Hiệp Sĩ Phiêu Lưu

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
Hậu Quả Của Thói Chưng Diện

❊ ❊ ❊

Sáng hôm sau, đồng hồ điểm tám giờ tôi mới bắt đầu thực hiện sứ mệnh thứ ba của mình. Trước hết, chiếc giường nệm cứ níu kéo tôi lưu luyến, cũng dễ hiểu thôi, bởi từ khi rời nhà đến nay, tôi nào đã được ngủ trên giường đàng hoàng đâu. Tiếp đó, tôi lại đâm ra say mê đống sách vở, trong số đó tôi tình cờ phát hiện ra một báu vật vô giá là bản in đầu tiên tác phẩm của Virgil xuất bản tại Rome vào năm 1469, quả thực rất khó lòng dứt ra được. Sau đó, tôi còn phải ghé mắt trông nom cậu ấm Blount và phu nhân của ngài, một người phụ nữ xinh đẹp, dịu dàng, tỏa ra thứ hào quang rạng rỡ của tình mẫu tử tựa như tấm áo choàng tiên nữ. Một phần trong nghi thức chào hỏi là việc trao bé Blount vào tay tôi, công việc này được tiến hành hết sức dè dặt, kèm theo vô số lời dặn dò và cẩn trọng để tôi không làm bé bẹp dí hay đánh rơi. Thằng bé có làn da mịn màng như lụa satin trắng và một lớp tơ mềm mại óng ánh bạc trên mái đầu xinh xắn. Nói chung, tôi thấy đây là một báu vật mà bất cứ người đàn ông nào cũng khao khát sở hữu, và tôi ước gì thằng bé là con mình, nhất là khi, trước sự ngậm ngùi ra mặt của ngài bá tước, thay vì oa oa khóc lóc, nó lại mở to đôi mắt xanh ngước nhìn tôi trân trân rồi mỉm cười.

– Cục cưng bé bỏng đáng yêu của mẹ, – mẹ thằng bé thốt lên.

– Con khỉ con xấu xí, – bố nó kêu lên. – Sao quái quỷ thế nhỉ, nó chẳng thèm cười với tao lấy một cái?

– Thử giao nó cho anh xem nào! – tôi nói, trao thẳng đứa bé cho Sir James, vô cùng nhẹ nhõm vì trút bỏ được trọng trách.

Bé Blount nhìn bố mình và lại mỉm cười, và khoảnh khắc chứng kiến Sir James say đắm nhường nào trước nụ cười đầu đời của đứa con trai cưng đã mang đến cho tôi một sự khai sáng sâu sắc và đẹp đẽ nhất về tâm tư của một người đàn ông.

– Chính anh mới là người thay đổi đấy, James, chứ không phải cục cưng của chúng ta đâu, – vợ ngài nói. – Thằng bé sẽ luôn mỉm cười trước một gương mặt hạnh phúc như anh sáng nay thôi.

Tôi đã nán lại qua những khoảnh khắc tuyệt diệu bên cạnh một cuốn sách cổ và một đứa trẻ sơ sinh với một tâm hồn vô cùng thanh thản, bởi Master Freake đã mang đến cho tôi tin tức giúp cho nhiệm vụ thứ ba trở nên dễ dàng hơn nhiều. Tôi chưa từng hé lộ với ông ấy về công việc mình đang tiến hành, vì nghĩ rằng áp đặt điều đó cho ông là không phải phép, nhưng hẳn ông đã đoán biết được phần nào, bởi ông tìm đến tận nơi để báo cho tôi hay tin tức mới nhất từ Stone là Công tước đang hối hả di chuyển về phía nam một lần nữa, với mưu đồ chặn đứng con đường giữa Hoàng tử và London nếu có thể. Ông còn cho tôi biết thêm rằng Charles đã hội quân cùng Murray tại Ashbourne vào lúc tờ mờ sáng, và lực lượng hợp nhất của họ đã khởi hành tiến về Derby. Trong tất cả những vấn đề hệ trọng này, xét cho cùng thì đến nay đã quá rõ ràng, ông nắm bắt thông tin vô cùng đầy đủ và chính xác, và tôi đã bày tỏ sự ngưỡng mộ trước sự chu đáo đến nơi đến chốn của ông.

– Làm ăn cả thôi, Oliver thân mến ạ, thuần túy là công việc kinh doanh thôi mà. Từng có một bậc vĩ nhân thời cổ đại đã đúc kết rằng "Tri thức là sức mạnh." Tôi chỉ đang mở rộng câu nói ấy một chút cho phù hợp với thời đại ngày nay thế thôi. Có vậy thôi mà.

– Câu châm ngôn ấy giờ ra sao rồi thưa ngài?

– Tri thức là tiền tài và tiền tài là sức mạnh, – ông đáp, với một nụ cười khô khốc.

Rồi, chuyển sang những chuyện thoạt nghe có vẻ nhỏ nhặt nhưng lại liên quan trực tiếp hơn đến tôi, ông cho biết gã thủ hạ của ông là Dot Gibson đã báo cáo rằng tên gián điệp Weir từ sớm tinh mơ đã phóng ngựa hướng về phía Stafford, trong khi viên trung đoàn trưởng kỵ binh vẫn đang rình rập quanh quán trọ "Black Swan". Giữa bọn chúng đã có những cuộc bàn bạc lâu miên như thể đang cấu kết chặt chẽ với nhau.

Sự tình xem chừng đúng là như vậy. Có một chi tiết đáng chú ý là tên gián điệp đã nhìn thấy tôi, và từng có cơ hội tố cáo tôi, trước khi Master Freake kịp hạ gục hắn. Do đó, có lý do để suy đoán rằng dù thế nào đi nữa thì hắn cũng sẽ ngậm tăm về tôi – kẻ duy nhất mà bằng chứng chống lại hắn ta là vô cùng áp đảo. Viên trung đoàn trưởng kỵ binh dĩ nhiên sẽ vô cùng hoan hỉ khi thấy tôi bị loại khỏi vòng chiến đấu, tốt nhất là chết quách đi, còn không thì vào tù cũng là một phương án thay thế hữu ích, thế nhưng cơ hội tống cổ tôi vào đó đã bị bọn chúng bỏ lỡ một cách đáng tiếc. Dù vắt óc suy nghĩ thế nào đi nữa, tôi cũng không tài nào tìm ra nổi một lời giải thích hợp lý cho hành vi của bọn chúng.

Tôi từ giã trang viên Grange, ra về trong tiếng mời chào thiết tha văng vẳng bên tai là hãy quay lại càng sớm càng tốt. Master Freake sóng bước bên yên ngựa của tôi cho đến khi khuất tầm tai của nhóm người đang tụ tập ở cửa lớn.

– Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở Derby, Oliver, – ông vừa nói vừa giơ tay ra bắt.

