Hiệp Sĩ Phiêu Lưu

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Hậu Quả Của Việc Đánh Mất Quyển Virgil

❊ ❊ ❊

Chúng tôi lách qua con hẻm khuất và đi ra con đường dẫn đến Cổng Đông. Vẫn còn rất đông người tản bộ lại qua, bởi màn đêm chưa thể làm vơi đi sự mới mẻ và hào hứng do đoàn quân mới tới mang lại. Những ngôi nhà nhỏ chật ních lính tì, đang chén thù chén tạc với những người dân mà họ ở trọ, và tất cả đều gào lên "Cho chén rượu vang tràn ly!" cùng những khúc ca bặm trợn khác giữa những lúc cạn chén. Ngay tại Cổng Đông, một đống lửa đang bập bùng cháy, và các toán lính canh sưởi ấm quanh đó, trong khi dọc theo con đường, những chiếc xe chở hành lý và đạn dược đến muộn đang lầm lũi kéo nhau đi trong mệt mỏi. Thật hão huyền khi mong qua mặt mà không bị phát hiện, thế nên chúng tôi hòa mình vào đám đông, luồn lách qua những chiếc xe chở hàng, và đi sát sang trái cho đến khi tới một con đường yên tĩnh hơn chạy dọc theo bức tường thành.

Ở đây, từng viên gạch viên đá đều thân thiết như bạn cũ, bởi ngôi trường ngữ pháp nhỏ nép lưng vào bức tường thành ngay tại chỗ con đường chính chạy xuyên qua cánh cổng phía bắc cũ của thị trấn. Cụ Giáo Bloggs già sống trong một ngôi nhà nhỏ nằm ở sườn trường tránh xa phía cổng. Kia là những ngọn nến đang nhấp nháy trong căn phòng bừa bộn nơi cụ ông trải qua tất cả những giờ thức giấc ngoài giờ lên lớp, và ở đó, tôi đoan chắc, chúng vẫn đang lụi tàn nếu như đám lính cao nguyên cướp phá thị trấn. Tôi dẫn đường bước qua khoảng sân nhỏ phía trước, được ngăn cách với đường phố bởi hàng rào gỗ, nhẹ nhàng mở cửa và bước vào hành lang tối âm u.

Cửa phòng làm việc khép hờ, và chúng tôi thò đầu nhòm vào. Vẫn hình bóng quen thuộc ngày nào ở đó: thị lực kém hơn, lưng còng hơn, tóc bạc hơn, và y phục lôi thôi hơn trước, đang cắm cúi trên một tập sách folio đồ sộ. Cụ đang đọc lớn, với giọng đọc đơn điệu, lảnh lót ở quãng trung. Đó là những câu thơ lục ngôn trôi nổi tiếng Latinh, bởi ngay cả giọng đọc của cụ cũng không thể che lấp hết âm điệu du dương trong đó, và khi lắng nghe, tôi thấy rõ rằng tối nay cụ già đã động lòng chọn một đoạn phù hợp với hoàn cảnh, vì cụ đang đọc lại đoạn miêu tả cảnh thành Troia thất thủ trong bộ Aeneid quyển thứ hai.

Tôi đặt ngón tay lên môi rồi rón rén bước tiếp, theo sau là phu nhân Waynflete. Vào căn phòng nhỏ phía sau, tôi thì thầm: "Trường cũ và thầy cũ của tôi đây. Chúng ta sẽ không làm phiền cụ. Tội nghiệp bé Marry-me-quick nhỏ bé có lẽ sẽ phải chịu khổ vì chúng ta, và cụ Bloggs ít ra cũng có cái cớ là không biết gì về sự hiện diện của chúng ta. Cụ đang rất vui vẻ với thảm họa Troia cơ mà. Chẳng có gì cụ có thể làm để giúp chúng ta đâu. Cứ để cụ yên."

