Hoa Bìm Đỏ

Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 30
Chiếc Tàu Thủy

❊ ❊ ❊

Trái tim đang thắt lại của Marguerite như ngừng đập. Cô cảm nhận rõ hơn là nghe thấy, những tên lính gác đang rón rén chuẩn bị cho cuộc đột kích. Bản năng mách bảo cô rằng mỗi kẻ đang cầm gươm trong tay, cúi rạp người, sẵn sàng lao vút đi.

Giữa chốn vách đá hoang vắng mênh mông, tiếng sóng biển gầm vang bên dưới, thật khó mà định lượng tiếng hát ấy ở gần hay ở xa, hoặc phát ra từ hướng nào. Đó là giọng ca đầy phấn chấn của một người cất lời cất tiếng cầu xin Chúa phù hộ vị Quốc vương của mình, dẫu bản thân hắn đang lâm vào tình cảnh hiểm nghèo tột độ. Thoạt đầu còn yếu ớt, tiếng hát ấy ngày một vang to hơn; thỉnh thoảng, đâu đó có viên sỏi nhỏ bỗng văng ra dưới bước chân vững chãi của người ca sĩ, lăn lóc qua vách đá chông chênh rơi xuống bãi biển bên dưới.

Vừa nghe, Marguerite vừa cảm thấy sự sống như đang cạn kiệt dần trong cơ thể, tựa hồ như khi giọng ca ấy đến gần hơn, khi người ca sĩ kia rơi vào tròng...

Cô nghe rất rõ tiếng lách cách từ khẩu súng của Desgas ngay sát bên mình...

Không! Không! Không! Không! Lạy Chúa trên cao! Chuyện này không thể xảy ra được! Thà rằng máu của Armand cứ đổ lên đầu cô! Thà rằng cô mang tiếng là kẻ sát nhân hại chết em mình! Thà rằng chính người đàn ông cô yêu thương sẽ khinh bỉ và căm ghét cô vì điều này, nhưng lạy Chúa! Ôi lạy Chúa! Bằng mọi giá xin hãy cứu lấy anh ấy!

Với một tiếng thét hoang dại, cô chồm dậy, lao vòng qua tảng đá mà nãy giờ cô đang nép sau đó; cô nhìn thấy ánh đỏ le lọi hắt qua những khe hở của căn lán; cô chạy thục mạng đến đó và ngã nhào vào bức vách bằng gỗ, rồi dùng đôi bàn tay siết chặt đấm thình thình vào vách lán trong cơn cuồng loạn gần như điên dại, miệng hét lớn,—

“Armand! Armand! Vì Chúa, hãy nổ súng đi! Thủ lĩnh của anh đang ở gần đây rồi! Anh ấy sắp tới! Anh ấy đã bị phản bội! Armand! Armand! Nhân danh Chúa, hãy nổ súng đi!”

Cô bị chộp lấy và quật ngã xuống đất. Cô nằm đó rên rỉ, mình mẩy bầm dập, chẳng màng gì nữa, miệng vẫn vừa nấc vừa thét lên,—

“Percy, chồng tôi ơi, vì Chúa hãy trốn đi! Armand! Armand! Sao anh không chịu nổ súng?”

“Bịt miệng mụ đàn bà chanh chua đó lại ngay,” Chauvelin rít lên, hắn chém ném suýt không kìm được cơn giận mà vung tay tát cô.

Cái gì đó trùm lên mặt cô; cô không thể thở được, và đành phải im bặt.

Người ca sĩ dũng cảm kia giờ đây cũng đã ngưng bặt tiếng hát, chắc hẳn anh đã được tiếng thét điên cuồng của Marguerite cảnh báo về mối hiểm họa đang cận kề. Bọn lính đã vùng đứng dậy, chúng chẳng cần phải giữ im lặng nữa; chính những vách đá cũng đang vọng lại những tiếng thét xé lòng của người đàn bà bất hạnh.

Kèm theo một tiếng lẩm bẩm chửi rủa đầy ác ý đối với kẻ dám cả gan đảo lộn những kế hoạch tâm đắc nhất của mình, Chauvelin vội vã hạ lệnh,—

“Xông lên, hỡi các đồng chí, và đừng để tên nào trong cái lán đó sống sót trốn thoát!”

Vầng trăng lại một lần nữa nhô lên khỏi những tầng mây; bóng tối trên vách đá tan biến, nhường chỗ cho ánh bạc rực rỡ một lần nữa. Mấy tên lính lao bổ tới cánh cửa gỗ xộc xệch của túp lán, trong khi một tên đứng lại canh chừng Marguerite.