– Đó là tin tốt lành đấy, thưa ngài. Tối nay tôi sẽ có mặt ở đó trước sáu giờ.

– Hãy canh chừng viên trung đoàn trưởng cho cẩn thận. Hắn và cái tên chủ nhân quý hóa của hắn đang nhăm nhe tóm cổ cậu bằng mọi giá đấy. Chúng có một sổ nợ đầm đìa với cậu đấy, chàng trai trẻ.

– Nó sẽ còn dày thêm nữa trước khi sổ sách được thanh toán xong xuôi, thưa ngài.

– Cậu cứ thoải mái nghênh chiến với chúng đi, Oliver. Cậu sẽ thích thú cho mà xem, và tôi chẳng mảy may lo lắng về kết quả đâu. Nhưng hãy cẩn trọng đấy! Hãy đi giữa lòng đường, và để mắt tới từng bụi cây. Brocton có trong tay cả nửa trung đoàn đầu trộm đuôi cướp chuyên nghiệp và sẽ giở đủ mọi thủ đoạn địa ngục để hạ gục cậu đấy. Còn chuyện tiền bạc thì sao?

– Tôi có thừa thãi để dùng, – tôi đáp, – nhờ khoản cho vay hào phóng của ngài.

– Nào phải cho vay mượn gì đâu, chàng trai, đó là khoản đóng góp đầu tiên của tôi vào chi phí cho cái gọi là – chúng ta gọi thế nào cho an toàn nhỉ? Chuyến ngoạn du của cậu đi. Thế có được không?

– Thôi nào, thưa ngài...

– Thôi cái nỗi gì. Oliver, chấm dứt ở đây nhé. Lãi suất ưa thích của tôi là mười phần trăm. Cậu đã tha cho tôi chỉ với vỏn vẹn hai phần trăm còm cõi đấy.

– Tôi không thích đùa giỡn trong chuyện tiền nong, thưa ngài.

– John Freake mà lại đùa giỡn chuyện tiền nong ư? – ông mỉm cười nói. – Đừng có đem chuyện này ra mà bàn tán khi cậu đặt chân đến thị trấn nhé, Oliver, kẻo cậu sẽ làm tiêu tan cả một danh tiếng khó khăn lắm mới tạo dựng được đấy. Tôi đã gửi cho cậu ngót nghét sáu mươi đồng guinea cơ mà.

– Vâng, thưa ngài.

– Số tiền đó tính ra cho chính xác thì còn thấp hơn một chút so với hai phần trăm những gì cậu đã giúp tôi giữ lại khi cậu giật lấy tôi khỏi cái nanh vuốt nhơ nhớp lũ tay chân của Brocton. Tôi đang dắt lưng một mảng lớn gia tài của ngài bá tước cơ đấy. Đi đi thôi, chàng trai! Ngựa Sultan đang tỏ ra mất kiên nhẫn trước sự lề mề của tôi rồi kìa. Nào! Đồ đẹp tuyệt trần! Tạm biệt nhé!

– Tạm biệt ngài! – tôi hân hoan đáp lớn, vung chiếc mũ mới theo một điệu chào thật oai vệ.

Vào lúc ba giờ chiều, sau khi đã phi ngựa một chặng đường dài và mỏi mệt chẳng một hớp nước miếng hay hạt cơm lót dạ, tôi tiến vào một thôn xóm nhỏ nằm nép bên con đường lớn đi London, nơi tuyến đường chạy là đà sát mép một khu rừng, và kìm cương dừng lại trước quán trọ "Seven Stars". Tôi phải có mặt để trình báo cáo vào lúc sáu giờ, và vì Derby chỉ cách đó có mười lăm dặm cùng với con đường đi lại vô cùng thuận lợi, nên tôi và Sultan hoàn toàn dư dã thời gian để nghỉ ngơi và nạp lại năng lượng mà cả hai đang rất cần.

Bản thân tôi cũng cần sự yên tĩnh và thảnh thơi để sắp xếp lại các báo cáo trong đầu cho thật rành mạch trước khi đem đi trình diện. Tính chất bao quát và phóng khoáng trong sứ mệnh của tôi đã phó mặc mọi thứ hoàn toàn cho sự phán đoán của cá nhân tôi, để rồi dẫn đến một kết quả đáng phiền muộn là tôi chẳng khám phá ra được điều gì hồn cốt cả. Quả thực, tôi đã hoàn thành các mệnh lệnh được giao. Tôi đã đi xa về phía tây Derby đến mức được tận mắt nhìn thấy những ngọn tháp nổi tiếng của Lichfield vươn nhọn cắt ngang bầu trời tựa như ba mũi giáo, đồng thời hay tin từ những nguồn tin vô cùng phong phú và đáng tin cậy rằng lực lượng của Công tước tại đó đang rời đi để hướng về phía nam, theo lệnh hành quân khẩn cấp trở về doanh trại ban đầu của họ tại Merriden Heath. Điều này hoàn toàn trùng khớp với tin tức mà Master Freake cung cấp, và đó cũng là toàn bộ vốn liếng thông tin xác thực mà tôi thu lượm được.

Còn về loại tin tức mà Hoàng tử ao ước được nghe nhất thì tuyệt nhiên không có. Về những sự chuẩn bị để gia nhập hàng ngũ của ngài, cũng không có nốt. Về những người công khai ủng hộ nghĩa vụ của ngài, lại càng không. Thời kỳ mà lá đại kỳ nhà Stuart có thể tập hợp xung quanh nó cả một đoàn quân đã vĩnh viễn trôi qua không thể tìm lại. Chẳng hề có một thứ cảm xúc mãnh liệt nào theo chiều hướng ngược lại cả. Người ta đơn giản là chẳng mảy quan tâm. Những khẩu hiệu cũ đã mất đi quyền uy. Mối thù xưa đã được khơi lại giữa một thế giới đã lãng quên nó, và chẳng đời nào muốn bị gợi nhớ lại nữa. Đó là cuộc đối đầu giữa Charles cùng những người đàn ông vùng Cao nguyên chống lại George và các trung đoàn của ông ta, và vì phe sau chắc chắn sẽ chiến thắng, nên chẳng một ai thèm bận tâm. Thật là một sự thật kỳ lạ nhưng hoàn toàn chính xác rằng dấu hiệu duy nhất tôi phát hiện được về sự kiện vĩ đại đang diễn ra, chính là việc bắt gặp một nhóm bốn người đàn ông đàng hoàng thuộc tầng lớp trung lưu đang ngã giá với một chủ quán trọ để thuê một chiếc xe ngựa kín, với dụng ý ngồi xe đi xem đoàn quân vùng Cao nguyên hành quân ngang qua. Bọn họ vô cùng săm soi để kì kèo bớt một shilling, và thờ ơ chẳng kém gì bốn con hàu trước những hệ lụy to lớn đang đứng trước ngàn cân treo sợi tóc.

