Hiệp Sĩ Phiêu Lưu

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20
Cuộc Họp Hội Đồng Tại Derby

❊ ❊ ❊

Thật là một cảm giác nhẹ nhõm khi bước vào những con phố đông nghẹt người của thị trấn, nơi mà việc suy nghĩ trở thành điều bất khả thi và những lời chửi rủa xơi tái lại vô cùng cần thiết. Ngay cả với sự trợ giúp ấy để dọn đường, Sultan vẫn vấp phải một cặp lính cao nguyên, hai kẻ trong bầy Maclachlan và Macdonald đang tranh giành quyền chiếm đoạt một cửa hàng thợ dao ở góc phố Bag Street. Theo thói quen quê hương, chúng lập tức ngưng cuộc cãi vã để cùng nhau chống lại kẻ thù chung, nhưng khi một tên Maclachlan nhận ra tôi là quen biết, chúng lại lao vào tẩn nhau với sự nhiệt tình vô hạn, và tôi thấy chúng vẫn đang đánh nhau hăng máu khi rẽ vào quảng trường chợ.

Bộ sưu tập đại bác khiêm tốn của chúng tôi đã được đóng gói tại đây cùng với các phụ kiện, và tôi đang lách mình qua chúng để sang phía bên kia quảng trường, nơi có Tòa nhà Exeter tọa lạc, và chỉ còn cách đó chừng một tầm ném đá thì Đại tá chạy xốc tới, đầu trần và đầy vẻ sốt sắng.

– Cậu đồ tể trẻ! Có chuyện gì thế? – Ông ấy hỏi.

– Tôi mất mũ rồi, thưa ngài – tôi đáp.

– Mất... Quỷ tha ma bắt! Tôi sẽ đưa cậu ra tòa án quân sự trước khi tôi dứt khoát với cậu đấy. Đi theo tôi mau! Nào, cưng của ta. Buộc nó vào đuôi chiếc xe kia rồi đi theo. Hoàng tử đã nhìn thấy cậu từ cửa sổ. Đứng yên nào, người đẹp của ta! Đi thôi, Noll! Thử tưởng tượng một thị trấn cỡ này mà không có nổi một nhúm thuốc hít Strasburg coi cho được!

Tôi vội vã đi theo ông qua sảnh và lên cầu thang. Chắc chắn có một việc lớn đang diễn ra, bởi sảnh và cầu thang chen chúc những nhóm thủ lĩnh người cao nguyên, và ở một nhóm nọ, đứng tách biệt hơn chút ít, tôi thấy Murray và Ogilvie. Đại tá không thèm để ý đến những ánh nhìn tò mò đổ dồn vào chúng tôi, đặc biệt là tôi, mà sau vài câu trao đổi với người chỉ huy trực ban, đã đẩy tôi vào yết kiến mà chẳng cần khách khí.

Charles đang đi lại ngắn quãng gần lò sưởi, nhưng dừng lại khi tôi cúi chào ngài.

– Ngươi đã phụ ta! – Ngài nói đầy cay đắng.

– Tôi đã thực hiện chính xác các mệnh lệnh của Hoàng thân, tuy nhiên, rất tiếc là không đúng giờ do bị giam giữ trong suốt những giờ qua. Khi rong ruổi vì việc của ngài, thưa ngài, tôi đã phi ngựa tới sát chân giá treo cổ.

Tôi nói điềm tĩnh nhưng dứt khoát, vì tôi không muốn bị chì chiết một cách bất công, không, dù có là một vị hoàng tử đi nữa. Ngài hiểu ý tôi, và rộng lượng đáp: – Ta biết ngươi sẽ làm vậy, Master Wheatman, nếu cần thiết.

Căn phòng ốp gỗ sang trọng mà chúng tôi đang có mặt được bày một chiếc bàn dài cùng nhiều ghế. Ở đầu bàn, một kẻ trông có vẻ tiểu nhân đang cặm cụi viết lách. Bên cửa sổ, hai người khác đang đứng chuyện trò số niêm mật, và như tôi biết được sau đó, họ chính là những người Ireland, Sir Thomas Sheridan và Đại tá O'Sullivan.

– Hãy để lại bản công văn đó, thưa ông thư ký, rồi lại đây. Cả các vị nữa! – Charles nói.

Thế là, với vị Hoàng tử ngồi gần lò sưởi và bốn vị thủ lĩnh đứng xếp hàng phía sau, tôi đứng kể lại câu chuyện của mình, lược bỏ tất cả những gì vô nghĩa theo quan điểm của họ. Đúng như tôi dự đoán, hiệu quả của nó đối với ngài là không thể nhầm lẫn. Quả thực tôi đã trở về tay trắng. Dù vậy, ngài vẫn trấn tĩnh lại và thói điềm đạm nói: – Chà, thưa các quý ông, nếu người dân vùng Midlands không ủng hộ ta, thì chắc chắn họ cũng không chống lại ta.

– Đó là một điểm rất có lợi cho ngài, thưa ngài – O'Sullivan nói.

– Khi ta đã đánh bại Công tước và tiến vào London – Charles nói, được cổ vũ ngay lập tức bởi bất kỳ tia hy vọng nhỏ nhoi nào – họ sẽ bu quanh ta như ong vò vẽ quanh hũ mật. Tối qua ta còn phân vân, nhưng Master Wheatman đã giúp ta quyết định. Ta sẽ cưỡi ngựa vào London trong trang phục cao nguyên.

– Tôi hoan nghênh quyết định của Hoàng thân – viên thư ký có bộ dạng cáo già nói. – Đó là một lời ca ngợi xứng đáng dành cho các thị tộc dũng cảm của ngài. Sau đó chính hắn ta lại phản bội và góp phần treo cổ một số người ưu tú nhất trong số họ.

– Giờ thì tới công văn gửi Hầu tước đi – Charles nói, bước về phía đống giấy tờ của thư ký. – Vẫn còn thời gian để xem qua trước khi Murray và phe ủng hộ ông ta tới đây. O'Sullivan lặng lẽ bước đến một trong những ô cửa sổ nhìn xuống quảng trường, và chúng tôi đi theo ông ta.

– Thật tình, Đại tá ạ – ông ta nói. – Trò chơi coi như kết thúc nếu chúng ta cứ tiến lên.

– Đúng vậy – Đại tá vừa nói vừa gõ nhẹ vào hộp đựng thuốc của mình. – Quỷ tha ma bắt loại thuốc hít rappee này đi, Oliver. Ta thà hít mùn cưa còn hơn.

– Nhưng nếu Hoàng tử muốn tiến lên, tôi vẫn ủng hộ ngài – O'Sullivan nói thêm.

– Tôi cũng vậy – Sir Thomas lên tiếng.

