ĐÊM AN-ĐA-LU-DI
Giấc mơ rõ ràng và rất cô đọng. Tôi ra đi kiếm tìm một mái tóc dài và đen bóng. Tôi đi ra phố Buénos Aires có người hướng dẫn, như là một kẻ mộng du, bởi mùi hương rất thanh tao và hiếm hoi của một mái tóc đẹp. Tôi nhận ra mái tóc đó giữa đám đông. Tôi rảo bước. Mái tóc biến mất. Tôi cứ tiếp tục chạy đuổi theo cho tới khi tôi ra mãi ngoài thành phố, lạc giữa những gò đôi bằng đá và những đầu bê bị đốt cháy, ở giữa những khu phố bí mật mà ngày nay người ta gọi là những khu dân nghèo thành thị, một mình, bị nghẹt thở bởi mùi xác thối và bị một đám trẻ con ở trần la ó. Chúng giương cao những thanh gỗ đẽo gọt thành hình khẩu súng, chơi trò du kích đánh trận giả. Tôi sợ hãi. Giấc mơ của tôi trở thành một cơn ác mộng. Tôi quên mất tại sao tôi lại đi ra khỏi thư viện, và tại sao tôi lại ở trước mặt lũ trẻ con đói khát sẵn sàng hành hung tôi này. Tôi không làm sao bỏ chạy được. Tôi đã bị một cái bẫy chết chóc bủa vây làm cho nghẹt thở. Tôi hiểu rõ sự bất hạnh này. Chính lúc đó tôi lại nhận ra mái tóc dài đen nhánh một lần nữa. Tôi được giải thoát. Tôi tới khu phố nghèo nàn chật chội không khó khăn gì. Đi được khoảng vài trăm mét, có một hình bóng đưa tay lên ra kí hiệu cho tôi đi theo. Tôi vâng theo và thật kì lạ là tôi đang ở giữa một khu phố của một thành phố Ả Rập. Không nhìn thấy mái tóc dài đen nhánh đâu nữa. Không còn ai ra hiệu cho tôi nữa. Tôi ở lại một mình tĩnh tâm trở lại và rất sung sướng được dạo chơi trong những đường phố nhỏ chật hẹp và đầy bóng mát. Những người đàn bà không phải ai cũng che mặt. Những người đàn ông rao hàng rất vui vẻ và hóm hỉnh. Họ bán hương liệu, gia vị đủ mọi màu sắc, giày dép, thảm, chăn len, hoa quả khô. Một số người hét lên, số người khác thì lại hát. Khu phố hiển hiện trước mắt tôi như là một địa điểm rối rắm như tơ vò - những con phố và những quảng trường nơi mà tất cả những điều huyền thoại đều có thể diễn ra. Tôi may mắn tìm lại được người đàn bà có mái tóc đen huyền. Bị đẩy từ một khu phố nghèo nàn Áchentina vào sự trong một khu phố Ả Rập, tôi rảo bước trong sự ngạc nhiên và choáng ngợp. Những con phố được đánh dấu bằng những tiểu thương và những người ăn mày già nua. Có một người làm nghề mài dao thuê đang bước đi cùng với hòn đá mài, miệng thổi một loại kèn ácmônica bằng nhựa, tạo ra những tiếng ồn chói tai, từ xa đã có thể nhận biết được. Có một người bán nước, một người đàn ông già nua lưng còng, miệng bật ra một tiếng thở dài não nuột và đau đớn - chẳng khác gì tiếng chó sói đe nẹt và tiếng chó hoang - để rao bán thứ nước mát lành đựng trong một chiếc túi da mà ông đang khoác trên lưng. Cũng có những người ăn mày cứ nhắc đi nhắc lại mãi một câu nói như một cái máy, bàn tay chìa ra, bất động, vĩnh hằng. Khu phố không thể tồn tại nếu không có họ. Nó phụ thuộc vào họ. Tôi không biết thế nào mà đột nhiên tôi quả quyết rằng người bán nước, người mài dao kéo và một trong số những người ăn mày, một người đàn ông mù lòa là một phần trong câu chuyện đang kể của tôi. Tôi nhìn thấy họ như những ông bố bà mẹ hoặc là những người cùng hội cùng thuyền. Tôi cũng tin rằng