Phi ngựa vào sân quán trọ, tôi lớn tiếng giục chủ quán chuẩn bị cho mình bữa ăn ngon nhất, và trong lúc chờ đợi, tôi thân hành ra sức chăm sóc việc chải chuốt và cho Sultan ăn uống. Khi đã để chú ngựa cưng đứng nghỉ ngơi trong sự thoải mái và thỏa mãn, tôi mới thong thả bước vào trong nhà để lo toan cho cái bụng đói của chính mình.

Dù tọa lạc ngay trên con đường lớn đi London, và chỉ cách hiện trường hành động vỏn vẹn mười lăm dặm, nhưng quán trọ lại vô cùng yên tĩnh. Tôi được chủ quán cho biết rằng có một tay đưa thư đã phi ngựa vụt qua hồi một tiếng trước, vừa quất roi phóng về hướng nam vừa gân cổ hô hoán từ trên yên ngựa rằng đám chân đi đất chỉ còn cách Derby đúng năm dặm khi hắn rời đi. Sớm hơn trong ngày, có một cỗ xe chở đầy những chiếc áo choàng của các vị chức sắc thị trấn đã chạy ngang qua, "đang hướng về Leicester để giặt giũ tu sửa lại", chủ quán giải thích với vẻ mặt vô cùng đắc ý trước sự khôn ngoan sắc sảo của bản thân.

Một kẻ bộ hành đói rách mồm mép trước một bữa ăn thịnh soạn thường là chẳng mảy may để tâm đến bất cứ thứ gì khác vào lúc ấy. Tôi trông thấy hai người đàn ông trong phòng khách, và sau một câu chào hỏi lịch sự khiến một trong số họ há hốc cả mồm lẫn mắt một cách rất vô phép, tôi liền an tọa để thưởng thức bữa ăn, vô cùng mãn nguyện với những món ngon được dọn ra trước mặt.

Khi cơn đói của tôi dần dịu đi trước cuộc tấn công liên tục vào một đĩa thịt thăn bò nướng lạnh có chất lượng vô cùng tuyệt hảo, tôi bắt đầu dồn nhiều sự chú ý hơn đến hai gã đàn ông kia. Trên thực tế, tôi bị ép phải quan tâm đến họ nhiều hơn bởi sự bùng nổ của một trận cãi vã không mấy êm thấm giữa hai kẻ đó, và đến khi tôi ăn xong phần phô mai, thì bọn họ, hoàn toàn phớt lờ sự hiện diện của tôi, đã lao vào cãi chửi nhau tơi bời hoa lá. Cuộc tranh cãi xoay quanh một thương vụ mua bán ngựa diễn ra gần đây giữa bọn chúng, và đó vốn là một trong những đề tài hiếm hoi mà con người ta có thể dễ dàng hoặc hăng h máu lửa để cãi nhau nhất. Tên nhà quê vừa nãy há hốc mồm nhìn tôi hóa ra đã bị gã bạn đồng hành lừa gạt, và vì thế hắn đang vô cùng hằn học căm phẫn.

Thật khó lòng tìm được hai con người có ngoại hình trái ngược nhau đến thế. Gã nhà quê há hốc mồm kia mang đậm chất thôn dã, là một gã to lớn, lực lưỡng với cái bụng phệ khi ngồi sà xuống gần như sệ cả tới đầu gối, cằm ngấn ba ngấn, cùng chiếc mũi chù ụ ở chóp, có hình dáng và màu sắc trông hệt như một quả dâu tây chín nhừ. Kẻ đồng hành với hắn lại là một gã thấp bé, gầy gò và sắc sảo với cái đầu trông như con chồn sương. Đám người thôn quê chúng tôi quá rành tụi dân London tụi bây rồi. Đã bao nhiêu giờ ngồi dưới lùm cây du cuối ngõ để quan sát những lữ khách qua đường. Thế nên, chẳng trách gu thẩm mỹ về mũ mão thời trang của tôi lại thế này đây, giống hệt chiếc mũ của tôi đây, thứ vốn thuộc về Swift Nick dạo trước, giờ đang được đặt cẩn thận trên chiếc bàn bên cạnh tôi. Tôi dám cá với cái mũ đi vắt sữa cũ kỹ bẩn thỉu của Joe Braggs rằng gã lùn kia chính xác là dân London gốc.

Dù nhỏ thó, nhưng sự giận dữ lạnh lùng và đầy tính toán của gã đã lấn át hoàn toàn đối thủ của mình, kẻ vốn chẳng có mấy tài biện bạch dẫu cho lý lẽ có đứng về phía hắn đi nữa.

– Chủ quán thừa sức biết rõ tôi và con ngựa gelding đó thế nào, – gã lùn nói. – Mày thì hiểu về ngựa ít hơn cả một tên bồi bàn ở Mile End nữa là khác. Lôi hắn ra đây để phân xử đi tao bảo. Chẳng lẽ mày không đời nào tự mình cỡi nó chắc!

– Vì cái quái gì mà mày nghĩ tao mua nó hả ngài Wicks? Để ngắm chơi chắc?

– Nhìn cái tướng của mày thì tao đoán mày mua nó để làm quà thôi nôi cho một đứa trẻ sơ sinh thì đúng hơn. Cân nặng mười sáu thạch sáu nếu mày hơn một lạng, thế mà lại đi cưỡi một con ngựa mới hai tuổi! Mẹ kiếp, thảo nào nó chẳng tung vó lên mà lồng lộn! Đi gọi chủ quán ra đây tao bảo!

Gã béo bỗng lồng lộn nổi giận lôi đình, rồi chỉ một lát sau đã quay lại cùng với lão chủ quán và một tên nài ngựa. Thế là cuộc cãi vã lại càng trở nên gay cấn và buồn cười hơn bao giờ hết.

Cuối cùng, gã lùn đã cạn sạch kiên nhẫn liền rút súng ngắn ra, khiến gã to con hốt hoảng thụt lùi lại phía sau, miệng thét toáng lên: "Cướp với giết người ta ơi!" Chẳng thèm nhìn xem mình đang lùi về đâu, hắn va sầm vào cái bàn của tôi, đẩy mạnh nó ép chặt vào vùng hoành phi của tôi.

Tôi chồm dậy nhưng đã quá muộn. Gã béo chộp lấy cổ tay tôi, chủ quán và tên nài ngựa lao xông tới đè chặt tôi xuống ghế, còn gã lùn thì dí thẳng nòng súng vào trán tôi.

– Chào buổi chiều, ngài Swift Nicks nhé! – hắn lên tiếng.

Tôi dám cá là gan của tôi lúc đó đã chuyển sang màu trắng bệch, nhưng dẫu cho có hơi dễ hoảng sợ đi chăng nữa, tôi lúc nào cũng quá kiêu hãnh để bày tỏ điều đó ra ngoài, chính điều này đã vô tình mang lại cho tôi tiếng tăm là một kẻ dũng cảm.