– Tôi cũng thế – Đại tá hùa theo, – nhưng quỷ tha ma bắt, tôi sẽ nói cho ngài ấy biết sự thật chính xác về tình hình quân sự. Một đằng là bổn phận của người lính, đằng kia cũng vậy thôi. Tôi chẳng có chút e ngại gì cái chết, nhưng có thánh thần mới biết tôi không muốn danh tiếng của mình chết theo tôi đâu. Điều duy nhất có thể nói về thuốc hít rappee, Oliver, là nó còn đỡ hơn là không có gì.

– Đó cũng chính là điều tôi vừa nghĩ, thưa ngài, về chiếc mũ cũ của tôi – tôi đáp với vẻ nghiêm túc không kém.

– Cậu đang giữ câu chuyện đó để kể cho Margaret nghe phải không, cậu đồ tể trẻ, nhưng thế nào con bé cũng kể lại cho tôi nghe cho mà xem. Tôi đã thức đến tận hai giờ sáng nay chỉ để nghe nó luyên thuyên về chuyện cưới xin cho nhanh, rồi nào là thành Troy, nào là trứng rán và thịt xông khói. Nó suýt làm tôi điếc cả đầu, và mãi đến khi tôi phải nhắc lại lần thứ mười bảy rằng chẳng có gì phải lo lắng cho cậu thì nó mới chịu hôn chúc tôi ngủ ngon đấy. Mười bảy lần – một cái khụt khịt mạnh cùng đôi mắt lấp lánh vui vẻ – ta đã đếm đấy nhé.

Đó rõ ràng là những lời nhảm nhí, nhưng nó làm tôi nhói lòng.

– Con bé thật tốt quá, thưa ngài – cuối cùng tôi nói.

– Hừm! – Ông đáp, rồi quay sang chuyện trò với những người Ireland. Tôi dán mắt ra khung cửa sổ nhìn xuống quảng trường bên dưới, hy vọng thoáng thấy bóng dáng Margaret, chẳng màng quái gì đến cuộc trò chuyện sôi nổi đang ù ù bên tai. Các vị hoàng tử, vương quốc, hành quân và chiến đấu chẳng còn ý nghĩa gì với tôi trong lúc tôi đứng đó để chiến đấu giành lấy sự tự chủ cho chính mình.

Tôi bị kéo về khỏi những dòng suy nghĩ mông lung ấy bởi Đại tá, người đã nắm chặt cánh tay tôi và thì thầm: – Họ đến kìa, Oliver.

Tôi nhìn ra cửa và thấy các vị tù trưởng đang nối đuôi nhau bước vào phòng, dẫn đầu là Murray, theo sát phía sau là những nhân vật tầm vóc hơn và những người khác tùy theo thứ bậc, cho đến khi căn phòng chật ních người. Charles tiếp tục cuộc trao đổi với ngài thư ký trong khi họ tự bố trí chỗ ngồi theo phẩm trật trong hội đồng, dẫu cho Công tước xứ Perth vẫn vui vẻ đứng dọc bên lò sưởi cùng một vài người có địa vị thấp hơn. Sir Thomas Sheridan và Đại tá O'Sullivan rời khỏi chỗ chúng tôi và ngồi xuống gần Hoàng tử hơn, và khi họ đã làm xong việc đó, trong lúc mọi người vẫn đang ồn ào ổn định chỗ ngồi, tôi thì thầm với Đại tá:

– Tôi ra ngoài được chưa ạ, thưa ngài?

– Tôi thì ủng hộ việc tiến đánh London đấy – ông cười với tôi bằng ánh mắt, dẫu nét mặt vẫn trơ ra như tượng gỗ. – Và việc đầu tiên chúng ta làm, Oliver, là dẫn đầu một cuộc tấn công liều lĩnh, cậu và tôi, vào một tiệm bán thuốc lá. Quỷ tha ma bắt! Ở London có cả xe chở đầy thuốc Strasburg đấy!

– Hay là tôi xuất phát ngay bây giờ nhé, thưa ngài, để thám thính trước một hai tiệm hảo hạng nhất.

– Hay là cậu cứ ở yên đấy đi, chàng trai – ông đáp. – Cậu có mặt ở đây là hoàn toàn hợp lệ: thứ nhất, vì Hoàng tử đã gọi cậu đến và chưa hề sa thải cậu, mà cậu thì không bao giờ được phép rời khỏi sự hiện diện của hoàng gia cho đến khi hoàng gia đá đít cậu ra ngoài; thứ hai – ngưng lại để nhúm một nhược thuốc hít rappee đủ sức thổi bay cả mái đầu tôi – vì cậu không thể nào kém cỏi hơn một số kẻ thích ba hoa chích choè ở đây được. Hội đồng chiến tranh! Đúng là một lũ nghị sĩ đầu đường xó chợ!

Thế là, nhờ có Swift Nicks, tôi đã có mặt trong hội đồng lớn quyết định vận mệnh của nhà Stuart. Tôi luồn ra sau lưng Đại tá để có thể chốc chốc lại lén nhìn Margaret. Ngay phút cuối cùng, khi Charles ngước mắt lên chuẩn bị khai mạc, cánh cửa lại mở ra để đón Maclachlan, mặt đỏ gay vì vội vã. Nhìn thấy hắn khiến tôi nghiến ken két hàm răng, vì tôi thừa biết tại sao hắn lại hầm hầm thế kia. Hắn ta đã la cà quanh chỗ Margaret nên mới để lỡ mất thời gian. Rồi tôi thôi nghiến răng và bắt đầu cười tủm tỉm. Liệu Margaret thèm đếm xỉa gì đến một kẻ dám bỏ bê binh nghiệp chỉ để bám váy gái cơ chứ!

Theo thói quen thường lệ, Hoàng thân khai mạc Hội đồng bằng cách trình bày quan điểm của riêng mình.

– Ta triệu tập các vị tới đây, thưa các quý ông – ngài nói – để bàn về bước đi tiếp theo của chúng ta. Vấn đề là: Chúng ta sẽ hành quân về phía tây, chia cắt lực lượng của Công tước làm đôi và đánh bại hắn, hay chúng ta sẽ tận dụng lợi thế ở gần London hơn hắn để tiến lên và chiếm lấy Thủ đô? Ta hoàn toàn ủng hộ phương án thứ hai.

– Mẹ kiếp, thưa ngài! Nói hay lắm! – Đại tá thầm lẩm bẩm. Và quả thực ngài nói hay đến mức các vị tù trưởng nhìn nhau với vẻ đầy tuyệt vọng, bởi đây hoàn toàn không phải là phương án thay thế mà họ đang nung nấu trong đầu. Như đã rõ ngay sau đó, điều họ đến để thảo luận không phải là sự lựa chọn giữa nam và tây, mà là sự lựa chọn quan trọng hơn rất nhiều giữa nam và bắc. Trong một hoặc hai phút, tiếng Gaelic lầm rầm vang lên mà Hoàng tử không thể hiểu nổi, ít ra là về mặt từ ngữ. Sau đó, Lãnh chúa George Murray đứng dậy, cúi đầu thật sâu trước Hoàng tử và bắt đầu trình bày lập luận cho các vị tù trưởng.

