Hiệp Sĩ Phiêu Lưu

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Viên Trung Sĩ Kỵ Binh

❊ ❊ ❊

Tôi quẳng con cá kỉnh lên vai và chúng tôi bắt đầu hướng về Hanyards.

Phu nhân không hề giải thích gì, và tôi cũng chẳng gặng hỏi. Tôi thừa hiểu rằng đám lính kỵ đã tiến thẳng đến quán rượu nhỏ bên hàng rào cách đó hơn một dặm đường, nơi con đường từ làng cắt ngang qua tuyến đường vòng dẫn tới Stafford. Tại đây, ở quán "Bull and Mouth," ban ngày thì mụ Braggs cai quản, còn ban đêm là lão Joe; và chắc chắn là vị nữ lữ khách đã dừng chân ở đó trong lúc cha cô tiếp tục dắt ngựa đến tiệm thợ rèn gần nhất ở Milford.

Vẫn còn dư dã thời gian để về Hanyards, nhưng vì sự an toàn, chúng tôi vẫn cố đi nép sau các hàng rào hết mức có thể. Nàng bước phía trước, còn tôi theo sau, nước rỉ ra từ đôi ủng và quần tôi theo từng bước chân, chiếc đuôi con cá kỉnh thì đập phành phạch vào chân tôi. Chưa bao giờ tôi đi câu về với chiến tích kỳ lạ thế này. Điều khiến tôi hài lòng nhất là sự im lặng của nàng. Nó hoàn toàn phù hợp với niềm tin ánh lên trong đôi mắt ấy. Ngoại trừ vài chỉ dẫn ngắn gọn về phương hướng, không một lời nào thốt lên cho đến khi chúng tôi tới khu nhà Hanyards từ lối phía sau, và tôi dẫn nàng vào nhà ngang mà không để ai phát hiện.

"Chúng ta không có nhiều thời gian để trò chuyện," tôi bắt đầu. "Đám lính kỵ chắc chắn sẽ đến đây, vì đây là ngôi nhà duy nhất nằm giữa quán trọ và ngôi làng. Cha cô, theo cô lo ngại, đã bị bắt giữ, và quả thực đó là lời giải thích hợp lý nhất cho sự vắng mặt của ông. Tôi không hỏi lý do. Tôi đoán rằng việc cô cùng chung số phận với ông ấy cũng chẳng ích gì."

"Được tự do, tôi có thể giúp được ông ấy. Còn nếu bị bắt, tôi sẽ..." Nàng ngập ngừng dừng lại.

"Là Lãnh chúa Brocton ư?" tôi hỏi dò. Lần thứ hai gương mặt nàng đỏ bừng, và tôi nhìn thấy ở đó sự hổ thẹn, nỗi thống khổ cùng niềm sợ hãi. Vị lãnh chúa kia đang chồng chất thêm một món nợ với tôi, và vì dám làm nhục người đẹp kiêu kỳ này, một ngày nào đó hắn sẽ phải trả đủ cả vốn lẫn lời.

Nhưng đã đến lúc phải hành động. Tôi chạy ra hiên và gào lớn: "Jane! Jane! Mày đang ở đâu ra thế? Ra đây nhanh lên!"

Jane từ trong bếp chạy xộc ra. Nó khựng lại chết sững vì ngạc nhiên khi nhìn thấy người đồng hành của tôi, đến nỗi chẳng tài nào lải nhải nổi về con cá kỉnh.

"Này Jane, làm đúng những gì tao bảo. Đưa phu nhân này lên gác và mặc cho cô ấy những bộ đồ giống mày nhất có thể. May là hai người có chiều cao xêm xem nhau. Thu dọn quần áo của cô ấy cất đi cho thật kỹ. Đi nhanh lên nào!"