họ đang bàn tính với nhau để vạch đường cho tôi và tạo tác ra, qua những bài ca và thái độ của họ, cái khuôn mặt duy nhất trên một cơ thể nhỏ bé và vô định, bị lúc lắc đu đưa bởi từng đợt sóng trào của một câu chuyện được thêu dệt bởi tất cả những con phố nhỏ hẹp này. Tôi quan sát ba người đàn ông đang ngồi trong khu phố Ả Rập kia như những chiếc bóng di động dõi theo mặt trời. Sau này, trong giấc mơ, tôi biết được rằng họ đã được một ai đó phái tới đây cho nên kỷ niệm với họ cứ theo đuổi tôi như một nỗi khổ đau. Tôi đau đớn và không thể nói ra đau ở chỗ nào. Trong khi đang nghĩ về nỗi đau đớn đó, tôi ngồi chồm hỗm ngay chỗ lối vào của nhà thờ và nhìn thấy, như một sự hiện hình, gương mặt của một người đàn bà trẻ, bị sưng tấy lên, nhàu nát bởi một sự khổ đau nội tâm, tôi nhìn thấy khuôn mặt, rồi thân hình nhỏ bé được nhặt ra từ một chiếc rổ đựng thực phẩm loại to, đôi chân chắc là bị gập lại hoặc cắm sâu xuống đất. Tôi là người duy nhất nhìn thấy hình ảnh hãi hùng này trong một con phố nhỏ tối tăm, có thể là nằm ở phía bên kia của nhà thờ. Tất cả bỗng nhiên tối sầm lại. Khu phố Ả Rập trở thành một thành phố của tối tăm hoang dã và tôi chỉ còn nghe thấy những tiếng nói lải nhải tang tóc của ba người đàn ông. Giọng nói của họ the thé và có âm mũi vẽ thành những đường nét của khuôn mặt đó. Đó không phải là một ảo ảnh. Đó là sự hiện diện mà tôi cảm thấy được hơi thở và sự ấm áp. Người đàn bà biến mất trong sự im lặng gián đoạn.
Giấc mơ này đã theo đuổi tôi trong nhiều ngày. Tôi không dám đi ra khỏi thư viện, nghi ngờ cả bóng đêm và cả trong giấc ngủ. Mái tóc đen huyền thực ra chỉ là bàn tay bị kéo dài ra của cái chết, nó đang đẩy tôi về phía hư vô. Để thoát ra khỏi sự ám ảnh này, tôi quyết định làm một chuyến viễn du bằng giấc mơ. Sau mọi chuyện, giữa cái chết và tôi, không cần phải có một mùa nào nữa. Tôi quên là đã không nói với các bạn rằng trong khu phố Ả Rập này, nơi mà những đồng xu từng được lưu hành không phải đồng tiền nào khác mà lại chính là đồng năm mươi xu đã nói ở trên. Cũng có những đồng tiền giấy do ngân hàng phát hành của thời chúng ta.
Các bạn thân mến! Với lòng mến khách, các bạn đã kiên nhẫn ngồi nghe cái con người xa lạ kia. Nhưng từ khi mà câu chuyện này với những nhân vật của chúng ta đến vây quanh tôi hằng đêm, thì linh hồn tôi đã dịu đi rất nhiều. Do ngày cũng như đêm, nên những dòng sông bị lạc vào trong biển cả và cuộc đời tôi tỏ ra rất nôn nóng trước sự quên lãng. Tôi nghĩ rằng cái chết có thể đến bất ngờ, không báo trước, không cả nghi lễ. Nhưng tôi đã nhầm. Cái chết đã dùng những con đường gồ ghề, sóng gió, và điều đó không làm cho tôi nản chí! Càng có thời gian cho sự chuẩn bị. Linh hồn của tôi đã bị đánh thức và thân thể của tôi đã đứng lên và bắt đầu bước đi. Tôi đi theo thân hình đó mà không đặt ra quá nhiều câu hỏi. Tôi đi qua châu Âu. Tôi dừng lại ở Andalousie. Bất chấp tuổi tác và sự mù lòa, tôi đã làm được một điều: tôi đi cả ngày trong lâu đài Al Hambra. Tôi ngửi hít mọi thứ. Tôi ngửi thấy mùi hương của mặt đất và của đá. Tôi vuốt ve những bức tường và để cho bàn tay tôi lướt