– Công tước xứ Cumberland – ông nói – tối hôm đó đang ở Stafford với một đội quân gồm mười nghìn bộ binh và hai nghìn kỵ binh. Ông Wade đang hành quân gấp rút dọc theo con đường phía đông và hoàn toàn có thể lọt vào giữa quân đội của Hoàng thân và Scotland. Họ đã nhận được tin xác thực rằng một quân đội đang đóng trại ở phía bắc London. Do đó, nếu tiến đánh London, họ sẽ có hai đội quân ở phía sau và một ở phía trước, và dù ông có đánh giá cao đến đâu lòng dũng cảm cũng như chiến công của đội quân mà ông có vinh dự, dưới quyền Hoàng thân, được chỉ huy, thì thật hão huyền khi cho rằng họ có thể đánh bại ba đội quân mà mỗi đội đều đông gấp ít nhất hai lần họ. Không một lợi thế nào mà họ từng dựa vào khi đồng ý tiến vào Anh đã thành hiện thực. Họ không nhận được sự tiếp viện nào đáng kể từ những người theo phu quân Jacobite ở Anh; dân chúng chẳng hề thân thiện mà lúc nào cũng cộc cằn, trung lập, và trong mọi hoàn cảnh có thể đều tỏ ra thù địch một cách công khai; cuộc xâm lược đã hứa hẹn của người Pháp thậm chí còn chưa được thử nghiệm. Scotland là nơi họ đã giành được cho Đức Vua và có thể cũng như phải giữ lấy nó cho ngài. Để làm được điều này đòi hỏi họ phải quay về với tốc độ nhanh nhất và với lực lượng không bị suy suyển. Dựa trên tất cả những lý do đó, ông và những người mà ông đại diện, khẩn thiết cầu xin Hoàng thân hãy quay trở về đó và củng cố lực lượng cho một nỗ lực mới trong các điều kiện thuận lợi hơn.

Lãnh chúa đã nói một cách bình tĩnh và không hề có biểu hiện cảm xúc lộ ra ngoài, ngoại trừ việc khi ông nói gần đến cuối bài phát biểu và ý định của ông đã trở nên minh bạch rõ ràng, giọng nói của ông càng lúc càng nhấn mạnh hơn khi ông thấy sự thiếu kiên nhẫn không che giấu và cơn giận dữ đang dâng trào của Charles. Hoàng tử chẳng thèm đếm xỉa lịch sự đến những lý lẽ của vị cố vấn quân sự trưởng, mà đảo những ánh mắt đầy háo hức xung quanh vòng người, đặc biệt là nhìn về phía Công tước xứ Perth, người đang vô cùng kiêu hãnh vì lời thỉnh cầu thầm lặng này. Đại tá, người quan sát toàn bộ màn tương tác phụ này, cảm thấy bực bội trước sự dửng dưng của Hoàng tử đối với quyền lực quân sự, liền thì thầm: – Làm tốt lắm, Geordie Murray! Đúng là chuẩn không cần chỉnh!

Vừa dứt lời, Hoàng tử nện nắm đấm xuống bàn và tuyên bố: – Ta quyết định hành quân thẳng tiến London.

Tuy nhiên, rõ ràng là các vị tù trưởng đều phản đối ngài hầu như không sót một ai. Murray hoàn toàn đúng, và kỹ năng cùng kinh nghiệm quân sự của ông đã mang lại cho ông uy quyền lớn. Cho đến lúc đó vẫn chưa có tiếng thì thầm phản đối nào nhắm vào Hoàng tử; chẳng có gì ngoài sự kiên quyết rõ ràng là không để bị lay chuyển bởi những lời phỉnh nịnh hay đe dọa của ngài.

– Tại sao chúng ta không thể tiếp tục tiến lên? – Hoàng tử phẫn nộ hỏi. – Chúng ta đang ở đây, làm chủ trái tim của nước Anh. Một đòn chớp nhoáng, táo bạo, và London là của chúng ta. Ván bài nằm trong tay chúng ta rồi.

– Ván bài ư? – một vị tù trưởng xù xì, cứng đầu là Macdonald xứ Glencoe kêu lên. – Trò chơi kết thúc rồi, thưa ngài, nhờ ơn những người bạn Anh nốc bia như hũ chìm thuộc phe phái của ngài đấy, những kẻ chỉ làm Jacobite quanh đống lửa ấm cúng với những vại bia trên tay thôi.

– Họ chỉ đang chờ đợi một dấu hiệu chiến thắng thôi – Charles nói.

– Chờ chúng ta làm thay việc đó – Glencoe cay đắng đáp – rồi họ sẽ sung sướng húp trọn phần lợi nhuận cho xem. Chúng ta có thể chuồn về Scotland nhanh bao nhiêu tùy thích một khi đã chiếm được London cho họ!

Có tiếng gừ gừ tán đồng từ các vị tù trưởng, nhưng rồi sự im lặng lại bao trùm khi vị lão thành Tullibardine, người đang oằn mình vì chứng thống phong đến mức không đứng nổi, cất lời.

Ông nói như một kẻ đã già nua, mệt mỏi và nghèo khó trong sự nghiệp phục vụ Triều đại lưu vong. Các điều kiện để thành công, ông nói, vẫn luôn như vậy: những người theo phu quân cao nguyên của Đức Vua chưa bao giờ có thể hy vọng vượt quá vai trò là trung tâm để các nguồn lực thực sự, gồm sự ủng hộ của người Anh và viện trợ của người Pháp, tụ hội xung quanh; và giờ đây những thứ đó đã thất bại y như cách chúng từng thất bại vào năm '15. – Tôi không dám – ông kết luận – cất tiếng giục giò mọi người mạo hiểm những rủi ro mà bản thân tôi quá yếu đuối để cùng gánh chịu.

Charles đã chiến đấu kiên cường, nhưng chẳng ích gì. Từng vị tù trưởng nói lên quan điểm của mình, rồi lại lặp đi lặp lại điều đó hết lần này đến lần khác. Maclachlan dịch chuyển từ vị trí gần cửa sang góc lò sưởi, và sau khi thì thầm một lúc với Công tước xứ Perth, với vẻ bối rối, ông ta bày tỏ ý kiến ủng hộ việc quay về.

Hắn ta vốn chẳng giỏi ăn nói gì, lại đang lúng túng và rõ ràng là đầu óc đang bận rộn lục lọi tìm kiếm ý tứ. Tuy nhiên, dẫu có chút khôn vặt, hắn cũng tình cờ vớ được một hướng lập luận mới.

– Thưa ngài – hắn nói – vậy thì, còn có cả thương cảng lớn Glasgow đang chờ chúng ta tiếp quản. Của cải có sẵn ở đó nhiều hơn bất kỳ thị trấn nào khác ở Scotland, và nguồn tiền của nó, cả công quỹ lẫn tư gia, sẽ cung cấp cho ngài phương tiện để gầy dựng một đại quân vào mùa xuân.