Họ biến mất lên gác, còn tôi dán mắt ngóng ra cổng sân. Không có tên lính kỵ nào xuất hiện, và chỉ một lát sau, phu nhân và Jane đã trở xuống nhà ngang. Jane đã hoàn thành xuất sắc công việc của mình. Vị tiểu thư đài các giờ trông chẳng khác gì một cô thôn nữ phục dịch thứ thiệt; dáng vóc tao nhã của cô đã bị che khuất trong bộ váy vải thô ráp chỉ vừa vặn ở những chỗ chạm vào da thịt, đôi chân đi đôi ủng to tướng, thô kệch, mái tóc vàng búi giật ngược ra sau trán và nhét gọn vào chiếc "mũ móm" của Jane — thực chất đã bị chiếc vành rộng che khuất hoàn toàn — thứ mà khi làm việc trong nhà vắt sữa, Jane vẫn thường dùng để "giữ gió khỏi lọt vào cổ". Về phần ngụy trang, tôi nhào ít đất khô với bột thổ hoàng, hỗn hợp này tạo thêm độ thô ráp cần thiết cho đôi tay nàng. Nói chung, nàng đã đổi khác đến mức không thể nhận ra, ngay cả khi — dù thực tế không phải vậy — bất kỳ kẻ truy lùng nào từng nhìn thấy nàng trước đó.

"Jane," tôi nói, "tên cô ấy là Molly Brown. Cô ấy đã làm việc ở đây hai năm. Mẹ cô ấy ở Colwich. Cả hai đã nhớ kỹ chưa?"

"Molly Brown — hai năm — mẹ ở Colwich," phu nhân mỉm cười nói, và Jane nhắc lại theo.

"Nào, Molly," tôi đáp lời với một nụ cười, "Jane sẽ bắt đầu dạy cô quấy bơ. Việc này dễ lắm. Cô chỉ cần quay tay quay cho đến khi bơ nổi lên. Đừng mong là cô sẽ thu được chút bơ nào, nhưng tôi sẽ chước lỗi cho cô chuyện đó. Và sau khi học Jane cách làm thế cho có vẻ, cô không cần phải quấy thật cho đến khi đám lính kỵ phi ngựa vào sân. Cứ nghe lời Jane, còn mày, Jane, trong mười phút tới hãy dạy vị tiểu thư này cách nói năng theo giọng vùng Staffordshire đi."

"Rate y'are, Master Noll," Jane đáp, rõ ràng đang vô cùng hãnh diện với nhiệm vụ quan trọng của mình.

"Bài học đầu tiên, thưa phu nhân," tôi nói. "'Rate y'are,' chứ không phải 'Right you are!' Đó không phải là cách nói năng của thi sĩ Pope, nhưng nó phù hợp với hoàn cảnh của cô lúc này hơn. Ra nhà vắt sữa đi, và cứ để đám lính kỵ cho tôi lo!"

"Rate y'are, Master Noll," phu nhân nói, và dẫu lòng vẫn canh cánh lo âu, cả hai chúng tôi đều hòa chung vào tràng cười rúc rích của Jane.

Họ đi ra nhà vắt sữa, còn tôi bắt đầu việc chuẩn bị của riêng mình. Tôi bày con cá kỉnh thật nổi bật trên bàn, cản trước những lời cằn nhằn quen thuộc của chị bếp Kate bằng cách đặt nó lên chiếc áo khoác cũ của tôi để nó không làm bẩn bàn. Ở trong nhà ngang, trông con cá đẹp và dài hơn hẳn ở ngoài trời, và tôi ngắm nghía nó với vẻ đắc ý khi nó nằm đó. Tôi rất thèm được thay quần áo, không phải vì sự thoải mái mà để ghi điểm tốt hơn trong mắt nàng; nhưng tôi không dám mạo hiểm bỏ đi lúc đám lính kỵ sắp tới. Tôi múc một vại bia đầy, hất bớt đi một nửa, lấy chiếc cốc sừng xuống, uống một ngụm nhỏ, làm rớt vài giọt lên quần áo, vãi lung tung ra bàn, vun lại đống lửa rồi ngồi xuống chờ đợi. Lúc này khoảng tầm ba giờ rưỡi, ánh nắng nhạt nhòa đang đậu trên những ngọn đồi, và bóng tối chẳng mấy chốc sẽ buông xuống.