– Chào buổi chiều, ngài Too-swift Wicks! – tôi đanh thép đáp trả.

– Ý mày là sao hả? – hắn hỏi, tỏ rõ vẻ bối rối khôn tả.

– Ý tôi là, – tôi điềm nhiên đáp, – nhiệt tình quá hóa ra phá hoại.

– Cái quái gì thế này hắn lảm nhảm cái đách gì vậy trời? – hắn hỏi, quay sang cầu cứu sự đồng tình của đám đông xung quanh.

– Có thánh thần mới hiểu nổi thưa ngài, – chủ quán đáp. – Tôi từng nghe ông mục sư giảng đạo y hệt thế này ở nhà thờ vào các ngày Chủ nhật. Hắn ta đúng là một trong số những tên mọt sách gàn dở ở đây rồi.

– Người ta đồn rằng tay Swift Nicks vốn là một tay mọt sách đấy ạ, – tên nài ngựa khôn lỏi chêm vào.

– Chẳng có thời gian để đôi co nhảm nhí đâu, – tôi lạnh lùng nói. – Tống cổ ngay tôi ra trước một vị quan tòa đi. Đó là luật pháp, và các người thừa biết điều đó. Tôi cảnh báo các người là mọi sự trì hoãn đều sẽ cực kỳ nguy hiểm đấy. Cái tên bạn hiền tự tin thái quá này của các người đã sớm vướng vào các vụ kiện về tội hành hung, gây thương tích, vu khống, bắt giữ trái pháp luật, và Chúa mới biết còn tội gì nữa. Chúa tôi ơi, tôi sẽ cho các người nướng chín tại phiên tòa đại hình cho mà xem. Lôi tôi đến ngay vị thẩm phán gần nhất mau lên. Tôi sẽ nhờ pháp luật trừng trị các người trước khi qua thêm một tiếng đồng hồ nữa cho coi.

Sự quyết liệt của tôi khiến gã người London hoảng hốt, hắn đủ khôn ngoan để nhận ra mối hiểm họa nếu mình bắt nhầm người, nhưng gã béo thì ngu ngơ như bò đội nón, vẫn tiếp tục hùa vào cổ vũ.

– Hắn chính xác là Swift Nicks rồi còn gì nữa, thưa ngài Wicks, – hắn quả quyết. – Túi thì nhét đầy súng ngắn, tận bốn khẩu lận; một thằng chả có vóc dáng chuẩn chỉnh, cao tầm sáu thước lẻ; lại lảng vảng ở vùng này, nơi người ta thừa biết tung tích của hắn; ăn nói thì y hệt như một quý ông; và mẹ kiếp, chính mắt tôi đã nhìn thấy Swift Nicks cách đây chưa đầy hai thước, và đó chính là cái mũ của Swift Nicks chứ chẳng sai đi đâu được, tôi nhận ra ngay từ khoảnh khắc hắn bước chân vào phòng.

– Mẹ kiếp cái mũ! – tôi thốt lên khá dõng dạc, nhưng trong lòng lại cảm thấy vô cùng chán nản trước bằng chứng xác thực quá mức này chĩa vào mình.

Gã lùn chộp lấy chiếc mũ lên săm soi kỹ lưỡng phần bên trong, một việc mà tôi chưa từng làm bao giờ, bởi tôi chỉ toàn chú ý đến vẻ bề ngoài của nó.

– Đây rồi nhé! – hắn đắc thắng kêu lên. – "S. N. Mũ của hắn." Còn gì để chối cãi nữa không?

– Tôi muốn gặp vị quan tòa gần nhất, – tôi lớn tiếng đòi.

– Thôi được rồi, ngài Wicks, – gã béo nói, – hắn muốn gì thì cứ chiều theo ý hắn đi. Từ đây đến dinh thự của ngài Địa chủ chỉ độ hai dặm chứ mấy.

– Ngài Địa chủ thế nào cũng phát điên lên cho mà xem, – chủ quán nhận xét. – Ổng khoái chí cái vụ tóm cổ Swift Nicks này lắm rồi.

– Thế thì có lẽ ông ấy sẽ đứng ra bảo lãnh cho ngài Wicks đây, – tôi mỉm cười nói.

– Thế phỏng? – ngài Wicks cáu kỉnh hỏi lại.

– Nếu ông ta không chịu, – tôi đáp trả, – anh sẽ phải trải qua một đêm trong nhà giam Leicester đấy.

– Người ta đồn là tay Swift Nicks can trường lắm cơ mà, – tên nài ngựa lẩm bẩm.

– Thế thì chúng nó toàn là lũ bịp bợm, – tôi đáp.

Tôi bị còng tay lại và trói xốc lên lưng Sultan, với đôi chân bị thòng thừng buộc chặt dưới bụng ngựa. Thế rồi chúng tôi khởi hành, và toàn bộ ngôi làng vốn đang chìm đắm trong sự yên bình khi đám lính vùng Cao nguyên chỉ còn cách đó năm dặm, bỗng túa ra đường một cách hân hoan vui sướng để được tận mắt chiêm ngưỡng mặt mũi Swift Nicks. Lão chủ quán bỏ mặc khách khứa, tên nài ngựa bỏ dở bầy ngựa để cùng lên đường với chúng tôi, và có ít nhất khoảng hai mươi dân làng, phần lớn là phụ nữ, đã nhập đoàn để biến sự kiện này thành một buổi lễ diễu hành thực thụ. Đâu đó dọc đường, chúng tôi thỉnh thoảng lại gặp một kẻ thò cổ ra hỏi: "Có chuyện gì thế?", và khi nhận được câu trả lời: "Swift Nicks", kẻ đó liền tự giác nhập vào đám rước và vừa lê bước vừa say sưa nghe kể lại chi tiết trận ẩu đả tại quán trọ. Cuộc bắt giữ tôi trở thành một đề tài cực kỳ nổi tiếng, và bọn chúng hoan hỉ hả hê ngay trước mặt tôi về cái kết cục đang chờ đợi tôi ở phía trước, cãi cọ chí chóe tựa như bầy quạ khoang khi bàn tán xem đâu là nơi thích hợp nhất để dựng giá treo cổ cho tôi. Đa số đều thống nhất điểm đến là cây Copt Oak, nơi mà như bọn chúng vừa đe dọa vừa rủa xả the thé, tôi từng ra tay sát hại mụ già tội nghiệp Bet o' th' Brew'us chỉ vì một shilling sáu xu. Thật là một sự giải thoát khi nghe tiếng chủ quán hét lớn với ngài Wicks: "Đến trang viên của ngài Địa chủ rồi đấy!"