– Chết đuối vớ phải chết vớt – Hoàng tử lườm hắn, càu nhàu.

Là một kẻ thuộc dòng dõi Stuart, Charles không nhận thức được rằng mỗi một vị tù trưởng này đều là một vị vua thu nhỏ, đã quen với sự độc lập hành động hoàn toàn không bị ràng buộc. Ở con người ngài tồn tại những sự tương phản kỳ lạ, bởi ngài vừa lóng ngóng và bất tài khi đối phó với một hội đồng, lại vừa tự tin và xuất sắc khi đối phó với một cá nhân đơn lẻ.

Không khí bắt đầu căng thẳng. Một vị tù trưởng đột ngột vùng đứng dậy và diễn thuyết mắng nhiếc Hoàng tử hệt như một ông chủ đang quạt cho người học việc nghe. Gã cao và gầy xơ xác gần bằng một cây sào phơi đồ của Jane, với đôi gò má cao nhô ra và bộ hàm bập vào nhau ở cuối mỗi câu giống hệt cái bẫy chuột.

– Tôi ủng hộ việc chuồn về khi con đường phía sau hãy còn rộng mở – hắn nói. – Nếu chúng ta không làm thế, và tôi có may mắn lết về được nhà đi chăng nữa, điều mà tôi hoài nghi lắm, thì tôi cũng sẽ về với vỏn vẹn chừng chục tên nhãi ranh theo đuôi, và bọn Campell – khỉ gió mọi kẻ mang họ đó – sẽ cưỡi lên cổ tôi suốt quãng đời còn lại cho mà xem.

– Anh nói chuẩn đấy, Strowan – Lãnh chúa Ogilvie nói. – Chúng ta quá ít người cho công việc này, nhưng một chút than bùn cũng đủ đun sôi một cái nồi nhỏ. Cứ về thôi và lùa bọn Glasgow đó vào tròng. Ngài nhận được lời khuyên của tôi rồi đấy, thưa ngài!

Đến đây, theo suy nghĩ của tôi, Hoàng tử đã mắc một sai lầm chí mạng. Ngài đã bắt đầu bằng cách cố gắng áp đảo mọi chuyện thuần túy bằng sức nặng uy quyền hoàng gia của mình. Đó luôn là chiêu bài của ngài trong các hội đồng, và chừng nào mọi chuyện còn suôn sẻ thì nó vẫn phát huy tác dụng, bởi các vị tù trưởng, lúc bấy giờ đang hướng về viễn cảnh chiến thắng cuối cùng, không sẵn lòng mạo hiểm chuốc lấy cơn thịnh nộ của ngài bằng cách chống đối. Giờ đây, khi họ đã lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan, chiêu bài ấy không còn linh nghiệm nữa, và ngài lại càng làm cho tình hình tồi tệ hơn khi quay sang cầu cứu ý kiến của kẻ người Ireland, O'Sullivan.

Ông ta vắn tắt đưa ra quan điểm ủng hộ việc tiếp tục tiến lên.

Câu chuyện nào rồi cũng sẽ có hồi kết. O'Sullivan nổi tiếng là bậc thầy về lối đánh du kích – một hình thức chiến đấu bắt buộc phải áp dụng đối với một đội quân giống như chúng tôi, gồm toàn những kẻ chưa qua huấn luyện và không được trang bị theo đúng các quy chuẩn và yêu cầu của binh nghiệp. Nhưng Lãnh chúa George Murray đã chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với ông ta.

– Dù danh tiếng của Đại tá O'Sullivan có lớn đến đâu, thưa ngài – ông ngọt nhạt nói – thì bên cạnh chúng ta đây vẫn còn có Đại tá Waynflete, một vị tướng quân danh tiếng lẫy lừng khác. Quan điểm của ông ấy hẳn sẽ rất đáng hoan nghênh, thưa ngài.

– Vâng, đúng thế – Hoàng tử háo hức nói.

– Về phần thần, thưa ngài – Đại tá nói, tay vẫn cầm mở hộp thuốc hít, vì ông đang bị bắt gặp với nắm thuốc hít kẹt giữa những ngón tay – thần sẵn sàng tiến lên. Thần đến để phò tá Hoàng thân, và thần phục vụ vị tư huy của mình theo cách ngài ấy muốn, chứ không phải theo cách thần muốn. Nhưng khi ngài hỏi thần về kết quả quân sự của việc tiến lên, thần xin nói thẳng thắn, như bổn phận của một vị tướng giàu kinh nghiệm được Hội đồng trưng cầu ý kiến, rằng thật hão huyền khi kỳ vọng lực lượng hiện tại này có thể đến được London. Càng tiến lại gần London, thưa ngài, địa thế lại càng trở thành loại địa hình mà quân đội của ngài không thể tác chiến một cách hiệu quả được. Nó sẽ bị kìm chân trên những con đường ngoằn ngoèo có hàng rào bao bọc và đi qua vô số thị trấn, làng mạc có thể phòng thủ được. Những đợt xung phong ngắn, mạnh mẽ của ngài sẽ trở thành bất khả thi. Nhìn chung người Anh chiến đấu rất cừ, không ai cừ hơn họ; chúng ta không thể lý trí mà hy vọng tất cả bọn họ sẽ tháo chạy chỉ vì một tiếng thét của người cao nguyên được, và với việc địa hình có lợi cho họ cùng một London ở phía sau làm nguồn tiếp tế tươi mới liên tục, chúng ta sẽ bị tiêu diệt gọn từng bộ phận. Hoàng thân muốn tiến lên, vì thế thần sẵn sàng tiến lên, nhưng Hoàng thân không thể chiếm được London với lực lượng hiện có trong tay đâu.

Ông nói xong và hào hứng thưởng thức nhược thuốc hít của mình khi nhận ra đó vẫn là loại rappee, rồi điềm tĩnh đưa chiếc hộp cho tôi.

Tổng cộng họ đã thảo luận và tranh cãi suốt ba tiếng đồng hồ, và tôi thì vô cùng chán ngấy nên dành toàn bộ thời gian để dán mắt qua khung cửa sổ tìm kiếm bóng dáng Margaret. Sẽ chẳng có ích gì khi ghi chép lại thêm những gì đã được nói. Quả thực, chẳng có luận điểm mới nào được đưa ra cho đến khi Hoàng tử tranh luận gay gắt về việc chuyển hướng sang Wales, nơi những kẻ ủng hộ ngài được cho là rất hùng hậu.

Việc này lại châm ngòi cho một loạt bài phát biểu mới, tất cả đều chung một điệp khúc – sự cần thiết phải quay đầu về Scotland.