trên mặt đá cẩm thạch. Lần đầu tiên tôi tới thăm Al Hambra với đôi mắt mù lòa. Cuối ngày, tôi trốn ở phía trong một phòng tắm kiểu Moritani. Những người gác lâu đài không nhìn thấy gì cả. Cho nên tôi cứ giam mình trong tòa lâu đài và những khu vườn. Ở đây, vào khoảng chín giờ trời mới tối. Khi đó đang là tháng bảy, trời dịu mát. Tôi đi ra khỏi chỗ trú ẩn như một đứa trẻ. Thật hạnh phúc biết bao! Thật vui! Tôi run rẩy đôi chút. Tôi bước đi mà không phải sờ soạng, tai lắng nghe tiếng thì thầm của dòng nước. Tôi hút sâu mùi hương nhài, hoa hồng và hoa chanh. Tôi nghe rõ tiếng vang của một thứ âm nhạc Andalousie đã từng biểu diễn ở nơi này cách đây những năm thế kỉ. Ban nhạc ngừng biểu diễn, vị thày tu báo kinh, bằng giọng nói mộc mạc và khỏe mạnh, đề nghị mọi người cầu nguyện. Tôi nghĩ về những vị vua, những hoàng tử, những triết gia, học giả đã rời bỏ xứ sở này, bỏ rơi đất nước và những điều bí mật của họ dưới sự khổ đau của người tín đồ không trung thành. Bàn tay tôi lướt trên mặt đá cẩm thạch, ấy là lời vĩnh biệt ban ngày, kết thúc sự nuối tiếc, lời vĩnh biệt ký ức xưa cũ. Tôi đã trải qua một đêm thật sảng khoái, đầy sự khêu gợi. Tôi được một gương mặt trăng rằm yêu quý. Tôi hòa tan vào bóng đêm trong sự dịu êm của thứ mùi vị đang bao trùm trên lâu đài Al Hambra. Tôi tin là đã tìm thấy một góc nhìn, một khoảnh khắc ngắn ngủi trong màn đêm Andalousie, một màn đêm chiếu sáng bóng đêm trong tôi, nỗi cô đơn mênh mông, dịch chuyển trong thời gian, để lại phía sau bức tường. Tất nhiên, tôi nghe rõ những giọng nói. Đó là một dịp lễ tết. Nhiều nhà thơ đọc những vần thơ mà tôi đã thuộc lòng. Tôi cũng đọc những vần thơ với họ. Tôi bước đi, tai nghe rõ những giọng nói. Tôi đi đến sân của những con Sư Tử và ở đó một sự im lặng nặng nề của một thời gian bất động đang ngự trị. Tôi ngồi bệt trên mặt nước cứ như có ai đó đã yêu cầu tôi dừng lại ở đó và không được động đậy. Tôi không còn nghe được giọng đọc của những nhà thơ. Tôi tìm giọng nói của tôi trong chính kỉ niệm của mình. Kỉ niệm đầu tiên của tuổi thơ tôi là đi theo bố tôi lúc đó mắt đã mù cũng ở trong những khu vườn này. Đột nhiên một giọng nói đàn bà trầm trầm và có vẻ nhạo báng từ phía ngoài dội về phía tôi. Tôi chờ một lúc, những địa điểm này có nhiều người lui tới. Người đàn bà phát âm rõ từng chữ cái Ả Rập đầu tiên: Aleph…Bà…ta…Jim…Hâ…dal…những con chữ được hát lên âm vang trong sân. Tôi ở lại đó cho tới lúc hừng đông, không động đậy, tai dỏng lên, hai bàn tay bám chặt lấy hàng cột đá cẩm thạch. Đó là giọng nói của một người đàn bà trú ngụ trong một cơ thể đàn ông. Đúng vào lúc những tia nắng lờ mờ của ban ngày hiện ra, có hai bàn tay rắn chắc siết lấy cổ tôi. Tôi nghẹt thở, cố gắng chống cự quyết liệt; đó là những thời điểm kinh khủng nhất. Tôi rất khỏe mạnh nên chưa bao giờ lo lắng cho tình trạng sức khỏe của mình cả. Sẵn cây gậy trong tay, tôi quật lung tung. Tay vẫn không nới lỏng ra, người đàn ông bật ra một tiếng hét đau đớn. Tôi cảm thấy rằng thân thể của hắn ta từ từ dịch sang bên trái. Thuận đà, tôi đứng lên nện tiếp một cú rất mạnh vào kẻ bóp cổ mình.