Chúng tôi rầm rộ kéo đến một ngôi nhà bằng đá trang nhã mang kiến trúc cổ kính với hai tháp canh nhô lên ở hai đầu cánh nhà. Vận may của tôi quả thực đã cạn sạch. Ngài Địa chủ vẫn chưa trở về nhà sau chuyến đi săn, vì ông vẫn thường cùng bầy chó săn đuổi theo dấu vết bất kể ngày nào thời tiết thuận lợi. Ông đã phi ngựa đi quá xa, hoặc bị trễ giờ, hay ngựa đã gãy giò, và chẳng ai có quản gia đỏ hỏn của ông cho biết khi nào thì ông mới quay về. Thế là đám dân làng bị đuổi đi như đuổi gia súc, Sultan được dắt vào chuồng, còn năm chúng tôi được sắp xếp cho túc trực trong sảnh lớn, bởi chủ quán và tên nài ngựa khăng khăng ở lại với lý do một tên tội phạm nguy hiểm cỡ Swift Nicks cần phải được canh gác nghiêm ngặt. Bọn chúng tống tôi ngồi dưới vòm lò sưởi lớn rồi quây quần ngồi thành một nửa vòng tròn xung quanh tôi, tay mỗi người một khẩu súng đã lên đạn và một vại bia. Phu nhân của ngài Địa chủ bước vào, đứng từ xa tít tắp để quan sát tôi, và tôi nhận ra bà đang vô cùng khiếp sợ trước con người tôi, dù tôi lúc bấy giờ đang bị còng tay và canh giữ cẩn mật.

Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua chậm chạp như bò, mang theo cơ hội cuối cùng để tôi có thể đặt chân đến Derby trước sáu giờ mà đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ. Margaret sẽ nghĩ về tôi thế nào đây? Sự kiêu hãnh rạng rỡ thấy rõ của nàng đối với vinh dự mà Hoàng tử ban tặng khi lựa chọn tôi làm người trợ tá riêng từng là niềm hạnh phúc lớn lao của tôi, thế mà giờ đây tôi lại phụ lòng ngài và khiến nàng phải lo lắng khôn nguôi. Suy nghĩ ấy khiến tôi tức điên lên, và tôi trừng trừng nhìn đám người bắt giữ mình bằng ánh mắt sắc lẹm chẳng thua kém bất kỳ tên cướp đường nào trên xa lộ của Hoàng gia.

Cuối cùng, sự giải cứu cũng xuất hiện dưới hình hài cậu con trai út của ngài Địa chủ, một thiếu niên vạm vỡ chừng mười hai tuổi, tay cầm chiếc cần câu hớt hải chạy xồng xộc vào nhà và tiến thẳng về phía tôi chẳng mảy may tỏ chút sợ hãi nào. Cậu nhóc đang gặp rắc rối với chiếc cần câu của mình, vì sơ ý làm gãy khúc ngọn khi đang cố lôi lên một con cá trắm bự. Sau một hồi kỳ kèo mặc cả, tôi được tháo còng tay và bắt tay vào việc nối lại khúc cần bị gãy.

– Người ta đồn rằng, – tôi cất giọng trêu chọc, – tay Swift Nicks vốn là một tay cừ khôi trong việc nối cần câu đấy nhóc ạ.

– Tao chưa từng nghe ai kể về chuyện đó bao giờ cả, – tên nài ngựa đần độn lầm bầm.

– Chú có thực sự là Swift Nicks không ạ? – cậu bé ngẩng lên hỏi, nhìn thẳng vào tôi bằng đôi mắt trong veo và đầy thành thực.

– Chẳng khác gì cháu là Jonathan Wild hay Prester John cả đâu, con trai ạ, – tôi đáp.

– Thế chú là ai ạ? – cậu nhóc vẫn gặng hỏi.

– Ta là một kẻ khốn khổ chuyên nghề nối cần câu. Ta kiếm sống bằng cách phi ngựa rong ruổi khắp chốn trên một con tuấn mã tuyệt đẹp, giắt một cặp súng ngắn trong bao và một cặp khác trong túi, đi lùng những cậu bé ngoan ngoãn có cần câu bị gãy để sửa giúp chúng – ý ta là sửa cần câu chứ không phải sửa người nhé – sao cho bố của các cậu ấy chẳng bao giờ phát hiện ra và chiếc cần lại còn tốt hơn cả trước kia nữa. Con cá trắm đó to cỡ nào hả nhóc?

– To thế này này ạ! – cậu bé đáp, giơ hai tay ra cách nhau khoảng hai gang tay.

– Lợi ích tuyệt vời nhất khi được ta sửa cần câu cho, con trai ạ, là sau đó cháu sẽ đủ khả năng phân biệt được một con cá trắm với một con cá voi.

– Thưa chú, – cậu bé ưỡn ngực kiêu hãnh đáp, – dòng họ Chartley chúng cháu không bao giờ nói dối.

– Dĩ nhiên rồi, – tôi nói, – thật khó để nói chính xác một con cá to đến mức nào khi cháu đã để sổng mất nó. Thế hóa ra cháu tên là Chartley à. Đây là lâu đài Chartley Towers phải không?

– Vâng, đúng thế ạ, – cậu bé trả lời, giọng vang lên niềm tự hào ngây thơ đáng yêu. – Chúng cháu là dòng họ Chartley ở Chartley Towers. Gia phả nhà cháu kéo dài tận từ thời vua Edward đệ tam cơ đấy.

Đã bao giờ có ai gặp phải vận may trớ trêu như tôi chưa chứ? Tôi bị vây hãm ngặt nghèo chẳng khác nào một hạt dẻ nằm giữa chiếc kìm kẹp hạt. Để chứng minh mình không phải là Swift Nicks, tôi buộc phải chứng minh mình là Oliver Wheatman. Tên thám tử Bow Street chắc chắn sẽ bám riết lấy điểm đó, bởi với tư cách là Swift Nicks, tôi đáng giá tới năm mươi đồng guinea đối với hắn, một khoản tiền đủ để khiến hắn sẵn sàng đem treo cổ một nửa giáo xứ mà chẳng mảy may động lòng thương xót. Mặt sấp hay mặt ngửa, tôi chắc chắn sẽ thua cuộc. Đưa xe ra đường lôi đi xử trảm! Những suy nghĩ ấy vừa thoáng qua trong đầu, thế mà giờ đây niềm tự hào con trẻ của một cậu nhóc lại vừa kéo tôi ra khỏi vầng hào quang nguy hiểm. Tôi đâm ra hứng khởi hẳn lên với công việc nối cần, và kể vanh vách cho tiểu thiếu gia nhà Chartley nghe về trận chiến của tôi với con cá vược khổng lồ.

Công việc vừa mới hoàn thành thì ngoài sân bỗng vang lên những tiếng móng ngựa lộc cộc, và chỉ một phút sau, cánh cửa bật mở tung để rồi một dòng lũ chó săn cáo ồn ào nhao nhao xông vào, theo sau là một gã đàn ông to lớn, lực lưỡng, giọng oang oang đi ủng da và đội bộ tóc giả xoăn màu nâu.