Cánh cửa đang hé mở; một tên lính đẩy nó rộng ra, nhưng bên trong tối thui, ánh lửa than hồng chỉ hắt chút ánh đỏ leo lét vào góc xa nhất của túp lán. Bọn lính khựng lại một cách máy móc ở cửa, tựa như những cỗ máy đang chờ lệnh tiếp theo.

Chauvelin vốn đã chuẩn bị tinh thần cho một cuộc tấn công vũ trang từ bên trong và sự kháng cự mãnh liệt của bốn kẻ trốn chạy dưới lớp vỏ bọc của bóng tối, bỗng ngẩn người chết sững trong giây lát khi nhìn thấy đám lính đứng nghiêm bồng súng như lính gác đồn, trong khi chẳng có lấy một âm thanh nào phát ra từ căn lán.

Đầy những linh cảm kỳ lạ và lo âu, chính hắn cũng bước tới cửa lán, nheo mắt nhìn vào khoảng không mờ mịt, rồi cộc lốc hỏi,—

“Thế này là nghĩa làm sao?”

“Tôi nghĩ, thưa đồng chí, hiện giờ chẳng còn ai trong đó nữa,” một tên lính điềm nhiên đáp.

“Chúng mày thả bốn kẻ đó đi rồi à?” Chauvelin gầm lên đầy đe dọa. “Tao đã ra lệnh cho chúng mày không được để tên nào sống sót trốn thoát cơ mà!—Mau lên, đuổi theo chúng cho tao! Nhanh chóng tỏa ra mọi hướng!”

Đám lính tuân lệnh như máy, lao rầm rập xuống dốc đá hướng về phía bãi biển, kẻ rẽ sang phải, người rẽ sang trái nhanh hết mức có thể.

“Mày và đám lính của mày sẽ phải đền mạng vì sự ngu ngốc này, đồng chí trung sĩ,” Chauvelin hằn học nói với viên trung sĩ vừa chỉ huy tốp lính; rồi quay sang gầm gừ với Desgas, hắn nói thêm, “Và cả mày nữa, đồng chí, vì tội dám kháng lệnh tao.”

“Đồng chí ra lệnh cho chúng tôi phải chờ cho đến khi gã quý tộc người Anh cao kều kia xuất hiện và nhập bọn với bốn người trong lán. Nhưng chẳng có ai đến cả,” viên trung sĩ cộc cằn đáp lại.

“Nhưng ban nãy, khi mụ đàn bà đó thét lên, tao đã ra lệnh xông vào và không được để ai trốn thoát cơ mà.”

“Nhưng thưa đồng chí, bốn gã có mặt ở đó trước hình như đã rời đi từ lúc nào rồi...”

“Mày nghĩ thế à?—Mày ư?...” Chauvelin tức đến nghẹn cổ họng, “rồi chúng mày cứ thế để chúng chuồn mất...”

“Đồng chí ra lệnh cho chúng tôi phải đợi,” viên trung sĩ biện minh, “và phải tuân thủ tuyệt đối mệnh lệnh của đồng chí nếu không muốn mất đầu. Chúng tôi đã đợi.”

“Tôi nghe thấy tiếng bọn chúng lén lút bò ra khỏi túp lán, chỉ ít phút sau khi chúng tôi vào vị trí ẩn nấp, và từ lâu trước khi mụ đàn bà kia thét lên,” hắn nói thêm khi Chauvelin vẫn chìm trong cơn thịnh nộ đến mức câm nín.

“Nghe kìa!” Desgas thốt lên đột ngột.

Từ đằng xa vang lên những tiếng súng nổ liên hồi. Chauvelin cố nheo mắt nhìn dọc theo bãi biển phía dưới, nhưng trớ trêu thay, vầng trăng lúc ẩn lúc hiện lại khuất sau một dải mây đen, khiến hắn chẳng thể thấy gì rõ ràng.

“Một đứa vào trong lán châm lửa đi,” cuối cùng hắn lắp bắp ra lệnh.

Viên trung sĩ lầm lì tuân lệnh: hắn bước tới đống than hồng và châm ngòi chiếc đèn lồng nhỏ mang theo bên hông; rõ ràng là căn lán hoàn toàn trống không.

“Chúng chuồn theo hướng nào?” Chauvelin hỏi.

“Tôi không rõ, thưa đồng chí; ban đầu chúng đi thẳng xuống vách đá, sau đó biến mất sau mấy mảng đá lớn.”