Nàng gật đầu đồng ý và tôi đảo mắt nhìn quanh. Mở một chiếc tủ nhỏ, tôi tìm thấy nửa ổ bánh mì, một ly sữa nhỏ, và một mẩu phô mai. "Ăn đi," tôi nói, "và hãy tưởng tượng đó là món hầm thỏ." Tôi bắt nàng uống hết phần sữa, nhưng chia đôi bánh mì và phô mai. Thành Troia cứ thế sụp đổ đều đặn trong lúc đó, và khi chúng tôi đã dùng xong bữa lót dạ đạm bạc, tôi lại dẫn đường, đưa nàng bước ra khoảng sân nhỏ đằng sau ngôi trường, và ra tới sân chơi, nơi có ranh giới ngoài là bức tường thành, ở đây cao chừng mười hai thước và vẫn còn khá nguyên vẹn. Nhiều thế hệ học trò đã đục và mài mòn một loạt các khấc lớn ở hai bên bức tường, và nhờ luyện tập lâu năm, tôi có thể leo lên leo xuống trong chớp mắt để nhặt bóng hoặc cây gót bạt bị đánh bay ra ngoài.

Từ cây cầu ở Hanyards trở đi, phu nhân Waynflete vẫn luôn hành động dứt khoát và hoàn toàn theo đúng ý muốn của tôi. Tôi cảm thấy mình thật thô lỗ, và quả thật là một kẻ thô lỗ, khi đứng cạnh nàng. Lời châm chọc "máu nhà quê" của Brocton đã biến những cú đấm của tôi thành những nhát dao giết người, nhưng nó lại có đủ sự thật để khiến vết thương nhức nhối như một mũi tên tẩm độc. Thế mà ở đây lại có người phụ nữ kỳ diệu này, cả tin như một đứa trẻ và hiền lành hơn cả một cô thôn nữ vắt sữa. Công việc của tôi vốn hoàn toàn mới mẻ, nhưng dẫu sao đôi lúc tôi vẫn mơ tưởng rằng mình có thể làm nên việc lớn khi có cơ hội, và tôi có cơ thể bằng da bằng thịt dẻo dai để làm điều đó. Tuy nhiên, suy nghĩ của tôi thậm chí còn mới mẻ hơn, và chẳng có chút mộng tưởng nào làm nền tảng. Hơn nữa, mọi chuyện diễn ra quá dồn dập khiến tôi chẳng có thời gian để tĩnh tâm và xâu chuỗi chúng lại cho ngăn nắp. Dưới chân bức tường thành đó, tất cả những gì tôi biết, dẫu hãy còn lờ mờ, là có những suy nghĩ khiến cho việc làm của một người đàn ông trở thành điều duy nhất đáng sống vì nó.

"Hãy lấy lại hơi sức đi, thưa phu nhân," tôi nói. "Bà sẽ cần đến tất cả sức lực ấy đấy, và chúng ta chẳng việc gì phải vội."

Nàng tựa người thoải mái vào bức tường, và đưa mắt nhìn quanh để nhận biết quang cảnh xung quanh. Kết quả duy nhất có lẽ chỉ mang lại cho nàng cảm giác rằng mình đang bị nhốt như con chuột trong rọ, nhưng với sự thản nhiên vốn có đối với bản thân, nàng chỉ nói:

"Và đây là trường học của anh ư?"

"Trong nhiều năm, bảy năm hoặc hơn thế."

Nàng lặng đi một lúc rồi nói tiếp.

"Anh đã sống một cuộc đời tĩnh lặng phải không, thưa thầy Wheatman?"

"Ha," tôi thầm nghĩ, "nàng đang thăm dò khả năng giúp đỡ của mình đây," và cất lời đáp lại, mang theo nỗi niềm hoài niệm cay đắng: "Cuộc đời của một kẻ nhà quê, thưa phu nhân."

"Anh đọc sách nhiều chứ?"

"Vâng, tôi thích đọc sách. Nó giúp qua đi những đêm đông dài đằng đẵng."

"Và chắc hẳn anh thuộc lòng những trò vui của Robin Hood cùng những chiến công lẫy lừng của Claude Duval chứ?"

Tôi cảm nhận được ánh mắt nàng đang xoáy vào mình trong bóng tối, và thèm khát ánh mặt trời biết bao để có thể nhìn thấy ánh xanh biếc trong đôi mắt ấy.

"Làm gì có chuyện đọc mấy thứ rác rưởi đó," tôi bực bội đáp. Thật là một sự xúc phạm đối với cụ Bloggs đang lẩm bẩm đọc bài về cảnh Troia thất thủ đằng kia, chưa kể đến vị cha xứ nhân hậu đáng kính.

"Thế thì là gì?"

