thượng. Hắn lục lọi khắp người tôi. Thật là bất cẩn! Thật là phi lý hết sức! Nỗi bất hạnh của tôi đã bắt đầu, ấy là một nỗi bất hạnh mênh mông. Tôi nhìn thấy sự điên loạn đang tiến lại gần. Tôi không còn mặt mũi nào để phô diễn trước công chúng nữa. Tôi xấu hổ. Thứ bùa mê này là nhằm vào tôi. Cả các bạn và tôi sẽ không bao giờ biết được điểm kết thúc của câu chuyện, không thể vượt qua mọi cánh cửa. Tôi cần phải trốn đi. Tôi đã cố gắng tự thay đổi, làm những nghề khác. Làm nhà văn được mọi người biết đến. Tôi không có khách hàng. Làm thày thuốc, tôi không có một chút thành công nào. Là một nhạc công chơi đàn luýt, mọi người phải bịt tai. Chẳng có việc gì thành công cả. Thật là một kẻ đáng bị nguyền rủa. Tôi đã bị nguyền rủa và không có lấy một chút hy vọng nào. Tôi làm một cuộc hành hương đến vùng cực nam của đất nước. Tôi đã đến được sau hàng tháng trời đi bộ và lang thang trong những khu làng xa lạ, trong cơn điên loạn của mình, những khu làng đó trở thành những thứ bề ngoài, chỉ là cái cơ thể trống rỗng bị cái chết đã từng nhạo báng và tra tấn tôi đặt ra giữa con đường mà tôi đang đi. Tôi nhớ lại một buổi tối, khi cơ thể mệt nhoài, tôi đã ngủ mê mệt dưới một cái cây tại một địa điểm hoang vắng chỉ có những phiến đá và cái cây này thôi. Ngày hôm sau, khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang ở trong một nghĩa địa, một đám người ăn vận toàn màu trắng đang chôn rất nhiều trẻ con trong một cái hố lớn. Những đứa trẻ không vải liệm, trần trụi. Tôi kinh hãi. Tôi đi đến bên chiếc hố. Và tôi nghĩ là đã nhìn thấy xác của thằng con trai của tôi. Tôi gào lên đau đớn. Một bàn tay rất khỏe bịt lấy miệng tôi, chặn tiếng gào thét của tôi lại. Tôi như bị ma ám và như có một định mệnh nào đó dẫn lối. Tôi bước đi rất lâu và rồi sau đó lại quay trở lại đúng điểm xuất phát một cách ngẫu nhiên không thể nào giải thích được. Những nhân vật mà tôi coi là đã sáng tạo ra, thoắt hiện ra trên con đường của tôi, cản đường và đòi tôi thanh toán những nợ nần. Tôi lại bị rơi vào đúng cái bẫy mê sảng của chính tôi. Những ngón tay chỉ cho tôi sự trừng phạt nhân danh nghĩa xã hội và tố cáo sự phản bội của tôi. Ông bố Ahmed giam giữ tôi trong một ngôi nhà cổ và yêu sách tôi quay trở lại quảng trường kể lại câu chuyện theo một cách khác. Vẻ mặt ông ta cau có, hung dữ và có thể nói là đã ở trước ngưỡng cửa địa ngục rồi. Bà mẹ đứng sau lưng ông ta, ngồi trong một chiếc xe đẩy nhỏ. Bà ta liên tục khạc nhổ xuống đất. Cặp mắt lờ đờ của bà ấy nhìn tôi chằm chặp làm tôi sợ hãi. Trên một con đường nhỏ tôi cũng gặp Fatima. Cô ta không còn ốm đau bệnh tật nữa. Hôm đó là ngày thứ sáu, giữa ban ngày. Cô ấy đón đường tôi và nói: “Tôi là Fatima. Tôi đã được chữa khỏi bệnh.” Tôi nhìn thấy cô ta ôm rất nhiều hoa, vui vẻ như một người vừa hoàn thành việc báo thù cho số mệnh của mình. Fatima mỉm cười. Chiếc váy trắng - giống như áo cưới - gần như còn mới nguyên; đúng ra thì có tí chút đất bám nơi nếp gấp. Cô ta nói với tôi bằng chất giọng trong trẻo: “Bây giờ thì ông đã nhận ra tôi rồi chứ? Tôi là người mà ông đã chọn làm nạn nhân của nhân vật của ông. Ông đã nhanh chóng thải loại tôi. Bây giờ tôi trở về thăm lại những địa điểm và quan sát những sự vật mà tôi muốn chúng tồn tại vĩnh cửu. Tôi thấy đất nước chẳng có gì thay đổi. Còn ông, ông biến mất. Ông đã làm cho câu chuyện của ông lưu lạc khắp nơi và lí trí của ông cũng bị ông làm cho lạc hướng. Mặt đất rất khô khan, nhất là khu vực phía nam. Tôi không biết gì về phía Nam. Tôi trở lại trên từng bước chân câu chuyện của ông. Tôi đếm những xác chết và đợi chờ những con người sống sót. Tôi không có cái gì chống chính tôi cả. Tôi thuộc về sự vĩnh cửu mà ông đã nói tới mà không biết. Đất nước không có gì đổi thay, hay đúng hơn là tôi thấy mọi vật còn trở nên nghiêm trọng hơn. Thật là thú vị! Con người ta sống hay tích lũy thù hận; có kẻ sỉ nhục họ hàng ngày; thế mà họ chẳng động đậy gì cả, và rồi một ngày, họ nhào cả xuống phố đập phá tất cả. Quân đội tới can thiệp và bắn vào đám đông để lập lại trật tự. Sự im lặng và mái đầu dưới cánh tay. Người ta đào những chiếc hố lớn rồi ném những xác người xuống đó. Việc này trở thành kinh niên. Khi bị đau ốm, tôi không biết điều gì đang xảy ra xung quanh mình. Tôi chống chọi với mọi thứ khủng hoảng và tôi đợi chờ sự giải thoát. Bây giờ, tôi nghe thấy tất cả, nhất là những tiếng kêu thét của con trẻ và những tiếng súng nổ. Thật là ngu xuẩn khi phải chết bằng một viên đạn lạc khi chưa đến tuổi. Tôi nhìn thấy đám trẻ con sửng sốt chạy đến. Những đứa trẻ thật đáng thương!...