Tôi ngồi đó chừng một khắc, hồi tưởng lại những phút giây quý giá dưới chân cầu, thì tiếng múp míp của tiếng móng ngựa kéo tôi trở về thực tại. Thận trọng hé nhìn qua mép rèm cửa, tôi thấy đám lính kỵ — có tất cả sáu tên — đang phi ngựa đến cổng. Những mệnh lệnh sắc lạnh vang lên, ba tên xuống ngựa, trong đó có kẻ vừa phát lệnh, rồi bước vào sân. Một tên ở lại cổng canh ngựa, hai tên còn lại tản ra trinh sát các cánh đồng quanh nông trại.

Tôi vội tụt về ghế, buông thõng cằm ngực như đang gật gà vì say xỉn.

Có tiếng ai đó cất lên ở cửa hiên: "Nhân danh Nhà vua!" Tôi làm lơ, và bọn chúng ồn ào khua khiên giáp chen chúc bước vào hiên. Lại những mệnh lệnh đanh thép vang lên; hai tên lính thả súng xuống sàn đá kêu leng keng rồi đứng chờ ở đó. Viên sĩ quan chỉ huy bước hẳn vào ánh lửa, dõng dạc nói: "Nhân danh Nhà vua!"

Giả vờ nữa cũng chẳng ích gì. Tôi ngẩng đầu lên, ngây ngốc nháy mắt nhìn hắn ta. Rồi tôi múc đầy cốc sừng, cất giọng lè nhè đầy vẻ say sưa: "Nào cạn ly vì Đức Vua," và nói tiếp, "Rót đầy mà uống đi, bất cứ anh là ai, rồi đóng cửa lại vào. Lạnh thấu xương thế này."

Hắn có đôi mắt nhỏ, đỏ quạch như mắt chồn, trừng trừng nhìn tôi — đầy vẻ hung dữ nhưng, ngẫm lại, tôi thấy không có vẻ gì là nghi ngờ. Hắn gạt phắt lời mời chào của tôi đi và cất giọng hỏi: "Anh là Oliver Wheatman?"

"Oliver Wheatman của Hanyards, thưa ngài, luôn sẵn sàng tuân lệnh Bệ hạ," tôi đáp với vẻ nghiêm trọng tột cùng, rồi tiện tay rót thêm một cốc bia nữa. Tôi có thể giả vờ say, nhưng ngặt một nỗi lại không thể giả vờ uống, mà chỗ bia này lại khá nặng đô. Hắn đưa tay ngăn tôi lại — một bằng chứng đáng mừng cho thấy hắn thực sự tin tôi đã ngà ngày say — rồi bảo: "Master Wheatman, anh càng tỉnh táo bao nhiêu, thì việc trả lời các câu hỏi của tôi sẽ càng suôn sẻ bấy nhiêu."

"Thưa ngài," tôi nói, nốc cạn sạch cốc bia, "tôi có thể uống và chém gió với bất kỳ kẻ nào còn sống, và dù say hay tỉnh, tôi chỉ trả lời câu hỏi của bạn bè mình thôi. Thế nên hãy lấy một cái cốc trên chạn kia — tôi hơi mệt rồi đấy — rót đầy vào, rồi nói cho tôi biết các người muốn gì đi. Các người có phải thuộc trung đoàn của Lãnh chúa Brocton không đấy?"

"Đúng vậy."

"Thế thì trước khi rời khỏi Hanyards này, anh cũng sẽ say mèm chẳng kém gì tôi đâu. Bia của chúng tôi ngấm vào đầu nhanh khủng khiếp đấy, tôi nói trước cho mà biết. Anh cứ bảo với chiến hữu thân thiết của tôi, ngài Master Jack Dobson đáng kính ấy, là tôi vừa bắt được một con cá kỉnh dày bằng nửa và dài hơn một nửa so với lão ta. Nó đây này. Lại đây lấy cốc đi, tôi bảo rồi đấy, rồi uống cạn ly chúc cho tôi và hai con cá kỉnh — Jack Dobson và em mỹ nhân bằng vảy này nào."

Hắn chẳng tiến gần thêm chút nào đến mục đích chuyến viếng thăm của mình, và có lẽ nghĩ rằng tốt hơn là nên chiều theo tôi, hắn bèn với lấy một chiếc cốc rồi nếm thử thứ bia Hanyards của chúng tôi. Nhờ thế mà tôi có cơ hội quan sát kỹ hơn bộ dạng của hắn.