"Livy và Caesar, cùng những thứ đại loại thế, nhưng chủ yếu là Virgil."

"Vậy thì thật là lạ, rất lạ đằng khác," nàng thì thầm đầy vẻ quả quyết.

Chắc hẳn dòng máu nhà quê không nên chảy cuồn cuộn như rượu vang dưới nhịp đập dũng mãnh của Virgil, và tôi bực dọc hỏi: "Có gì lạ đâu phu nhân? Cụ Bloggs chẳng có gì để dạy ngoài tiếng Latinh, và tình cờ là tôi thích học nó. Sao lại gọi là lạ?"

"Thực tình mà nói, thưa thầy Wheatman, chẳng lẽ không lạ sao? Chúng ta đang ở trong một cái sân hẹp dưới chân một bức tường cao. Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng chỉ trong vòng năm phút nữa thôi tôi sẽ được nhấc bổng sang bên kia. Và anh học được điều đó từ Virgil sao?"

"Chính cống từ Virgil đấy, thưa phu nhân. Stafford chính là thành Troia của chúng tôi, và đây là tường thành của nó. Tôi đã leo ra leo vào hàng ngàn lần rồi."

Nàng buồn cười nhìn quanh sân trường tối thui và vui vẻ nói: "Tôi chẳng thấy con ngựa gỗ nào cả. Lẽ ra phải có một con chứ, tôi biết thế. Thầy Dryden nói vậy, và thầy ấy hiểu rõ mọi điều về Virgil."

"Phì," tôi bật thốt. "Nếu cụ Bloggs mà nghe thấy ngài nói thế, cụ sẽ ngứa ngáy muốn quật cho ngài một trận tơi bời hoa lá đấy."

"Bây giờ thì cụ không làm thế được nữa đâu vì tôi đã lấy lại được hơi sức rồi," nàng cười vang.

“Tôi rất mừng vì điều đó. Để tôi giải thích nhé. Đây là một cái thang bằng các bậc khấc trên tường, lệch nhau bên trái và bên phải. Hãy rà tay tìm chúng xem.” Nàng làm theo, và tôi nói tiếp: “Chúng cách nhau chừng ba thước ở mỗi bên. Tôi sẽ trèo lên trước và đỡ bà ở mấy bậc cuối cùng. Tôi e là váy vóc sẽ làm bà vướng víu đấy.”

“Không sao đâu, vì tôi sẽ vén chúng lên.” Nàng liền làm ngay, và buộc gọn các mép váy quanh eo. Nàng cũng cởi bỏ chiếc áo trùm dài vướng víu, và tôi đón lấy nó từ tay nàng.

“Hãy nhìn tôi này,” tôi bảo, “và theo sau khi tôi hô khẩu lệnh. Tôi sẽ ngó nghiêng quan sát trước đã.”

Tôi trèo lên, đu người thuần thục bằng cả hai tay, dễ dàng y như trước đây tôi vẫn làm. Tôi khom người ngồi trên đỉnh bức tường, may sao, nó nằm trong bóng râm của ngôi nhà trường học. Tôi nhìn thấy trên bầu trời ánh lửa phản chiếu hắt lên từ cổng phía bắc, chắc lại là một toán lính canh nào đó, nhưng ngoài cổng ra còn có những ngôi nhà, và chúng đều chìm trong bóng tối và im lìm. Chẳng có gì phải sợ bị phát hiện cả.

"Lên thôi!" tôi thì thầm.

Nàng mạnh dạn cất bước và leo lên với tốc độ nhanh đến phấn khích. Tôi trải sẵn chiếc áo trùm ra để sẵn sàng, rồi rướn người xuống đỡ nàng, và chỉ khoảnh khắc sau, nàng đã ngồi vắt vẻo trên bờ tường như cưỡi ngựa.

"Tuyệt vời, đối với một kẻ mới học việc," tôi khen ngợi.

"Và lại là một kẻ mới học việc mặc váy, váy ngắn nữa chứ."