– Ăn tối thôi! Ăn tối thôi! – hắn lớn tiếng gọi người vợ đang đi ra đón. – Chuyến đi săn tuyệt nhất trong năm đấy, cưng ơi! Ba mươi dặm trước khi nó chui vào hang, lũ chó đánh hơi đuổi theo sát nút từng thước đất, và một phen đào bới bở hơi tai mới lôi được nó ra đấy! Chỉ có ta, lão mục sư và cậu nhóc Bob Eld ở Seighford là kịp có mặt lúc nó đền tội thôi. Dọn ăn mau lên em ơi! Anh có thể nuốt trọn cả một góc nhà đây này. Ồ nào! Mẹ kiếp! Mày đang làm cái quái gì ở đây thế, Jack Grattidge?

Câu hỏi được hướng về phía lão chủ quán đang lúp xúp lê bước ra sảnh để đón ngài. Ngài Địa chủ vung roi quất xuống đất ra hiệu cho bầy chó im bặt để chờ câu trả lời.

– Dạ thưa ngài, – lão chủ quán đáp, – chúng con đã tóm được Swift Nicks rồi ạ.

– Có thánh thần mới tin được! Mày đùa à!

– Thật ạ, chúng con bắt được thật mà, – lão chủ quán quả quyết.

– Hoan hô! – ngài Địa chủ gầm lên. – Tin lớn đây! Tao thưởng mày một đồng guinea vì tin này nhé, Jack.

Ông hùng hục bước đến bên lò sưởi, miệng oang oang la hét: – Lôi cái tên khốn đẫm máu ấy ra đây cho ta! Ta sẵn sàng bò lê lết từ đây tới London bằng cả bàn tay và đầu gối chỉ để tận mắt nhìn thấy hắn đền tội trên giá treo cổ.

Trông thấy tôi đang cặm cụi với công việc vô hại là nối cần câu cho cậu con trai của ông, lại thêm chính cậu nhóc đang ngồi ngay sát đầu gối tôi chăm chú theo dõi, ông liền nhầm tưởng gã Wicks mới chính là tên cướp đường, thế là ông tru tréo chửi thề om sòm đủ sức làm bật gốc cả một cây sồi già. Quả thực ông là một kẻ nóng tính và bộp chộp đến mức phải mất mấy phút đồng hồ người ta mới giải thích cho ông hiểu rõ sự nhầm hiểu. Đến khi nhận ra rằng người đang cấy vá chiếc cần câu chính là Swift Nicks thật sự, thì ông đã trút sạch vốn từ chửi rủa của mình, đành ngẩn ngơ đứng trân trân nhìn tôi với đôi mắt há hốc.

– Ta đoán rằng, – tôi cất giọng hết sức lịch sự, – vì ngài vừa đi săn về nên chai rượu hạt dẻ vẫn đang được ủ ấm bên bếp lò nhỉ?

– Mẹ kiếp! – hắn thốt lên, rồi ngã phịch xuống chiếc bành bọc đệm.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng đi đến một bản hiệp ước, trong sự uất ức tột cùng của gã Wicks khi nhìn những đồng guinea bay biến khỏi tầm tay. Ngài Địa chủ thoạt đầu cũng chẳng kém phần ấm ức, bởi rõ ràng việc tóm gọn Swift Nicks là một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với ông.

– Ở cái xó xỉnh này thì việc ai đội chiếc vương miện nào ở London có nghĩa lý gì chứ? – ông nói. – Dân chúng London chẳng thèm bận tâm đến chúng ta, và chúng ta cũng đếch thèm quan tâm đến họ. Nhưng Swift Nicks thì có đấy chứ. Bọn ta muốn hắn phải lên giá treo cổ. Chẳng một tên nào ở quanh đây có chút não trạng mà lại đi bận tâm đến mớ chính trị vớ vẩn của tụi bay ngoại trừ những dịp bầu cử, khi mà chính trị đồng nghĩa với việc nhồi ngập bia vào bụng và nhét đầy guinea vào túi cho từng tên thợ hàn với thợ nến ở Leicester. Thế nhưng ngươi, hoặc cái tên khốn đẫm máu Swift Nicks kia nếu ngươi không phải là hắn, cứ làm chúng ta đứng ngồi không yên vào mỗi đêm. Xéo đi với cái đám chính trị của tụi bay! Treo cổ Swift Nicks lên cho ta mau!

Các điều khoản trong hiệp ước của chúng tôi là tôi sẽ được ở lại đây yên ổn và trải qua một đêm vui vẻ, với lời hứa danh dự rằng sẽ không mưu toan trốn chạy hay làm hại bất kỳ ai. Trong lúc đó, bằng chi phí do tôi chi trả, một người đưa thư sẽ được cử đi đón Nance Lousely và cha cô bé đến để làm chứng trước pháp luật nhằm minh oan cho tôi.

– HỒN MA THÂN MẾN, – tôi viết thư cho cô bé, – anh đang gặp nguy hiểm lớn vì một gã mũi đỏ khăng khăng vu cáo anh là Swift Nicks. Anh muốn em và cha cùng đến đây để chứng minh hắn là một thằng ngốc. Nếu không thì anh sẽ bị treo cổ trên một cái giá ở nơi gọi là Copt Oak, mà anh thì không tài nào chịu nổi mấy cái giá treo cổ ấy đâu, vừa lạnh lẽo lại vừa lộng gió nữa chứ. Thế nên hãy đến ngay nhé, cô bé Nance can đảm của anh! – Bạn của em,

– O. W.

Một tên gia đinh được gọi tới và tôi chỉ dẫn hắn cách tìm đến nhà Job Lousely. Hắn được cấp một con ngựa tốt từ chuồng ngựa của ngài Địa chủ và lập tức lên đường. Dù hắn có nhanh nhẹn đến đâu đi nữa, thì cũng phải mất nhiều tiếng đồng hồ nữa hắn mới có thể quay trở lại. Thế là tôi đành an phận thủ thường để trải qua một đêm ở đây.