Hắn là một gã gầy gò, gân guốc, tầm thước và ở tuổi trung niên. Một gương mặt tôi chưa từng thấy bao giờ. Thoạt nhìn, tôi phải hít một hơi lạnh buốt như vừa chạm phải lưỡi dao cạo. Nửa sống mũi phía trên của hắn đã biến mất, hoặc có thể từ bé hắn đã không có, còn nửa phía dưới thì dính bết lại như một nhúm đất sét nằm lơ lửng giữa miệng và lông mày. Đôi mắt ti hí nằm sâu trong hai hốc mắt nông hoèn, khiến hắn trông giống như một con cú mèo. Cái miệng vốn dĩ đã rộng, với đôi môi dày cộp như người da đen, lại bị rạch toác sang tận tai trái bởi một vết chém gươm tàn độc nhưng đã liền sẹo rất tệ hại. Hắn toát lên vẻ ranh ma, xấc láo của một kẻ hạ đẳng không chút giáo dưỡng, kẻ quen cúi đầu luồn cúi trước tầng lớp bề trên nhưng lại hách dịch với những kẻ kém cỏi hơn mình. Hắn có vẻ mang một thứ quân hàm nào đó, nhìn qua chiếc áo khoác dính đầy vết bẩn, sờn rách nhưng thuở trước từng rất sặc sỡ. Hắn dắt theo một thanh gươm dài bất thường, vắt dọc bên sườn trái từ gót chân lên đến nách, và giắt một cặp súng lục bên hông.

Hắn đặt cốc xuống, chép miệng rồi bắt đầu cất lời:

"Master Wheatman, tôi đang truy lùng một nữ gián điệp theo phái Jacobite. Chúng tôi đã bắt cha ả ở quán 'Barley Mow,' và tôi được một tên người của anh cho biết rằng cô con gái đang ở quán rượu của mẹ hắn dưới con đường kia. Ả không có ở đó, và bảo rằng sẽ đi bộ để gặp cha mình. Ả chắc chắn chưa làm điều đó, và tôi đến đây để xem ả có đang ẩn nấp ở trong này hay khu vực quanh đây không."

"Có trời mới biết, chúng tôi sẽ tóm cổ ả ngay nếu ả ở đây," tôi hào hứng đáp. "Con bé đó không hề bước qua cái cổng kia trong suốt nửa tiếng qua, vì chừng đó thời gian mới đủ để tôi nốc cạn cái vại bia kia, trong khi lúc bắt đầu nó đầy ắp. Nhưng để tôi đi hỏi mấy đứa hầu gái. Mẹ tôi và con bé Kate nhà tôi đang đứng ngoài nhà xứ kìa, há hốc mồm ra ngắm mấy tên các anh. Chắc các anh thấy họ rồi chứ."

"Không," hắn ngờ vực đáp.

Một tên lính bước ra từ hiên, giơ tay chào, và sau khi được phép nói, hắn báo cáo với viên sĩ quan rằng mình đã nhìn thấy Lãnh chúa Brocton và Ngài Thiếu úy Dobson đang nói chuyện với hai người phụ nữ.

"Chắc chắn là họ rồi," tôi nói, rồi lảo đảo bước ra cửa, lớn tiếng gọi: "Jin, Moll, Jin, Moll, ra đây mau! Chúng đang ở trong nhà vắt sữa đấy," tôi bồi thêm câu giải thích.

Khoảnh khắc quyết định đã đến. Jane và 'Moll' chạy thục mạng băng qua sân như những con thỏ đế, nhưng khựng lại ở cửa hiên với vẻ ngạc nhiên được diễn xuất vô cùng hoàn hảo khi nhìn thấy đám lính kỵ.

"Trời ạ, tao cứ tưởng mày đốt cả nhà rồi chứ," Jane ra điều mừng rỡ thốt lên, hướng về phía mọi người, rồi mạnh dạn chen qua và quát tướng vào mặt tôi: "Lại dở chứng lúc mẹ vắng nhà hả; mày biến xéo lên giường đi trước khi bà về. Bà cho mày một trận nhừ đòn bây giờ."