Nàng tuột xuống trước ở sườn bên kia, và tôi suýt ngã nhào khi cố rướn người đỡ nàng xuống thấp hết mức có thể. Nàng buông váy xuống trong lúc tôi leo theo, rồi tôi giúp nàng mặc lại chiếc áo trùm, lòng ngây ngất trước cái vuốt ve mềm mại như lụa của mái tóc nàng lướt qua tay tôi khi tôi chỉnh lại chiếc mũ trùm đầu—một sự nhiệt tình chu đáo đến mức dễ chịu mà tôi nhận lại được những lời cảm ơn chẳng bõ công—rồi chúng tôi bắt đầu lên đường.

Nàng lại chẳng hề gặng hỏi gì về việc chúng tôi sắp làm hay đích đến ở đâu. Nhìn bề ngoài thì những ô cửa sổ sáng rực của một quán trọ ấm cúng nào đó có lẽ đang hiện ra trước mắt cũng chẳng mảy may khiến nàng bận tâm. Thế mà ở đây, lúc nửa đêm về sáng, giữa thời tiết lạnh cắt da cắt thịt, nàng lại dấn thân vào vùng đất hoang vu xa lạ cùng với một người đàn ông mà nàng chỉ mới quen biết vài tiếng đồng hồ.

Tôi đi tiên phong và suy ngẫm về điều đó. Trong mười phút, chúng tôi dò dẫm tìm đường trong bóng râm dày đặc dọc theo chân tường, *per opaca locorum*, như cách mà bậc thầy ngôn từ đã ví von, rồi tôi rẽ hẳn ra ngoài khoảng đồng trống dưới ánh trăng vằng vặc. Tự nguyện làm sao, nàng luồn tay vào khuỷu tay tôi, và chúng tôi cùng nhau sải bước hiên ngang.

"Chúng ta đang ở vùng đất hoang không có rào chắn," tôi giải thích. "Bên phải chúng ta là một khoảnh đất lúc thì sình lầy ngập nước lúc thì thành hồ, tùy theo những trận mưa. Dân thị trấn gọi đó là Hồ của Nhà vua, dù nó ở trạng thái nào đi nữa. Ngay phía trước đây, bà có thể thấy dòng chảy của nó, là một con suối nhỏ, suối Pearl. Nếu nó chưa bị đóng băng thì tôi có thể dễ dàng cõng bà qua, vì nước sâu chưa tới sáu inch. Những người tự do của Khu tự trị Cổ kính—thị trấn nhỏ kia đã ngủ yên ở đó gần tám trăm năm rồi—có quyền lợi theo tập tục muôn đời là được đánh cá ở suối Pearl bằng cần câu và lưỡi câu uốn từ cây kim."

“Chắc là họ chẳng bắt được con cá mú nào nặng ba mươi cân đâu nhỉ?”

"Trời ạ, làm gì có. Nhưng chính nơi đây tôi đã học được niềm yêu thích câu cá, rồi từ việc bắt cá diếc nhỏ và cá rô gai, tôi tiến lên săn cá chó."

"Và cả những thiếu nữ lang thang nữa," nàng xen vào, với một tiếng cười ngân lên trong tai tôi như âm thanh của những chiếc chuông bạc. Một phút sau, bên bờ suối, nàng thốt lên đầy vẻ tiếc nuối: "Và nó vẫn chưa đóng băng." Nhưng tôi đã sớm nhận ra điều đó với sự phấn khích tột độ.

"Chưa tới sáu inch, anh vừa nói thế mà," nàng lẩm bẩm, rồi toan bước xuống nước.

"Và dù nó có nông chưa bằng sáu hạt lúa đi nữa," tôi nói, "tôi cũng không đời nào để bà phải lội qua. Thưa phu nhân, xin hỏi tôi dùng để làm gì chứ?"

Không chần chừ thêm một phút nào, tôi lại bồng bổng nàng trên tay—lần thứ tư trong ngày hôm ấy—và bắt đầu bước đi. Tôi thầm nguyền rủa sự hẹp của dòng suối Pearl. Lẽ ra tôi chỉ cần nhảy một bước là qua, nhưng chính nhờ việc lê la đi chéo dòng nước mà tôi được ngắm khuôn mặt xinh đẹp của nàng cận kề dưới ánh trăng, và vòng tay ôm lấy thân hình kiêu kỳ của nàng trong suốt đôi phút ngắn ngủi. "Dù là máu nhà quê hay không đi nữa," tôi thầm nghĩ, "đây là điều mà Lãnh chúa Brocton muôn đời cũng không làm nổi."