Fatima dừng lại một chốc, lôi từ trong chiếc túi bị những bông hoa chà là che kín mấy quả chà là này đi, thứ quả này rất ngon. Đừng sợ gì cả, đó không phải là thứ quả người ta đặt trên mặt, trên mắt của người chết đâu. Không phải đâu, đây là những quả chà là mà tôi mới hái sáng nay…, ông ăn đi, ông sẽ nhìn thấy rõ hơn đấy!... ”

Sự thật, sau khi ăn ngốn ngấu những quả chà là, tôi nhìn sáng hơn thật, sáng tới mức tôi không còn nhìn thấy gì nữa. Tôi bị lóa mắt bởi luồng ánh sáng rất mạnh, tôi chỉ nhìn thấy những chiếc bóng được gọt tỉa trong một thứ ánh sáng trắng muốt. Tất nhiên, không có một ai đứng xung quanh tôi cả. Fatima cũng biến mất. Tôi chớp mắt. Càng chớp, tôi càng cảm thấy đau. Tôi hoàn toàn bị câu chuyện này và những người liên quan cuốn hút. Các bạn biết đấy, không mê tín, không nên đùa cợt với những chuyện như vậy! Những câu chuyện người ta kể giống như những địa điểm. Chúng là nơi trú ngụ của những con người mà chúng lệ thuộc trong thời gian xa xưa, không nhất thiết là những cái mà người ta gọi là những tư duy. Một câu chuyện, cũng như một ngôi nhà, một ngôi nhà cũ kĩ với những cấp độ, những tầng lầu, những căn phòng, những hành lang, những cửa ra vào và cửa sổ, những kho chứa, hầm rượu và hang động, những khoảng không gian vô ích. Những bức tường được lưu giữ trong kí ức. Hãy cào vào một hòn đá xem, hãy dỏng tai lên mà xem, các bạn sẽ nghe được rất nhiều thứ! Thời gian nhặt nhạnh những thứ mà ban ngày mang giữ và ban đêm phân tán. Nó giữ cả lại và bảo vệ. Chứng nhân, ấy chính là đá. Tình trạng của đá. Mỗi phiến đá là một trang viết, được đọc và gạch xóa. Tất cả mọi thứ đều được lưu giữ trong từng hạt đất. Một câu chuyện. Một ngôi nhà. Một cuốn sách. Một sa mạc. Một chuyến lang thang. Sự ăn năn và lòng sám hối. Các bạn có biết rằng tha thứ chính là che giấu tội ác không? Tôi không có vinh quang cũng chẳng có hào quang đưa tôi lên thiên đường. Tôi đã quên mất năm lời nguyện cầu. Tôi nghĩ rằng suối nguồn nơi tôi chắt lọc lấy những câu chuyện có lẽ sẽ không bao giờ cạn. Giống như đại dương. Như những áng mây theo nhau, thay đổi nhưng luôn cho ta những giọt mưa. Tôi kiếm tìm lời xin lỗi. Ai dám thuận cho tôi có được điều quên lãng này? Người ta nói với tôi rằng một nhà thơ vô danh đã trở thành Thánh của những hạt cát bao phủ và che giấu có thể giúp được tôi. Tôi ra đi. Tôi bị vặt trụi mọi thứ và tôi đã đi bộ theo đoàn người. Tôi đã bỏ rơi tất cả. Tôi mặc toàn đồ len và cứ nhằm hướng nam tiến bước, đầu không hề ngoảnh lại. Tôi không còn gia đình, nghề nghiệp, không còn gì ràng buộc nữa. Trước đây, tôi sống thật vô tư không lo gì tới ngày mai. Tôi có một hội đoàn đăng kí ở quảng trường. Tôi có thính giả trung thành và rất lưu tâm. Những câu chuyện của tôi đã làm cho cuộc đời tôi có ý nghĩa. Tôi ngủ yên bình. Tôi lặt những câu chuyện từ những người khác, cho tới một ngày, một người đàn bà đáng thương ở Cảng Alexandrie đến thăm tôi. Người dàn bà mảnh mai, tóc màu nâu, ánh mắt luôn nhìn thẳng vào mọi vật. Trong số tất cả những người kể chuyện trên quảng trường mà bà ta nghe, bà ta chỉ chọn có tôi. Bà ta liền nói ngay với tôi: “Tôi đã nghe tất cả mọi người kể chuyện, chỉ có ông là có khả năng kể được câu chuyện về ông chú mà thực ra là bà dì của tôi! Tôi rất cần được trút bỏ gánh nặng của cái điều khó hiểu này là một bí mật từ lâu đã đè nặng lên gia đình chúng tôi. Người ta đã khám phá ra con người thật của chú tôi vào đúng cái ngày ông ấy chết. Từ ngày ấy, chúng tôi sống trong cơn ác mộng. Tôi nghĩ rằng nếu công khai cho mọi người biết rõ câu chuyện này thì người ta sẽ biến nó thành một truyền thuyết cũng nên, và, cũng như mọi người biết đấy, những huyền thoại và truyền thuyết bao giờ cũng dễ chịu hơn là sự thật nghiêm túc. ”