Diễn xuất của Jane quá mức tuyệt vời khiến tôi suýt chút nữa thì quên béng mất bản thân đang bị buộc tội một cách phũ phàng trước mặt 'Moll,' nhưng con bé vẫn không mảy may nương tay, quay sang nói với tên lính kỵ: "Đừng có chấp nó làm gì, lính trân ơi, ơn Chúa. Nó cứ hễ tợp được lưng chén bia vào là lại hung hăng như chó điên ấy."

"Đừng bận tâm, cô gái ngoan. Tôi quen với loại người này rồi. Cứ để hắn đấy cho tôi và trả lời câu hỏi của tôi đi. Nói thật hoặc vào tù, chọn đi."

"Yow," Jane bĩu môi, "hắn mà bóp thì anh nát bét như củ cà rốt ấy chứ. Lên giường là chỗ tốt nhất cho hắn lúc này. Người ngóng ướt sũng như mái rạ vì cái tội đi câu vớ vẩn rồi."

"Jane," tôi lên tiếng, "đừng để ý đến tao. Tao chưa đủ khô mà cũng chưa đủ say để lên giường đâu. Ngài Đại úy đây muốn hỏi mày và con Moll mấy câu đấy. Thôi đừng có cằn nhằn tao như gà mái thấy chồn nữa mà lắng nghe ngài ấy đi."

Jane vượt qua màn khảo hạm một cách suôn sẻ, liên tục quay sang 'Moll' để cầu cứu sự xác thực trong từng câu chữ, khéo léo đến mức trông như thể người kia cũng đang bị thẩm vấn chẳng kém gì nó. Hơn nữa, Jane đứng chắn ngay luồng ánh lửa, nhưng lại khéo léo đẩy 'Moll' lùi về phía sau ống khói trong không gian mờ ảo hơn. Rằng họ đã quấy bơ suốt cả buổi chiều, bơ thì đang bày lù lù ra đó, cả đống; chẳng có ai bén mảng đến gần sân cả; cánh cổng chưa từng kêu cọt kẹt lấy một tiếng, và chẳng ai có thể mở nó mà không bị người trong nhà vắt sữa nghe thấy. Nó dội lên đầu tên lính kỵ một loạt những bằng chứng không thể chối cãi về việc đố ai dám bén mảng vào sân mà nó hoặc 'Moll' lại không hay biết.

"Thế là ổn rồi, Jane," cuối cùng tôi cũng lên tiếng. "Nhưng ả ta thừa sức lẻn vào trong nhà hoặc chuồng ngựa mà mày với con Molly không nhìn thấy. Để tất cả chúng ta cùng đi lục soát xem nào. Trừ phi ả bé đến mức chui được vào hang chuột, nếu không ta sẽ tìm ra ả sớm thôi."

Trung sĩ Radford — gọi theo tên và quân hàm mà sau này tôi nghe được từ Jack Dobson — đồng ý với đề xuất đó, và trong niềm vui tột độ vì biết rằng màn khảo hạm đã qua đi, tôi suýt thì quên mất mình đang say cho đến khi bắt gặp đôi mắt sáng rực của phu nhân nhìn tôi với vẻ cảnh cáo. Jane đóng vai trò dẫn đường cho hai tên lính kỵ đi lùng sục các gian chuồng trại, trong khi 'Moll,' viên trung sĩ và tôi lục soát ngôi nhà kỹ lưỡng như thể đang đi tìm một đồng guinea thất lạc. Tất nhiên nỗ lực của chúng tôi chỉ là công cốc, phần vì chúng tôi cố tình chậm chạp để không vượt quá những bước chân say xỉn của tôi, phần vì phải cẩn trọng để qua mắt được ánh mắt tinh tường của viên trung sĩ — kẻ rõ ràng chẳng lạ lẫm gì với mấy vụ thế này. 'Moll' hình như cũng ganh tị với sự thể hiện của Jane, nên tỏ ra vô cùng xông xáo vào cuộc. Cô cùng viên trung sĩ ghé sát đầu soi mói dưới gầm giường và trong các hủ đựng đồ, còn cười cợt trơ trẽn trước những lời ám chỉ chẳng lấy gì làm kín đáo của hắn ta về việc tôi sẽ đóng góp công sức lớn thế nào cho cuộc truy lùng nếu cứ canh chừng kỹ khu nhà ngang. Thậm chí cô còn thốt lên: "Master Noll, ngài không nghĩ là hòn bia dưới nhà đang nhạt dần đi sao? Chẳng đáng uống nữa đâu nếu ngài không nhanh chân lên đấy."