Mười lăm phút sau, sau khi giúp nàng leo lên một con dốc ngắn và đứng sững lại để nhìn về phía thị trấn nhỏ. Những mái nhà ngập chìm trong ánh trăng, và ngọn tháp nhà thờ lớn sừng sững một màu xám ngắt nổi bật trên nền trời xanh đen. Những vệt sáng đỏ đục trên bầu trời đánh dấu vị trí của các đống lửa canh gác, và vọng đến tai chúng tôi, như tiếng hồn ma lải nhải trong gió, là những âm thanh tàn lụi của sự náo nhiệt ban ngày. Về phía bên trái chúng tôi, những dải lụa bạc uốn lượn đánh dấu dòng sông đang chảy, và đường nét sẫm tối hơn ở vùng xa xôi kia chính là những ngọn đồi nơi quê hương và tuổi thơ tôi. Dưới chân chúng là Hanyards, là Kate và mẹ. Khóe mắt tôi hơi cay cay, và đôi mắt mà tôi quay sang nhìn ngắm cũng đang ngấn lệ.

"Và giờ đây, thưa phu nhân Waynflete," tôi nói, "chúng ta hãy tới quán trọ thôi."

"Quán trọ của chúng ta!" nàng nhắc lại, và trong giọng nói ẩn chứa vẻ hoảng hốt. "Quán trọ ư, trong khi tôi chẳng có nổi một xu dính túi. Để cho an toàn, tôi đã nhét chiếc mũ, chiếc áo cưỡi ngựa, và cái ví của mình xuống gầm giường ở nhà Marry-me-quick, thế mà trận chiến và sự hoảng loạn đã khiến tôi quên bẵng chúng đi mất."

"Và tôi cũng rơi vào hoàn cảnh y hệt," tôi nói, rồi cười lớn tiếng. Tôi chẳng mấy khi cần đến tiền ở Hanyards, nhất là khi diện bộ quần áo đẹp nhất ngày Chủ nhật, và mãi cho đến khi nàng kể ra cảnh ngộ của mình, tôi mới nhận ra rằng trong niềm hân hoan lúc rời nhà, tôi đã quên mất việc tiền bạc có thể là thứ cần thiết. Dẫu bật cười, tôi vẫn dõi theo nàng sát sao. Chắc là nàng sắp suy sụp rồi đây. Chẳng có trái tim người phụ nữ nào có thể chịu đựng nổi cú sốc này.

"Tài sản của tôi," nàng nói, "chính xác là gồm hai chiếc khăn tay, một cục xà phòng thơm của phu nhân du Pont, và phần lớn một thanh kẹo marry-me-quick nổi tiếng."

Tôi đã lầm. Nàng chẳng hề phàn nàn gì về hoàn cảnh ngặt nghèo của chúng tôi, mà lại nói bằng một giọng điệu hài hước đầy nghiêm túc khiến tôi vô cùng cảm kích.

"Quả là một bản kiểm kê dài dằng dặc," tôi đáp. "Còn đóng góp của tôi vào gia tài chung là..."—và tôi quờ quạng lục lọi trong các túi áo—"...mục thứ nhất, một chiếc khăn tay; mục thứ hai, một con dao bỏ túi; mục thứ ba, một cái tẩu và nửa gói thuốc lào; mục thứ tư, một cái bình đựng đầy hai phần ba chất rượu bạc hà quý giá của phu nhân Kate Wheatman, phương thuốc cứu tinh chống lại sự mệt mỏi, giá lạnh, muộn phiền, và bệnh tật; mục thứ năm, một thứ kỳ lạ nào đó cứ đập bôm bốp vào hông tôi và qua cảm giác sờ bên ngoài thì đây là một vật rất đáng mừng, thưa quý vị, chính là một trong những chiếc bánh nướng của Kate."

Tôi thọc tay vào lấy nó ra, rồi còn cười to hơn nữa khi lôi ra cuốn sách Virgil nhỏ nhắn mập mạp của mình.

"Mục cuối," tôi kết luận, "tác phẩm của vị thần nghệ thuật, P. Vergilius Maro, được giấu trong túi áo tôi bởi cô nàng tinh quái và nghịch ngợm ấy, Kate Wheatman của Hanyards." Và tôi kể lại câu chuyện.