Công tước xứ Perth vẫn giữ im lặng từ nãy đến giờ. Ông đứng bên lò sưởi, gần ngọn lửa, thứ sự ấm áp mà ông đang rất cần vì thân hình gầy gò, yếu ớt. Ông đảo mắt nhìn từ diễn giả này sang diễn giả khác trong suốt cuộc tranh luận, và nhẹ nhàng cọ phía sau đầu vào tấm gỗ ốp tường, như thể để kích thích tư duy. Bài phát biểu của Đại tá Waynflete rõ ràng đã tác động rất lớn đến ông, và tôi có thể thấy ông đang hạ quyết tâm, bởi ông vẫn tiếp tục động tác cọ đầu nhẹ nhàng đó nhưng chẳng buồn bận tâm đến những lời cãi cọ chí chóe về kế hoạch Wales nữa. Cơn bão đã dịu xuống, bởi nó đã tự gầm rú cho đến kiệt sức. Mọi thứ có thể nói thì cũng đã được nói đến hàng trăm lần.

– Tôi ủng hộ việc hành quân rút lui ngay lập tức – ông dõng dạc tuyên bố.

Tôi thực sự thấy thương cho Hoàng tử. Trong tâm trí, ngài đã vẽ ra viễn cảnh bản thân đang đứng trong cung điện của tổ tiên với cả một dân tộc đang quỳ lợp dưới chân để hối hận. Ngài không hiểu nước Anh – chưa từng có một vị vua dòng Stuart nào hiểu nổi – nếu không ngài đã phải biết rằng làn sóng hiệp sĩ đã đưa ngài đi xa đến thế kiểu gì cũng sẽ phải tự tiêu tan trước sự thờ ơ của người Anh hệt như một con sóng vỗ tan tành trên bãi cát vô tri. Dẫu vậy, thật khó lòng để quay đầu, thật khó để nhận ra rằng bản thân đã làm được nhiều hơn thế hệ ông nội vào năm '89 hay người cha vào năm '15, để rồi tất cả chỉ là công cốc. Lá cờ của ngài vẫn đang kiêu hãnh giương cao giữa trái tim nước Anh trên ngôi mộ chôn vùi đại nghiệp của chính mình.

Nhưng ngài đã ngã xuống một cách hiên ngang. – Thà quay về – ngài thét lên – ta còn muốn chôn vùi sâu hai mươi thước dưới lòng đất hơn!

Với một vẫy tay, ngài giải tán Hội đồng.

– Lẻn ra ngoài và chăm sóc Sultan đi – Đại tá thì thầm. – Ta là tùy tùng của Hoàng tử nên không thể đi được. Đưa nó đến quán trọ "Bald-Faced Stags" ở phố Irongate, hướng bên phải của cậu băng qua Quảng trường. Cậu hẳn sẽ tìm thấy Margaret và Mr. Freake ở đó.

Tôi đang lẩn ra theo đuôi đoàn người thì ngài thư ký, do được Hoàng tử ra hiệu, lủi thủi tiến đến gần tôi, đôi mắt láo liên của hắn đảo qua đám tù trưởng đang lục tục kéo ra. Hắn đặt tay lên cánh tay tôi, khiến tôi nổi cả da gà, rồi cất giọng: – Hoàng thân muốn gặp ngài, thưa ngài.

Hắn lại lủi thủi quay lại với tôi đi theo sau, trong đầu thầm tự hỏi một cú đá thẳng cẳng sẽ phóng hắn văng đi xa đến mức nào. Tôi đứng cứng nhắc và vụng về trước mặt Hoàng tử, người lúc này lại đang hướng lời về phía Đại tá.

– Lời phát biểu của ông là một đòn chí mạng giáng vào ta, Đại tá ạ. Thôi nào, đừng có phân bua! Ông đã làm tròn bổn phận của một người lính đối với ta trong Hội đồng cũng như ông sẽ làm thế trên chiến trường. Ta không đòi hỏi gì hơn.

– Và thần sẽ làm ít hơn thế, thưa ngài – Đại tá đáp.

– Chà, hãy cho ta xin một nhúm thuốc hít, và ta sẽ hỏi ý kiến ông về một vấn đề quân sự khác.

Đó chính là con đường ngắn nhất đi thẳng vào trái tim Đại tá, bởi việc hít thuốc và bàn chuyện binh đao đối với ông chính là niềm hạnh phúc song hành trong cuộc đời.

Charles trầm ngâm đón lấy nắm rappee rồi nói: – Phương cách tốt nhất để đối phó với một khối chủ lực của kẻ thù khi lực lượng của chúng ta yếu thế hơn là gì?

– Chia cắt chúng ra và tiêu diệt gọn từng bộ phận, thưa ngài.

– Tom Sheridan, ông nghĩ sao về điều đó? – Charles hỏi.

– Nhà tiên tri xứ Delphi cũng không thể phán chuẩn hơn thế được, thưa ngài – Sir Thomas đáp.

– Mặc kệ cái nhà tiên tri xứ Delphi của ông đi, lão khốn kiếp – Hoàng tử cười lớn đầy sảng khoái. – Đó là một mẩu bánh mì mốc của mảng học thức mà ông từng cố tống vào cổ họng ta những ngày xưa cũ. Nghe thấy nó khiến Master Wheatman quằn quại cả người kìa. Lợi ích duy nhất ta từng có được từ việc làm Hoàng tử chính là việc lão Tom đây không bao giờ dám đánh ta vì dám nuốt chửng những thứ tào lao của lão.

– Master Wheatman biết đủ tiếng Latinh để nhồi nhét cho đôi vị giám mục đấy, thưa ngài – Đại tá nói.

– Quỷ thật, thế cơ à! – Charles ngưỡng mộ thốt lên. – Cậu ta sẽ cực kỳ hữu ích trong việc giúp ta viết một bức thư gửi Đức Giáo Hoàng.

– Nó không đến nỗi tồi tệ như vậy đâu, thưa ngài – tôi lên tiếng, mừng vì có cơ hội thốt lên điều gì đó, bởi tôi đã bị tổn thương sâu sắc bởi những lời nhắc nhở về chuyện tôi từng hách dịch thế nào với mớ kinh điển của Jack trong cái lối vào nhà Old Comfit.

– Trở lại với lời khuyên của Đại tá nhé – Charles nói. – Ta đã chia cắt chúng ra và giờ ta chuẩn bị tiêu diệt gọn từng bộ phận. Chúng ta sẽ không quay về đâu, thưa các vị, nếu ta còn có thể xoay sở được. Master Wheatman – và đến đây ngài tự nhiên và dung dị chuyển sang giọng điệu của một bậc vương giả – chúng ta bổ nhiệm ngươi làm trợ lý tùy tùng, và mong ngươi túc trực hầu cận bên ta trong suốt cả ngày, dưới quyền quản lý trực tiếp hơn từ người bạn tuyệt vời của chúng ta, Đại tá Waynflete.

Theo một ra hiệu từ Đại tá mà tôi may mắn hiểu được ý nghĩa, tôi quỳ một chân xuống trước mặt Hoàng tử.