Đó có phải là một con người, một thiên thần của sự bất hạnh, một bóng ma, hay là một con chim bị kết án chết cô đơn, đó là một người đàn ông hay đàn bà? Có thật là tôi đã đánh nhau với người đàn ông mang mặt nạ hay là tôi mơ đến tai họa trong giấc mơ đêm ở Andalousie? Tôi không biết, tôi chỉ biết rằng sáng ra người tôi mệt lử và gáy rất đau. Tôi biết rằng đêm rất dài và chất chứa đầy những sự kiện, và rằng ngày hôm sau tôi đã thay đổi. Tôi thật sự khó khăn khi phải rời xa Al Hambra. Người thanh niên đi cùng với tôi đã rất lo lắng. Anh ta hiểu rằng tôi tự giam giữ mình ở trong đó. Buổi sáng, anh ta chờ tôi rất sớm ngay cửa chính. Tôi rất vui mừng mặc dù tôi đang rất mệt và thiếu ngủ. Bây giờ, tôi biết rằng cái thân hình đánh nhau với tôi trong đêm mang một bộ tóc giả dày và dài. Đó có thể là cái chết hoặc là bạn đồng hành của nó. Cái chết coi thường tôi luôn tiến lại gần tôi rồi lại dạt ra với một sự đe dọa và một sự bướng bỉnh bất biến. Đêm nay chắc là đêm sau cùng. Lẽ ra tôi đã có thể có một cái chết ngọt ngào vào cái đêm Grenade này. Nhưng tôi đã cương quyết chống lại với sự điên dại của một thanh niên. Tôi cảm thấy tự do, được giải thoát khỏi sự chờ đợi chậm chạp và mệt nhọc. Từ khi đó cái chết có thể đến. Tôi biết rõ gương mặt nó, biết rõ giọng nói và bàn tay của nó, nhưng nhìn chung, tôi không biết ngày nào giờ nào nó sẽ đến. Từ vài năm nay, tôi luôn luôn phải đi. Tôi bước đi chậm chạp, cứ như người từ rất xa đến mà không còn hy vọng đi đến nơi được nữa…
Lúc này tôi đang ở đâu đây? Tôi ngửi thấy mùi bạc hà đậm đà, tươi mát, tôi nghe những giọng nói của những người bán hoa quả, tôi ngửi thấy mùi bếp núc, chắc chắn là chúng tôi đang ở rất gần một hiệu ăn công cộng... Mùi thơm nồng nàn trộn lẫn với mùi dầu hỏa cháy, mọi thứ mùi đã làm cho ông già, sau nhiều ngày bách bộ, ngây ngất. Phải chăng tôi là mục tiêu của một âm mưu đã dối trá tôi và phản bội lại tôi? Bây giờ, xin các bạn, những người đang cầm giữ số phận của tôi trong tay, hãy cho tôi biết liệu người ta có thể khám phá ra một thân xác hay một cuốn sách ở một trong những tòa lâu đài ở Cordue, Tolède hay ở Grenade không?
Tôi đã mơ về một đêm Andalousie hay là tôi đã từng sống ở đó? Hình ảnh một con ngựa điên đang giận dữ trong sân một ngôi nhà lớn luôn truy đuổi tôi từ cái đêm ở Grenade. Sự im lặng của các bạn là một sự thử thách rất nghiệt ngã đối với tôi. Tôi ít nhiều còn xa lạ với mảnh đất tổ tiên của các bạn và tôi lại đang ở rất gần với buổi hoàng hôn đang tiến đến và bao phủ lấy các bạn. Tất cả đã hoàn thành bởi một người đàn bà đã nhận ra sự quá đáng, sự không thể và điều không thể tưởng tượng được. Đó là những ánh sáng lờ mờ đầu tiên của điều Bí Mật; và nếu như tôi loại bỏ ra khỏi đó cái điều buồn cười, thì chính là để bảo vệ những khoảng thời gian yên bình mà mọi người đã bị cái chết quấn chặt cần đến.
Tôi cũng có thể đọc được cuốn sách của Almoqtâdir El Maghrebi sống ở thế kỉ XII, và tôi không đồng nhất hóa với người đọc, tôi sẽ chỉ nhắc lại đoạn dưới đây:
“Murieron otros, pero ello aconteció en el pasado, Que es la estación (nadie lo ignora) mas propicia a la muerte Es posible que yo, súbdito de Yaqub Almansur, Muera como tuvieron que morir las rosá y Aristóteles?”
“Những người khác chết, nhưng điều này chỉ đến trong quá khứ. Ai là mùa (nào ai biết được) thuận nhất cho cái chết. Có thể là tôi, thần dân của Yaqoub al Mansour. Như Aristote và hoa hồng phải chết, giờ đến lượt tôi chăng?”