Chẳng có gì mới mẻ trong cách giải khuây qua đêm của ngài Địa chủ cả. Vị mục sư vừa tham gia buổi đi săn và bận rộn trong chuồng ngựa suốt thời gian giải quyết vụ rắc rối của tôi, giờ đã nhập tiệc ăn tối cùng chúng tôi. Hắn ta vừa mới từ Cambridge trở về, nơi mà tại cội nguồn tri thức đó, những giáo trình chính dường như chỉ là cuốn Thú y học của Bracken và cuốn Bệnh học ở ngựa của Gibson, kèm theo cuốn Whist của Hoyle như một loại sách đọc giải trí nhẹ nhàng cho những giờ nhàn rỗi. Hắn là một tay cưỡi ngựa cừ khôi, chửi thề như hát hay và uống rượu như hũ chìm, và sau khi được phong chức hai lần như hắn gọi thế dưới tay một vị giám mục thân thiết, hắn đã được ngài Địa chủ bốc đặt thẳng vào một giáo xứ lân cận với mức lương ba trăm bảng một năm để cho bấy nhiêu đàn chó săn của ngài, cùng với thú rừng và bọn thợ săn trộm trên điền trang được hưởng ơn mưa móc từ các buổi lễ của hắn. Tuy nhiên, hắn cũng đủ khôn ngoan để mua sẵn những bài giảng đạo tốt. "Ít nhất thì mấy bà vợ cũng bảo là bài giảng hay," ngài Địa chủ giải thích. "Tôi thì chịu chết chẳng biết gì đâu, vì thằng Joe là một tay biết điều, và lúc nào cũng ngậm miệng lại ngay hệt như lúc tôi vừa tỉnh giấc vậy."

Tên thám tử Bow Street, ngài Wicks, và viên cảnh sát trưởng mũi đỏ của hạt, kẻ ứng đáp với cái tên Pinkie Yates, cũng có mặt trong bữa tiệc. Tôi ăn rất ít và uống còn ít hơn, thế nhưng những kẻ khác thì dốc cạn các chai rượu với tốc độ chóng mặt và chẳng mấy chốc đã đỏ bừng mặt vì hơi men. Có một loại thức uống mà đám thợ săn nuốt lấy nuốt để với vẻ vô cùng hào hứng, nhưng vì cái dạ dày của mình, tôi đã kiên quyết từ chối chuyền tay, dẫu cho đám người nhà luật vẫn húp lấy húp để như những vị anh hùng, và tôi dám cá là trong thâm tâm bọn chúng đang tưởng tượng bản thân đang được cụng ly cùng các vị thần linh vậy. Cách thức pha chế của nó như thế này. Vị mục sư lôi từ trong túi ra một chiếc chân con cáo mà bọn chúng đã săn được ngày hôm đó, và dẫu cho nó đang bốc mùi hôi thối, nhớp nhúa và đẫm máu đi chăng nữa, hắn vẫn dùng tay bóp nát và khuấy đều nó trong một chiếc vại uống rượu vang bốn quai. Trong thứ hỗn hợp gớm ghiếc ấy, ngài Địa chủ đã long trọng nâng chén chúc mừng theo văn phong của thợ săn:

– Ngựa mạnh khỏe. Chó cường tráng,

Hang đã lấp, Cáo đầy đàn.

Vị mục sư sau đó nấc cụt cất giọng hát một bài ca đủ để khiến hắn phải bị tống vào cùm, tiếp đó ngài Wicks, với ba cái vỏ chai rỗng và ba con dao dựng lên tượng trưng cho giá treo cổ, đã hào hứng thuật lại chi tiết màn quy tiên của vị Đại úy lừng danh Suck Ensor, kẻ từng vùng vẫy co giật suốt mười phút đồng hồ trước khi được người nhà thân thích nhận về chôn cất.

Sáng hôm sau, đồng hồ điểm năm giờ thì người đưa thư của tôi trở về cùng Nance Lousely và cha cô bé. Tôi đã thiếp đi trên chiếc ghế bành của ngài Địa chủ ngay trước lò sưởi ở sảnh, với sự túc trực thay phiên nhau canh gác của đám lính săn tiền thưởng, bởi năm mươi đồng guinea quả thực rất đáng để canh giữ cẩn thận. Lão quản gia đứng canh gác ở cửa, hồi hộp ngóng chờ để kiếm cho bằng được đồng tiền thưởng mà tôi đã hứa. Tiếng động hắn phát ra khi tháo xích và mở then cửa đã đánh thức tôi dậy, và lòng tôi bỗng ấm lại khi trông thấy Nance đang đứng rụt rè ngay phía trong sảnh, bàn tay bé nhỏ nằm gọn trong tay cha, cho đến khi nhận ra tôi, cô bé liền tung tăng chạy ào đến.

– Anh biết chắc là em sẽ đến mà, đúng không anh? – cô bé vừa nói vừa ngước nhìn tôi bằng gương mặt lo âu xinh đẹp thay cho lời ngỏ.

– Dĩ nhiên rồi, hồn ma nhỏ của anh! – tôi nhanh chóng đáp lời.

– Cơn ơn anh! – cô bé thốt lên với vẻ nhẹ nhõm thấy rõ. Chỉ cần trên gương mặt hay trong lời nói của tôi thoáng qua một chút hoài nghi, là cô bé hẳn đã sụp đổ rồi.

– Đừng ngốc thế chứ, hồn ma nhỏ, – tôi nói. – Lại đây ngồi sưởi ấm đi nào! Còn ông khỏe chứ, Job? Rất cảm ơn cả hai bố con nhé.

– Chúng tôi đã phải phi ngựa bạt mạng mới đến kịp đấy thưa ngài. Cậu gia đinh của ngài tới nhà chúng tôi lúc tận một giờ kém, và bọn tôi đã lên đường ngay trước một rưỡi rồi đấy. Thề có Chúa! Bọn tôi phóng nhanh lắm chứ bộ. Con Nance nhà tôi suýt nữa thì vỡ tim dọc đường. Thật đấy thưa ngài.

– Con Nance nhà ông quả là một cô bé cưng, – tôi vừa nói vừa vuốt nhẹ mái tóc rối bù của cô bé.

Theo lời thỉnh cầu của tôi kèm theo lời hứa sẽ nâng đồng tiền thưởng lên thành nửa guinea, lão quản gia đã mang cho họ chút đồ ăn sáng. May mắn thay, ngài Địa chủ và vị mục sư có lịch đi săn vịt cách đó mười dặm vào lúc bảy giờ, thế nên họ đã thức dậy từ rất sớm. Vấn đề của tôi được giải quyết nhanh chóng. Ngài Địa chủ ngồi oai nghiêm trên chiếc ghế bành, còn Nance và cha cô bé thuật lại câu chuyện y hệt như những gì tôi đã kể trước đó. Lời khai đó đã minh oan cho tôi, khiến đám lính săn tiền thưởng trở nên bối rối ngượng ngùng và vô cùng nhẹ nhõm khi tôi dùng một cách thức khôn ngoan để né tránh những câu hỏi oái oăm bằng cách cao thượng chấp nhận lời xin lỗi của bọn chúng.

– Tao thừa biết mày không phải là Swift Nicks, – ngài Địa chủ nói, – ngay khoảnh khắc tao thấy mày ngồi nối cần câu cho thằng con trai tao đấy. Mẹ kiếp, thế nào rồi tụi tao cũng tóm cổ được hắn cho mà xem.

Ông mời tôi ở lại dùng bữa sáng cùng mình, và đây là lần đầu tiên chúng tôi chỉ có hai người.