– Cảm ơn cậu, Master Wheatman – Charles nói với giọng cởi mở thông thường khi tôi đứng dậy. – Cậu đáng giá hơn một trăm con chuột nhắt như cái tên trẻ tuổi Maclachlan.

Tôi đỏ bừng mặt, một phần vì lời khen ngợi và một phần vì tự hỏi mình đáng giá bao nhiêu tên thuộc phái Smite-and-spare-nots.

Sau đó, tôi bị tra hỏi tỉ mỉ về địa hình đất đai ở phía nam Stafford và Derby. Sau một cuộc tham vấn dài, Hoàng tử cho phép tôi lui ra, kèm theo lời mời ân cần dự bữa tối với tư cách là khách trong phái đoàn Hoàng gia, đồng thời hứa hẹn với một nụ cười ranh mãnh rằng bầu không khí và khách mời sẽ đúng như ý tôi thích.

Đại tá và tôi rút lui. Trên hành lang, ông giao phó tôi cho một người hầu cao cấp trong phủ và đi xem xét tình hình của Sultan.

Quen biết mới của tôi là một người đàn ông lớn tuổi mang vẻ mặt nghiêm nghị, bóng bẩy, nổi bật trong bộ đồng phục màu đen giản dị và chiếc tóc giả gọn gàng. Ông ta dẫn tôi lên một phòng ngủ và lo lắng cho sự thoải mái của tôi.

– William, hay bất cứ tên gì đi nữa – tôi mở lời.

– Thưa ngài, đúng là William ạ – ông ta đáp.

– Trông tôi có giống một trợ lý tùy tùng của hoàng tử không?

Ông ta đánh giá tôi từ đôi bốt bám đầy bùn cho đến cái đầu trần trụi, rồi nghiêm trang phán: – Thưa ngài, là không ạ!

– William – tôi nói – nhưng đó chính xác lại là tôi đấy.

– Vâng, thưa ngài – ông ta đáp.

– Thế nên đây chính là cơ hội tuyệt vời của anh đấy, William.

– Vâng, thưa ngài – ông ta nói.

– William – tôi tiếp lời với giọng đầy vẻ dụ dỗ – tôi nghĩ với sự am tường ngóc ngách ngôi nhà này như trong lòng bàn tay, anh hoàn toàn có thể biến tôi trông ra dáng một trợ lý tùy tùng của hoàng tử. Đó là một ca khó đấy, William, nhưng anh sẽ làm được. Tôi nhìn thấy điều đó trong ánh mắt anh rồi. Dựa trên quyền hạn gắn liền với chức vụ trợ lý tùy tùng của hoàng tử, chúng tôi chính thức ủy quyền cho anh thực hiện mọi việc cần thiết để hoàn thành mục đích của chúng ta, và khi nhiệm vụ của anh kết thúc, do một sự trùng hợp kỳ lạ nào đó, anh sẽ tìm thấy năm đồng ghine nằm dưới chân ngây nến kia. Cuộc sống này, William ạ, vốn đầy rẫy những sự trùng hợp.

– Vâng, thưa ngài.

– Nhưng không phải lúc nào cũng đầy ắp tiền ghine như nó đáng phải thế đâu, William. Bắt tay vào việc đi nào!

Thay vì rời đi, ông ta đứng đó, thản nhiên xoa hai bàn tay vào nhau như đang dùng xà phòng và nước tưởng tượng, rồi cuối cùng cất giọng: – Dĩ nhiên ngài sẽ rất tức giận nếu tôi không làm theo lời ngài sai bảo chứ, thưa ngài?

– Chắc chắn rồi, William – tôi vừa nói vừa cạo bọt trên cằm.

– Tôi có thể đoán trước là ngài sẽ thổi bay óc tôi nếu tôi không làm thế chứ, thưa ngài?

– Thổi bay... Ồ, tôi hiểu rồi! Dĩ nhiên chứ! – Tôi đáp, giọng từ ngạc nhiên chuyển sang thấu hiểu.

Sự hài hước tĩnh lặng của con người này thật thú vị. Tôi lôi một khẩu súng lục ra khỏi túi và nghiêm túc bổ sung: – William, trừ khi diện mạo lẫn bản chất của tôi ra dáng một trợ lý tùy tùng hoàng tử trong vòng nửa tiếng nữa, bằng không tôi sẽ thổi bay óc anh đấy. Giờ thì biến ra ngoài trong lúc tôi đi tắm đi!

– Đa tạ ngài. Mọi chuyện sẽ ổn thôi ạ. Ngài bá tước nhà ta, tôi mạn phép được nói thế, có vóc dáng vừa khít với ngài đấy.

William quả là một nghệ sĩ thực thụ khi đã trau chuốt cho tôi một vẻ ngoài vừa vặn, không chút thừa thãi đúng chuẩn gu thẩm mỹ tinh tế. Có hàng tá bộ trang phục ngoài kia có thể biến tôi thành một tên lòe loẹt, nhưng ông ta thừa khôn ngoan để không làm thế, thay vào đó biến một gã trai quê cục mịch thành một quý ông trẻ đĩnh đạc – mà chẳng có nhiệm vụ nào khó khăn hơn thế, như tôi đã thường xuyên nhận thấy kể từ đó đến nay.

– Thưa ngài – cuối cùng ông ta nói, lùi lại vài bước để ngắm nghía tôi – ở bất kỳ kẻ nào khác, tôi hẳn sẽ phải phàn nàn về sự ngoan cố – xin tha lỗi cho sự bộc trực của tôi, thưa ngài – khi từ chối đội tóc giả, nhưng tổng thể mang lại, cái gọi là tout ensemble như ngài bá tước hay nói, thật sự rất vừa mắt.

– William – tôi đáp – anh đã lầm đường lạc lối vì sự thiếu hiểu biết của mình – xin tha lỗi cho sự bộc trực của tôi nhé, William. Dòng họ Wheatman xuất thân từ Hanyards vĩ đại nhất từng sống thà chịu thiêu trên giàn hỏa thiêu còn hơn là đội một bộ tóc giả. Tôi đã làm hầu hết những chuyện tày trời khác mà tổ tiên họ từng bị đem ra thiêu vì chúng, nhưng tôi sẽ giữ vững lập trường với ông cha ở điểm này: có chết tôi cũng đời nào đội tóc giả đâu.

Và quả thực tôi chưa từng đội bao giờ, và cũng nhờ một phần không nhỏ vào tôi mà mốt đội tóc giả giờ đây chỉ còn dành riêng cho các luật sư và bác sĩ – những người, theo tôi hiểu, thấy rằng việc trông già nua và cổ lỗ sĩ đem lại rất nhiều lợi ích.

– Quả đúng là vậy, thưa ngài! Một tư tưởng vô cùng đúng đắn – William nói, ánh mắt dán chặt vào chân cây nến. – Chính niềm tự hào gia tộc mới là thứ duy trì sự sống cho các đại gia tộc, thưa ngài, và họ chính là xương sống của Hiến pháp đấy ạ!