Người đàn bà kể chi tiết cho tôi nghe câu chuyện về Bey Ahmed. Câu chuyện kể những hai ngày mới xong. Tôi vừa chăm chú nghe vừa nghĩ tới những điều mà tôi sẽ có thể làm được từ những dữ kiện này, và làm sao để cho nó hòa nhập được vào đất nước của chúng tôi. Sau hết, có rất ít sự khác biệt giữa 2 xã hội Ả Rập và Hồi giáo, phong kiến và cổ truyền của chúng tôi. Tôi đã hỏi tại sao bà ta lại chọn tôi. Bà ấy nói với tôi, cũng có thể là để nịnh tôi, rằng trí tưởng tượng của tôi phong phú hơn những người khác, rồi bà ta nói thêm: “Giờ đây, câu chuyện này đã ở trọn trong ông. Nó sẽ chiếm đoạt hết đêm ngày của ông. Nó sẽ đào sâu cái giường của nó trong cơ thể và tâm trí ông. Ông sẽ không thể nào thoát khỏi nó được. Đó là một câu chuyện từ xa đến. Nó đã sống trong sâu thẳm của cái chết. Từ khi kể ra câu chuyện này, tôi cảm thấy dễ chịu hơn, nhẹ nhàng hơn và trẻ trung hơn. Tôi đã để lại cho ông một kho báu và một cái giếng sâu. Này, ông cẩn thận đấy, không được nhầm lẫn 2 thứ đó đâu, điều này có quan hệ tới lí trí của ông đấy! Hãy xứng đáng với điều bí mật đó và những tổn thương của nó. Hãy lan truyền câu chuyện này, đưa nó vượt qua bảy khu vườn của linh hồn. Tạm biệt bạn của ta, kẻ tòng phạm của ta!

Trước khi từ biệt tôi, bà ta trao lại cho tôi một quyển vở lớn dày khoảng hai trăm trang, trong đó kí thác nhật kí và những suy tư của Bey Ahmed. Tôi đọc đi đọc lại cuốn sổ ghi chép đó. Mỗi lần đọc là tôi lại thật sự xúc động và tôi không biết làm gì với câu chuyện này. Vì thế nên tôi đã bắt đầu kể nó ra. Càng kể, tôi càng như chìm sâu vào trong một cái giếng…, những nhân vật của tôi từ bỏ tôi…, tôi buộc phải giảm thiểu tối đa những mối quan hệ, cho tới một ngày, lợi dụng khi dọn dẹp quảng trường, tôi đã lên đường đi xuống phía Nam. Khi cuốn sách bị ánh trăng rằm xóa sạch, lúc đầu tôi sợ hãi, nhưng đó là những dấu hiệu đầu tiên về sự giải thoát của tôi. Tôi cũng quên đi tất cả. Nếu ai đó trong các bạn muốn biết phần tiếp theo của câu chuyện này, thì anh ta phải hỏi mặt trăng vào đúng ngày rằm. Tôi đặt ra đây, trước mặt các bạn cuốn sách, lọ mực và cây bút. Còn tôi, tôi phải đi đọc Kinh Coran bên nấm mồ của những người chết đây!

Tháng 12 năm 1982 - tháng 2 năm 1985.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.