– Là ném vào lửa hay đút vào góc lò sưởi hả cậu? – ông ẩn ý hỏi.

Tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần cho câu hỏi đó, tay vẫn cầm con dao lướt ngang qua chiếc đùi giăm bông hảo hạng mà tôi đang thái mỏng, bèn ra vẻ ngạc nhiên hỏi lại: – Cái gì ném vào lửa hoặc đút vào góc lò sưởi cơ ạ?

– Quả hạt dẻ ấy, – ông đáp.

– Quả hạt dẻ á! – tôi vờ ngạc nhiên thốt lên.

– Thôi được rồi! Tôi không trách sự cẩn trọng của cậu đâu, thưa ngài. Sir James Blount đã dò la tôi và tôi thừa biết cậu đã nhận được câu trả lời của tôi rồi. Dù là lửa hay góc lò sưởi đi nữa thì đối với tôi cũng chẳng có gì khác biệt, và tôi tuyệt đối không muốn bỏ lỡ buổi săn vịt ngày hôm nay chỉ vì mấy chuyện đó đâu.

– Tôi hy vọng là sẽ có rất nhiều chim, và chúng sẽ bay thật khỏe, – tôi nói.

Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi về sự kiện lớn lao tình cờ đưa chúng tôi đến với nhau đã khép lại như thế. Con người ấy, vị địa chủ cai quản nửa tá ngôi làng, thản nhiên đi săn vịt trong khi vận mệnh của cả nước Anh đang được định đoạt ngay ngoài ngưỡng cửa nhà ông.

Lần thứ hai, Nance sóng bước cùng tôi một quãng đường để tiễn tôi lên đường.

– Nance, cô bé ngọt ngào của anh, – tôi nói, kìm cương Sultan lại, – em có biết cái quán rượu tồi tàn gần nhà em không?

– Nơi mụ đàn bà lòe loẹt hay lui tới phải không ạ, thưa anh?

Chính là cái xó xỉnh đó! Giờ thì Swift Nicks đang lẩn trốn ở đó đấy. Hãy quay về và báo cho ngài Địa chủ biết rằng em có thể tìm thấy Swift Nicks cho ông ấy, họ sẽ lấp đầy chiếc tạp dề của em bằng những đồng guinea đấy. Em sẽ tặng anh một nụ hôn để đổi lấy đầy một tạp dề tiền guinea chứ, hử?

– Không đâu thưa anh, – cô bé kiên quyết đáp.

– Vậy thì hãy hôn anh đi Nance, bởi dẫu cho chúng ta có lẽ sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa, thì chúng ta cũng đã từng giúp đỡ lẫn nhau khi hội ngộ.

Cô bé đặt chân lên bàn đạp ngựa của tôi, và tôi với tay nhấc bổng cô lên đặt vào lòng, hôn lên đôi môi trẻ trung đỏ mọng cùng đôi má còn vương vệt nước mắt.

– Tạm biệt Nance nhé!

– Tạm biệt anh. Chúa phù hộ cho anh!

Đến khúc cua của con đường, tôi quay đầu lại nhìn cô bé lần nữa. Nance vẫn đứng đó, ngước nhìn theo bóng tôi, và vẫy chiếc mũ vải để từ biệt. Tôi cởi mũ vẫy chào lại, rồi bóng dáng cô bé khuất hẳn sau khúc cua.

– Nance quả là một cô gái tốt, – tôi lớn tiếng lẩm bẩm, – còn mày, đồ khốn kiếp, chính mày là nguyên nhân gây ra mọi rắc rối cho ta đây này – câu nói này dành riêng cho chiếc mũ mới của tôi. Thói chưng diện phù phiếm đã khiến tôi phải trả giá đắt. Hoàng tử sẽ nói gì về thất bại của tôi đây? Margaret sẽ nghĩ gì? Lại một lần nữa sẽ có những câu hỏi chất vấn trong ánh mắt nàng, và bóng đen của sự hoài nghi hiện lên trên khuôn mặt ấy.

– Mày đúng là đồ khốn! – tôi lại gầm lên với chiếc mũ, rồi vung tay ném mạnh một cái thật dứt khoát, phóng thẳng nó bay vèo vào dòng suối nhỏ bên đường.

Sultan lập tức thể hiện sở trường của mình. Nó phi liền mười dặm chỉ trong vòng năm mươi phút tính theo đồng hồ của tôi, một khoảng thời gian được bấm giờ chuẩn xác từ cột mốc cây số này sang cột mốc cây số khác.

Cuối cùng thì dòng sông Trent rộng lớn cũng hiện ra trước mắt và tôi phi ngựa rầm rập qua cầu Swarkston, để rồi ngay lập tức bị chặn lại ở đầu bên kia bởi một trạm gác kiên cố của lực lượng người Highland. Tuy nhiên vận may của tôi vẫn chưa dứt, bởi Donald có mặt trong số đó, và sau khi nghe anh giải thích tôi là ai, viên sĩ quan chỉ huy đã đồng ý cho tôi qua đường.

Donald sóng bước cùng tôi suốt nửa dặm đường để kể lể mọi tin tức. Hoàng tử đã nghỉ lại suốt đêm ở Derby tại dinh thự của Bá tước xứ Exeter. Đã có rất nhiều lời đồn đại và tranh cãi nảy lửa giữa các thủ lĩnh vào ban đêm, một hội đồng chiến tranh đã được ấn định vào sáng nay, và chẳng một ai biết rõ tất cả những chuyện đó là về vấn đề gì. Đã có những sự kiện linhình đình diễn ra suốt đêm trong thị trấn, và anh, Donald, đã đứng gác tại nơi nghỉ ngơi của Hoàng tử.

– Cô ấy đã làm lu mờ tất cả bọn chúng, y như tôi đã nói với anh vậy! – anh hào hứng kể. – Chúa tôi ơi, thật là một cảnh tượng tuyệt trọn khi được ngắm nhìn cô ấy cùng nàng Maclachlan xinh đẹp lướt thướt uyển chuyển trên sàn nhảy. Trông họ chẳng khác nào đôi đại bàng vàng đang lướt đi giữa bầu trời trên đỉnh núi dưới ánh mặt trời rực rỡ. Chúa tôi ơi, tôi phải nói thật với anh rằng, bọn họ quả là một đôi uyên ương đẹp tuyệt trần. Cầu Chúa phù hộ cho họ.

– Tạm biệt Donald nhé! Tôi phải phi nước đại đây. Chết tiệt cái tên Swift Nicks! – tôi hét lên, rồi thúc mạnh một cú vào mông Sultan khiến chú ta chồm lên phóng đi như một mũi tên rời cung. Tôi ngay lập tức cảm thấy hơi hối hận, nhưng sự bực dọc đã dồn nén đến mức tôi chẳng thể nào kìm chế thêm được nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.