Sau lời phán mang tầm vóc cao cả ấy, khi tôi đã sẵn sàng lên đường, ông ta nghiêm cẩn hộ tống tôi ra cửa và cúi đầu chào tiễn biệt. Tôi áp tai vào ổ khóa và nghe thấy tiếng lanh lảnh của những đồng ghine chạm vào nhau. William rõ ràng có một sự đánh giá rất tuyệt vời về phương pháp tốt nhất để duy trì sự sống cho chính mình. Quả là một tên tiểu nhân dẻo miệng và ranh mãnh nhất mà tôi từng được thấy.

Tôi lúc bấy giờ đã có chút ít kiến thức quân sự để hiểu rằng việc nắm rõ các ngóc ngách, lối tắt và đường vòng của một ngôi nhà lạ là vô cùng quan trọng. Nếu một tình huống khẩn cấp xảy ra, đó có thể là chiếc la bàn tốt nhất dẫn đường cho hành động. "Nắm vững địa bàn để giành chiến thắng trong trận chiến", Đại tá vẫn thường nói thế, và câu đó đúng với một ngôi nhà hệt như với một tỉnh thành. Thế nên tôi rón rén và cẩn trọng rảo bước, và trong lúc đang rẽ gấp sang phải để ngắm nhìn dòng sông cùng những khu vườn, tôi chạm trán Phu nhân Ogilvie. Nàng đang quỳ trên chiếc ghế dài có đệm lót, cằm chống lên đôi bàn tay, còn khuỷu tay thì tựa lên phần lưng tựa cao của chiếc ghế.

Nàng quay lại để xem ai đang đến. Khuôn mặt nàng đang mây mù che phủ bỗng bừng sáng rạng rỡ bởi nụ cười ấm áp như tia nắng phá mây, và nàng lao về phía tôi đầy phấn khích.

– Kẻ không gì sánh bằng đây rồi! – nàng kêu lên, giọng tràn ngập niềm vui thích. – Không, ta thề là kẻ còn không thể sánh nổi hơn thế nữa cơ. Trới ơi, trông anh bảnh bao quá chứ lỵ! Em đang khen thật lòng đấy nhé, mà em thì đã ngắm qua nhiều gã đàn ông đẹp mã hơn số bò mà anh từng thấy trong đời rồi đấy. Ngồi xuống đây và kể cho em nghe anh đã đi đâu và làm được những gì đi nào. Davie bảo anh đã nói với hắn rằng em rất, rất ngoan. Và em ngoan thật mà – nàng mãn nguyện kết luận – và nếu có kẻ nào dám nói khác đi...

– Kẻ đó tốt nhất là nên tránh xa con đường của Davie và của tôi ra – tôi chen vào, trong lúc đang sắp xếp những chiếc đệm thành một góc mềm mại cho nàng.

– Anh đúng là một cậu nhóc ngoan ngoãn đến kỳ lạ – nàng nói, vừa nguẩy mình chui vào chiếc tổ êm ái của mình – và nếu không vì một người mà em quen biết, em hẳn đã tặng anh thêm một nụ hôn nữa rồi.

Tôi sẵn sàng thừa nhận rằng lúc đó tôi ước gì Davie đang ở một xó xỉnh quái quỷ nào đó cho khuất mắt, bởi nàng là một phu nhân vô cùng kiều diễm, với đôi môi chúm chím hệt như cánh hồng hé nở.

Chúng tôi đã có một cuộc trò chuyện dài dặc, vì tôi kể cho nàng nghe tất cả mọi chuyện về những rắc rối của mình với hồn ma, bọn trộm cắp, thợ săn tiền thưởng và đứa bé Blount. Nàng tận hưởng câu chuyện một cách say sưa hết mức. Sau đó, khi tôi đã kể xong xuôi mọi chuyện, nét mặt nàng đột nhiên trở nên nghiêm nghị, nàng cất giọng hỏi: – Oliver, chuyện gì sắp xảy ra với chúng ta đây?

– Tôi không biết – tôi đáp.

– Có điều gì đó đang nhen nhóm mà em chẳng thích tẹo nào. Davie cứ khăng khăng đòi quay về. Lẽ ra tụi phụ nữ chúng ta không nên đến đây từ đầu mới phải. Davie lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mỗi mình em. Cứ làm như em quan trọng bằng đầu con cừu không bằng, cái đồ ngốc nghếch ấy, chúc phúc cho hắn! Giờ thì lại có cả Maclachlan nhà anh nữa. Hắn sẵn sàng lết đến London dẫu nơi đó ngập tràn quỷ sứ chỉ để mua một sợi dây áo corset cho Margaret, nhưng rồi cuối cùng cũng hùa theo cái giọng điệu đòi quay đầu về nhà thôi!

– Giới quân sự cấp cao đều nhận định rằng việc tiếp tục tiến lên là vô vọng – tôi nói.

– Và em cũng chẳng nghĩ quay đầu về là hay ho hơn đâu, anh bạn trẻ ạ. Đó là một cuộc rút lui. Dù anh có gọi nó bằng cái tên gì đi nữa thì bản chất vẫn hoàn toàn chẳng thay đổi được đâu, và đám lính cao nguyên này, một khi đã rút lui, sẽ tan rã thành từng mảnh cho mà xem. Chẳng có gì giữ được phần lớn bọn họ đoàn tụ lại được nữa đâu, một khi họ đã bước qua ranh giới vùng cao nguyên lần nữa. Thế nên tương lai mù mịt lắm, Oliver ạ, nhưng em chẳng mảy may bận tâm dù chỉ một chút đâu. Nếu em không phải là người theo phu quân Jacobite, em đã chẳng bao giờ gặp được Davie của em ở đằng kia. Hắn đáng giá từng xu đấy chứ, Davie ấy mà.

– Thật là một thử thách khó khăn cho bất kỳ người đàn ông nào để xứng đáng với phu nhân – tôi nói – nhưng Davie hoàn toàn xứng đáng nếu có bất kỳ ai làm được điều đó.

– Và Davie đánh giá anh rất cao đấy nhé – nàng mỉm cười đáp. – Margaret đã gạch tên hắn ra khỏi danh sách ba bài nhảy, nhưng lại ngồi rúc rỉm trong góc với hắn suốt cả mấy bài liền đấy. Em tự hỏi là đôi tai của kẻ không gì sánh bằng đây – tôi thừa biết nàng đang ám chỉ gì vì nàng tiện tay véo nhẹ một bên tai tôi – có bị đốt cháy trụi đi chưa. Anh đáng lẽ phải chứng kiến cảnh Maclachlan hò hét và nổi điên như một con cừu đực già lú lẫn mới thú vị làm sao!

– Thật vui khi biết rằng Mistress Waynflete lại quan tâm đến những hành tung của tôi đến thế – tôi đáp với vẻ điềm tĩnh và xa cách nhất có thể. Ít ra tôi cũng phải giữ kín những trò ngớ ngẩn của mình sau hàm răng của tôi chứ.