Kết quả là, chừng nửa tiếng sau, một toán người vô cùng mãn nguyện nhưng khá mệt mỏi đã tề tựu đông đủ ở nhà ngang, bởi hai tên trinh sát vừa phi ngựa về báo tin rằng chúng cũng chẳng tìm thấy chút dấu vết nào của kẻ trốn chạy. Được sự cho phép của viên trung sĩ, tôi sai năm tên lính kỵ xuống bếp cùng hai cô hầu gái để mỗi người nốc một vại bia, trong khi hắn ở lại nhà ngang cùng tôi để khui chai rượu vang.

Tôi nuôi hy vọng, nhưng vô ích, rằng hắn sẽ hé lộ chút tin tức gì về người cha của vị nữ lữ khách, nhưng hắn quá cáo già trong chuyện đó nên tôi chẳng dám gặng hỏi. Hắn tỉ mỉ dò hỏi về địa hình quanh vùng này, và tôi chỉ cho hắn thấy có một con đường mòn đi thẳng từ phía bên kia cầu vào làng, trồi lên ở một cái bậc cửa khuất gió phía sau quán "Barley Mow." Nữ gián điệp hoàn toàn có thể đã chọn lối đó rồi đâm ra hoảng sợ. Sau đó ả có thể né ngôi làng bằng một con đường mòn khác để đi vượt lên trước toán quân trên đường đi Stafford.

Staf"Nhưng để làm gì chứ? Ai sẽ giúp ả ở trển cơ chứ, Master Wheatman?"

"Hỏi khó thế, Ngài Đại úy," tôi đáp. "Nhưng một mụ đàn bà khôn ngoan thừa biết nơi nào để tìm kiếm bạn bè, mà Stafford thì đầy rẫy bọn theo đạo giáo hoàng, chết tiệt chúng nó!"

"Hừ!"

"Nào là Bulbrook rồi Pippin Pat và Ducky Bellows; lại thêm cái lão mặt bao tải, vị linh mục ở đó nữa chứ, chẳng khác gì giáo hoàng là mấy. Cứ cắt cử người canh chừng mấy cái dinh thự lớn ở phía Đông Cổng ấy. Còn tôi á, ngây nhìn bộ giáp ngực giáp lưng cùng thanh trường kiếm xịn sò kia kìa. Có mà chết đi cho rồi nếu tôi không lau chùi chúng sạch sẽ rồi xách đít ra chiến đấu một trận ra trò với lũ phiến quân này. Chúng từng đóng ở cánh đồng Naseby, thưa Đại úy, từ đời tám hoánh nào trước cả thời của tôi với anh, nhưng chúng đã lập được chiến công hiển hách chống lại chính lũ người nhà Stuart đẫm máu đó. Khui nốt chai kia ra đi, bạn hiền. Tôi khô cổ vì nói chuyện và ướt sũng vì đi câu đây, làm một ngụm chắc sẽ khỏe người hơn đấy."

Tôi nài nỉ hắn ở lại 'làm một chầu cho tới bến,' nhưng hắn từ chối, và sau khi nốc một lượng rượu đủ khiến tôi chóng mặt cả tuần, hắn thoăn thoắt chuồn ra ngoài và ra lệnh cho đám lính lên ngựa. Tôi tiễn hắn ra tận cổng. Hắn cảm ơn sự giúp đỡ cùng lòng hiếu khách của tôi, đồng thời khẳng định chắc nịch rằng ả gián điệp hoàn toàn không có mặt ở khu Hanyards hay vùng lân cận. Tôi gửi lời chào tới Thiếu úy Dobson và thậm chí còn nhắn gửi sự kính trọng của mình tới lãnh chúa của hắn. Bọn chúng phi ngựa đi mất, và với một tấm lòng tràn ngập biết ơn, tôi kịp nhớ đến cái tình trạng hạnh phúc của mình lúc bấy giờ, lảo đảo lê bước ngược sân trở về nhà ngang, nơi phu nhân và Jane đang tươi cười rạng rỡ đợi tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.