“Im lặng! Âm thanh gì thế kia?”

Cả ba người chăm chú lắng tai nghe. Từ một khoảng cách rất, rất xa, văng vẳng tiếng chèo khua nước gấp gáp, sắc lẹm rồi nhanh chóng lịm dần vào thinh không. Chauvelin rút khăn tay lau vầng trán đẫm mồ hôi.

“Xuồng của chiếc tàu buồm!” Hắn chỉ kịp thốt lên từng ấy từ.

Hiển nhiên là Armand St. Just cùng ba người đồng hành đã kịp rón rén bò dọc theo triền vách đá, trong khi đám lính, với tư cách là những quân nhân mẫu mực của đội quân Cộng hòa được huấn luyện bài bản, đã mù quáng vâng lời và vì sợ mất mạng nên đã tuân thủ răm rắp lệnh của Chauvelin—chờ đợi gã người Anh cao kều, mục tiêu bắt giữ quan trọng nhất.

Chắc hẳn bọn họ đã đến được một trong những con lạch nhỏ nhô ra biển dọc theo bờ biển này; ẩn sau đó, chiếc xuồng của con tàu Day Dream hẳn đang túc trực đón sẵn, và giờ đây họ đã lên chiếc tàu buồm của Anh quốc một cách an toàn.

Như để xác nhận phỏng đoán cuối cùng ấy, tiếng đại bác trầm đục đột ngột vang lên từ ngoài khơi xa.

“Tàu buồm kìa, đồng chí,” Desgas điềm tĩnh nói; “nó đang nhổ neo chuồn rồi.”

Chauvelin phải huy động toàn bộ sự bình tĩnh và minh mẫn mới kìm nén được bản thân trước một cơn thịnh nộ vô ích và mất mặt. Giờ đây không còn nghi ngờ gì nữa, một lần nữa, cái đầu đầy mưu mẹo của kẻ người Anh đáng nguyền rủa ấy lại qua mặt hắn hoàn toàn. Làm sao hắn ta có thể mò tới tận túp lán mà không bị bất kỳ ai trong số ba mươi tên lính canh gác phát hiện ra, là điều vượt quá sức tưởng tượng của Chauvelin. Việc hắn ta đột nhập trước khi ba mươi tên lính kéo đến vách đá thì tất nhiên là dễ hiểu, nhưng làm sao hắn ta có thể ngồi trên chiếc xe kéo của Reuben Goldstein, đi một mạch từ Calais đến đây mà không bị các trạm tuần tra dọc đường phát hiện thì quả là chuyện không tài nào giải thích nổi. Trông sự tình cứ như thể có một thế lực siêu nhiên nào đó đang phù hộ cho gã Scarlet Pimpernel táo bạo kia vậy, và vị đặc phái viên xảo quyệt chợt cảm thấy một nỗi sợ hãi mang màu sắc mê tín chạy dọc sống lưng khi nhìn quanh những vách đá sừng sững cùng sự hoang vắng của vùng bờ biển hẻo lánh này.

Nhưng đây rõ ràng là hiện thực! Và đang là năm hồng ân 1792: chẳng có bà tiên hay yêu tinh nào ở đây cả. Chauvelin và ba mươi tên lính đều tận tai nghe thấy giọng ca đáng nguyền rủa ấy cất lên bài “Chúa cứu Quốc vương” trọn vẹn hai mươi phút sau khi tất cả đã vào vị trí mai phục quanh lán; tính đến lúc đó, bốn kẻ trốn chạy hẳn đã tới được con lạch và xuống xuồng, trong khi con lạch gần nhất cũng cách lán hơn một dặm đường.

Gã ca sĩ táo bạo ấy đã chuồn đi đâu được chứ? Trừ phi chính Satan chắp cánh cho hắn, nếu không đời nào hắn vượt qua được quãng đường một dặm trên vách đá lởm chởm ấy chỉ trong vòng hai phút ngắn ngủi; mà khoảnh khắc từ lúc tiếng hát dứt cho đến khi nghe tiếng mái chèo ngoài khơi chỉ vỏn vẹn hai phút. Chắc chắn hắn đã ở lại phía sau, và hiện giờ vẫn đang ẩn nấp đâu đó quanh những vách đá này; các đội tuần tra vẫn đang sục sạo, không chừng hắn sẽ bị tóm sớm thôi. Chauvelin lại cảm thấy một tia hy vọng thắp lên trong lòng.