"Thế ra nếu Kate không giấu cuốn Virgil yêu quý của anh, thì anh đã chẳng đi câu cá ư?"

"Tôi dám chắc là không rồi."

"Cuộc đời xoay vần quanh những chuyện vụn vặt, thưa thầy Wheatman ạ, và chính nhờ trò đùa mang tính chị em của một cô gái xinh đẹp mà tôi có được mọi thứ đã xảy ra kể từ lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh bên bờ sông."

"Chúng ta nợ điều đó, thưa phu nhân," tôi dịu dàng đính chính, rồi quay người đi tiếp, bởi tôi thấy nàng đang vô cùng xúc động và bứt rứt vì những rắc rối mà nàng nghĩ rằng mình đã gây ra cho tôi. Rắc rối ư! Tôi đang tận hưởng từng hơi thở và từng bước chân mình đi qua, và trái tim tôi rực cháy như một hòn than hồng giữa lồng ngực.

"Đừng sợ hãi, thưa phu nhân Margaret," tôi vui vẻ nói, vung tay rộng mở. "Trước mắt chúng ta là cả một vùng Staffordshire rộng lớn, một miền đất trù phú ngập tràn thịt thà, bia rượu và tiền bạc, và chúng ta sẽ có phần của mình trong đó."

"Nhưng anh sẽ phải ăn cắp nó hộ tôi đấy."

"'Người khôn gọi đó là vận chuyển,' như người ta vẫn thường nói," tôi trích dẫn.

"Nghe khá hơn đấy," và nàng mỉm cười ngước nhìn tôi dưới ánh trăng. "Virgil đưa anh vượt lên trên sự hiểu biết kém cỏi của tôi, nhưng hãy nói rằng anh cũng yêu cả Shakespeare nữa đi, và chúng ta sẽ có thêm một trong những điều vĩ đại nhất của cuộc đời làm điểm chung."

"Tôi có chứ, thưa phu nhân, nhưng bà phải học cách đánh giá mọi thứ theo đúng giá trị thực của chúng. Bà biết tiếng Pháp chứ?"

"Ồ có chứ."

"Cả tiếng Ý nữa?"

"Có."

"Và biết chơi đàn harpsichord?"

"Có luôn."

"Thế thì, thưa phu nhân, tôi quả là một kẻ thô phu nửa chữ bẻ đôi khi so sánh với bà, bởi vì tôi chẳng biết bất kỳ thứ nào trong số đó. Nhưng dẫu tôi không biết tiếng Pháp hay tiếng Ý của món marry-me-quick là gì, nếu bà chịu lấy nó ra khỏi túi, tôi sẽ chỉ cho bà thấy tiếng Staffordshire để đổi lấy một nửa của nó."

Chúng tôi tiếp tục vui vẻ sải bước trong mười lăm phút nữa, nhấm nháp mẩu chuyện ngọt ngào đó. Rồi tôi lên tiếng: "Ngay cả một lữ khách dày dặn kinh nghiệm chiến trường như bà cũng sẽ phải vui mừng khi biết rằng quán trọ của chúng ta đã ở ngay gần đây thôi."

"Rất vui là đằng khác, nhưng tôi chẳng thấy dấu hiệu nào của nó cả."

"À, không đâu," tôi nói, "nó không hẳn là một quán trọ, mà chỉ là một cái kho thóc mộc mạc thôi. Dù vậy, bà sẽ được ngủ một giấc thật êm ái, an toàn và ấm áp, và ngay cả khi chúng ta có tiền và quán trọ ở ngay bên cạnh đi nữa, việc đến đó cũng thật dại dột. Hoàn cảnh của bà thật ngặt nghèo, phu nhân ạ, và tôi ước gì mình có thể cung cấp cho bà chỗ ở tốt hơn thế này."