– Vui đáo để nhỉ, em không mảy may nghi ngờ đâu – câu bình luận cụt lủn của nàng vang lên. Và nàng bĩu đôi môi đỏ mọng sang một bên hệt như vừa nuốt phải giấm chua.

Tôi sực nhớ đến chức vụ mới của mình và nhìn đồng hồ. Tôi đã trễ quá lâu so với thời gian Đại tá cho phép.

– Phu nhân hãy lượng thứ cho tôi – tôi nói, bật dậy khỏi chỗ ngồi – nhưng tôi đã quá giờ trực chiến rồi.

– Trực chiến ư?

– Vâng. Hoàng thân vừa bổ nhiệm tôi làm trợ lý tùy tùng riêng cho ngài.

Tôi nói với vẻ vô cùng ấn tượng, nhưng ngạc nhiên thay, thay vì những lời chúc mừng đáng lẽ tôi phải nhận được trong dịp này, nàng lại tỏ ra lo lắng và gần như tức giận, rồi thốt lên: – Đúng là đồ quỷ quái!

– Tôi rất tiếc vì phu nhân không vừa lòng – tôi lạnh lùng đáp. Người Scotland luôn bám lấy người Scotland, và nàng rõ ràng không thích điều này.

– Không vừa lòng cái đầu anh, đồ ngốc nghếch! – nàng bực bội vặn lại. – Và em đoán là anh sẽ vui mừng lắm, cả Margaret cũng sẽ reo hò nhảy múa nữa, nếu anh ăn trọn một nhát dao găm vào sườn khi đang làm trợ lý tùy tùng vào một đẹp trời nào đó đấy nhỉ? Hãy hiểu cho rõ một lần cho tất cả đi, anh bạn ạ, rằng một gã cao nguyên sẵn sàng đâm chết một người chẳng khác nào một gã người Anh giẫm bẹp một con bọ cánh cứng cả. Chẳng có luật pháp hay trật tự nào tồn tại ở bên kia ranh giới vùng cao nguyên đâu.

– Toàn là những kẻ giết người máu lạnh! – tôi nóng giận thốt lên. – Gần đây tôi đã nghe quá nhiều về phẩm hạnh của những người cao nguyên rồi, nhưng điều này khiến tôi thực sự ngạc nhiên đấy.

– Thôi nào! Kẻ giết người ư? – nàng kêu lên. – Chẳng có cái sự ngớ ngẩn mang đậm chất Saxon nào như thế đâu. Bọn họ có đủ mọi đức tính tốt đẹp hệt như bất kỳ gã người Anh nào từng sụt sùi cầu nguyện và thu ngắn thước vải vậy. Kẻ giết người á! Thôi nào, anh bạn trẻ của tôi ơi! Bọn họ chỉ là những kẻ dọn đường cho những rắc rối thôi mà!

Thế là nàng xua đi bằng một câu nói đùa theo phong cách đáng yêu quen thuộc, rồi đứng phắt dậy và nhún nhảy dọc theo hành lang với tôi lủi thủi bước theo sau, trong thâm tâm cũng rất muốn nhún nhảy cùng nàng nhưng lại bị cái phẩm giá mới cứng nhắc của chức vụ níu giữ lại. Tôi chẳng có chút khái niệm rõ ràng nào về nhiệm vụ của một trợ lý tùy tùng cả, chỉ cảm thấy rằng chúng đòi hỏi một sự trang nghiêm nhất định hoàn toàn không phù hợp với dáng vẻ tưng tửng như châu chấu của vị phu nhân này.

Cuối cùng, trong lúc nàng thì nhún nhảy còn tôi thì lê la bước đi, chúng tôi bắt gặp một nhóm người đang vui vẻ tụ tập ở hành lang phía dưới. Nào là Hoàng tử, Công tước xứ Perth, Lãnh chúa Ogilvie, hai gã người Ireland, ngài thư ký, Đại tá, một vài phu nhân lạ mặt và cả Margaret.

– Ta cứ ngỡ phu nhân đã đi lạc đâu mất rồi chứ – Charles mỉm cười nói.

– Trái lại, thưa ngài – nàng đáp trả – thần đã được tìm thấy.

– Một lời giải thích rất quen thuộc – ngài bình thản nhận xét.

– Một lời giải thích vô cùng bất thường, thưa ngài – nàng khéo léo phản pháo – bởi vì Master Wheatman vừa mới giải thích cho nghe cách mà anh ta hôn một hồn ma.

– Tôi chưa từng nói câu nào như thế cả! – tôi kêu lên, tức điên cả người.

– Có cần thiết phải nói ra đâu cơ chứ – nàng thản nhiên đáp.

– Đó là hồn ma của một nữ nhân phải không? – Công tước hỏi, tỏ ra rất thích thú với màn đối đáp.

– Câu hỏi đó chỉ có thể được thốt lên – Charles nói – bởi một kẻ chưa có vinh hạnh được thấu hiểu Master Wheatman mà thôi.

Ngài đặt một tay lên cánh tay tôi và kéo tôi lại gần hơn. – Thưa ngài Công tước – ngài tiếp tục – ta xin giới thiệu với ngài thành viên mới nhất trong quân đội của ta, Mr. Oliver Wheatman xứ Hanyards, người mà ta tin chắc là trái ngọt đầu mùa của một vụ mùa bội thu từ tầng lớp quý tộc trong hạt của cậu ta.

Tôi chẳng có ý định gì trong việc bêu rếu bản thân trước mặt một vị Hoàng tử đã nâng tầm gia thế của tôi sánh ngang với những nhân vật xuất chúng này. "Ta sẽ thêu hai ngôi sao xanh và một con cờ trên chiếc áo giáp gia tộc của mình", tôi thầm nghĩ trong lúc cúi chào Công tước – người lúc này đang đáp lễ một cách vô cùng duyên dáng.

Đến lúc này, cả đoàn bắt đầu di chuyển dọc theo hành lang, dẫn đầu là Hoàng tử sánh bước cùng một trong những vị phu nhân lạ mặt. Chẳng có sự sắp đôi chính thức nào khác diễn ra, ngoại trừ việc Phu nhân Ogilvie đã nhanh tay tóm lấy Công tước ngay khi ông đang tiến về phía Margaret, qua đó nhường lại cô ấy cho tôi.

Margaret để cho cặp đôi đi cuối vượt lên trước chúng tôi một hoặc hai thước, rồi quay sang nhìn tôi, đôi mắt tràn ngập ý cười, nhún gối chào và cất giọng: – Chào buổi sáng, thưa Ngài Hôn-hồn-ma!

– Chào buổi sáng, thưa tiểu thư – tôi đanh thép đáp.

Nàng khoác tay vào tay tôi và, khi chúng tôi cất bước, thì thầm đầy giễu cợt: – Hồn ma thực tế ghê nhỉ!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.