Dưới bóng của một gò đất tròn mọc lúp xúp những cây thông, nằm ẩn khuất một ngôi nhà trang trại cổ kính. Chúng tôi đang tiếp cận nó từ phía trước, còn các nhà kho và chuồng trại thì nằm ở phía sau. Do đó, chúng tôi rẽ vào cánh đồng đi vòng một đoạn, và chẳng mấy chốc đã đứng trước cánh cổng dẫn vào sân trại. Không một bóng người chuyển động, thậm chí đến cả một con chó cũng không sủa khi tôi nhẹ nhàng đẩy cổng và rón rén bước tới tòa nhà gần nhất, theo sau là phu nhân Waynflete. Tôi đẩy hé cửa, chúng tôi bước vào một nhà kho, và thế là đã an toàn cho suốt đêm nay. Ánh trăng rọi qua ô cửa mở, và tôi thấy kho thóc hoàn toàn trống không, có lẽ bởi vì mùa màng trong năm nay, như tôi đã biết rõ với nỗi buồn sâu sắc, thực sự rất thất bát ở vùng chúng tôi. Việc nhà kho trống trơn lại có lợi cho chúng tôi, vì sẽ chẳng có tá điền nào lai vãng tới đây nếu có ai đó lỡ dậy sớm đi lại trước chúng tôi vào sáng mai.

Một đống rơm nằm sẵn ngay trong sân, và khi đến gần đó, tôi thấy ba hoặc bốn kiện rơm đã được cắt sẵn sàng để chuyển vào chuồng gia súc. Tôi lần lượt mang chúng vào kho, từng kiện một, và người tôi nóng bừng bừng đến lúc tôi thả kiện cuối cùng xuống sàn kho. Lại lên đường, tôi mò mẫm xung quanh ở một cái chuồng khác và may mắn tìm thấy một chồng bao tải đựng ngô rỗng. Trải chúng ra ba bốn lớp ở góc trong cùng của nhà kho, tôi phủ lên trên một lớp rơm thật dày, và giữ lại một chiếc bao tải làm gối, tôi nhồi rơm vào đó cho phồng xốp lên.

Suốt khoảng thời gian bận rộn ấy, phu nhân Waynflete đứng trên bậc cửa ngập ánh trăng, im lặng như một chú chuột nhắt, và khi tôi rón rén bước đến để báo cho nàng biết mọi thứ đã sẵn sàng, tôi thấy hai bàn tay nàng đang đan trước ngực và môi mấp máy. Tôi ngả mũ đứng chờ, bởi nàng đã biến cái nhà kho tồi tàn này thành một chốn linh thiêng của người thiếu nữ.

"Thưa phu nhân," tôi cất lời rất khẽ, khi nàng quay mặt về phía tôi, "giường của bà đã sẵn sàng rồi, và bà đã mệt lử suýt ngất đi vì buồn ngủ. Xin mời ngài!"

Vẫn im lặng, nàng bước tới và xem xét công trình thô sơ của tôi. Sau đó, nàng cuộn tròn người nằm xuống đống rơm, và tôi đắp thêm rơm lên người nàng cho đến khi nàng nằm gọn gàng đủ để chống chọi với một trận Đại băng hà nữa.

"Chúc phu nhân ngủ ngon, và mong những giấc mơ ngọt ngào sẽ đến với bà," rồi tôi quay người định bước đi.

"Này!" nàng lên tiếng, "và xin hỏi anh định ngủ ở đâu thế?"

"Tôi sẽ làm ổ ngay dưới cái gác rơm."

"Thưa ngài," và giọng điệu của nàng nghe gần như khó chịu, "về sự kín đáo mà anh gán cho tôi, tôi xin cảm ơn. Về sự biết ơn mà anh từ chối dành cho tôi, tôi không thích anh chút nào. Nhưng xin hãy công nhận cho tôi một chút lẽ phải thông thường. Tôi sẽ cần đến sự giúp đỡ của anh vào buổi sáng, và tôi không muốn tìm thấy anh dưới đống rơm trong trạng thái đóng băng cứng ngắc thành hóa thạch đâu."

"Vâng, thưa phu nhân."

Nàng vùng dậy khỏi chỗ nằm, đá văng đống rơm tung tóe khắp nơi.

"Thưa thầy Wheatman, tôi sẽ không giả vờ là mình không hiểu ý anh, và thực ra tôi rất cảm kích, nhưng anh sẽ phải đặt chỗ ngủ của mình ngay ở đây," nàng dậm mạnh chân xuống đất, "để chúng ta có thể trò chuyện mà không cần phải gào lên. Tôi thà ngủ chung một nhà kho với anh còn hơn là ở chung một thị trấn với Lãnh chúa Brocton đấy. Phần bao tải của anh đâu?"

Tôi đành nhường bao tải, nhưng lại đi kiếm thêm mấy cục rơm lớn, và nàng đã giúp tôi rải một chiếc giường cho riêng mình ngay sát cạnh giường của nàng. Tôi đắp chăn rơm cho nàng thêm một lần nữa, rồi tự lo cho chỗ nằm ấm cúng của mình. Tôi cứ thấp thỏm lo sợ nhỡ mình ngáy thì khổ. Người nhà quê thường hay ngáy lắm. Lấy ví dụ như Joe Braggs ấy, hắn có thể ngáy vang làm rung chuyển cả cửa nhà kho.

Tôi chợt nhớ đến bình rượu quý, và mỗi chúng tôi đều uống một ngụm thật sảng khoái. Tôi vẫn còn cảm nhận được sự mơn trớn từ những ngón tay thuôn mềm của nàng chạm vào tay mình khi nàng cầm lấy chiếc bình.

"Nó thực sự làm người ta ấm lên đấy," nàng nói. "Tôi cảm thấy râm ran cả trong lẫn ngoài."

"Vậy tôi có thể hiểu là bà đã cảm thấy thoải mái chứ?"

"Nếu không vì hai điều, tôi sẽ nói rằng đây là một cuộc trốn chạy tuổi hoa niên của đôi ta, mà mọi khoảnh khắc trôi qua đều là niềm vui thuần túy."

"Đương nhiên là bà đang lo lắng cho cha mình rồi, nhưng tôi không nghĩ ông ấy sẽ gặp nguy hiểm tức thời nào đâu. Còn việc tại sao Brocton lại đày ông ấy đi hướng Bắc thay vì hướng Nam, thú thật đó vẫn là một bí ẩn, nhưng ngày mai sẽ sáng tỏ tất cả. Và điều gì khác khiến bà thấy bất an nữa thế?"

"Anh," nàng đáp, giọng vô cùng nhỏ nhẹ và ngắn gọn.

"Tôi ư? Xin hỏi thưa phu nhân, tôi đã làm gì khiến bà cảm thấy bất an cơ chứ?"

"Gặp tôi." Vẫn là giọng điệu ấy.

"Tôi không biết cách nói năng theo kiểu thời thượng, và tôi cũng chẳng nghĩ là bà muốn tôi cố bắt chước những kẻ bề trên, thế nên tôi xin nói thẳng thừng rằng cuộc gặp gỡ của chúng ta không hề làm tôi bất an chút nào. Vậy tại sao lại là tôi đối với bà?"

"Nếu anh không gặp tôi, giờ này anh đã đang ngủ say ở Hanyards, một chủ đồn điền tự do và hạnh phúc. Thay vào đó, anh lại có mặt ở đây, một kẻ bị tình nghi, một kẻ tị nạn, một kẻ ngoài vòng pháp luật, một kẻ mang vết nhơ phản loạn, chắc chắn sẽ vào tù nếu bị bắt, và rồi—"

Nàng khựng lại đột ngột, và tôi nghĩ mình đã nghe thấy một tiếng nấc nghẹn ngào.

"Và rồi?"

"Có lẽ là đoạn đầu đài."

"Đúng là nghề trộm cắp là một cái nghề quái gở dễ dẫn tới giá treo cổ, nhưng rắc rối của ngày mai cũng giống như bữa tối của ngày hôm qua, chẳng đáng để bận tâm suy nghĩ làm gì. Chúng ta đang ở đây, an toàn và thoải mái. Thế là đủ rồi. Và ngày hôm nay, thay vì gây ra tai họa khiến bà phải bận tâm lo lắng, bà đã làm nên một phép màu."

"Làm nên phép màu ư? Ý anh là gì?"

"Bà đã tìm thấy một bắp cải, và nhào nặn nên một người đàn ông. Chúc ngủ ngon, thưa phu nhân Waynflete."

"Chúc ngủ ngon, thưa thầy Wheatman."

Tôi bắt đầu giả vờ thở đều đặn như một kẻ mệt mỏi đang chìm vào giấc ngủ. Chỉ vài phút sau, rõ ràng là nàng đã thực sự chìm vào giấc ngủ sâu, và tôi không cần phải diễn trò nữa, mà duỗi thẳng người thoải mái trên lớp rơm thơm ngát rồi chẳng mấy chốc ngủ say như chết.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.