Một hai tên lính vừa đuổi theo nhóm trốn chạy giờ đang ì ạch leo ngược lên vách đá: một tên trong số đó vừa kịp tiến đến bên Chauvelin đúng lúc tia hy vọng vừa nhen nhóm trong lòng vị ngoại giao xảo quyệt.

“Chúng tôi đến muộn mất rồi, thưa đồng chí,” tên lính báo cáo, “chúng tôi vừa xuống đến bãi biển thì vầng trăng bị dải mây đó che khuất. Chiếc xuồng quả thực đã túc trực sẵn đằng sau con lạch cách đây một dặm, nhưng nó đã nhổ neo rời đi từ lúc chúng tôi vừa tới bãi biển, và lúc ấy đã ra xa khơi một đoạn. Chúng tôi đã nổ súng bắn theo, nhưng tất nhiên chẳng ăn thua gì. Nó đang phi thẳng và rất nhanh ra chỗ chiếc tàu buồm. Chúng tôi nhìn thấy rõ mồn một dưới ánh trăng.”

“Được rồi,” Chauvelin sốt ruột giục, “mày bảo nó đã nhổ neo từ trước đó một lúc, mà con lạch gần nhất thì cách đó tận một dặm cơ mà.”

“Vâng, thưa đồng chí! Tôi đã chạy một mạch thẳng ra bãi biển, dù tôi đoán là chiếc xuồng sẽ đợi ở đâu đó gần con lạch vì thủy triều lên sớm nhất ở đó. Chắc chiếc xuồng đã rời bến vài phút trước khi mụ đàn bà kia bắt đầu hét lên.”

Vài phút trước khi mụ đàn bà bắt đầu hét lên! Thế thì hy vọng của Chauvelin không hề hão huyền. Scarlet Pimpernel có thể đã tẩu tán nhóm trốn chạy đi trước bằng xuồng, nhưng bản thân hắn thì chưa kịp xuống xuồng; hắn vẫn còn ở trên bờ, và mọi ngả đường đều có lính tuần tra chặt chẽ. Dù sao đi nữa, mọi chuyện vẫn chưa hoàn toàn mất kiểm soát, và sẽ không thất bại chừng nào tên người Anh trơ tráo ấy vẫn còn đặt chân trên đất Pháp.

“Mang đèn vào đây!” Hắn hối hả ra lệnh rồi bước ngược vào trong lán.

Viên trung sĩ xách đèn bước theo, và hai kẻ cùng nhau khám xét căn phòng nhỏ: chỉ bằng một cái đảo mắt nhanh chóng, Chauvelin đã ghi nhận mọi thứ bên trong: cái vạc đặt sát một lỗ hổng trên tường, bên trong còn vương lại vài mẩu than hồng sắp tắt, dăm chiếc ghế đẩu bị lật nhác như thể vừa trải qua một cuộc tháo chạy vội vã, rồi đến ngư cụ cùng lưới đánh cá của lão ngư dân vứt xó một góc, và bên cạnh đó là một vật nhỏ màu trắng.

“Nhặt cái đó lên,” Chauvelin ra lệnh cho viên trung sĩ, chỉ tay về phía mảnh giấy trắng, “rồi mang lại đây cho tao.”

Đó là một mẩu giấy nhàu nát, rõ ràng đã bị nhóm trốn chạy bỏ quên trong lúc hoảng hốt tẩu thoát. Viên trung sĩ, vốn đang nơm nớp trước cơn thịnh nộ và vẻ sốt sược thấy rõ của vị đặc phái viên, nhặt mảnh giấy lên và cung kính đưa cho Chauvelin.

“Đọc đi, trung sĩ,” hắn cộc lốc bảo.

“Nó gần như không đọc nổi, thưa đồng chí... chữ viết ngoằn ngoèo tệ hại...”

“Tao bảo mày đọc cơ mà,” Chauvelin hằn học nhắc lại.

Dưới ánh đèn lồng, viên trung sĩ bắt đầu đánh vần mấy dòng chữ viết vội vàng nguệch ngoạc.

“‘Tôi không thể đến thẳng chỗ các anh mà không liều lĩnh đặt tính mạng các anh vào vòng nguy hiểm cũng như làm hỏng việc giải cứu. Khi nhận được thư này, hãy đợi hai phút, sau đó rón rén bò ra khỏi lán từng người một, quặt gấp sang trái và cẩn thận trượt xuống vách đá; cứ bám sát bên trái cho đến khi tới mảng đá đầu tiên nhô ra biển—phía sau nó, ở chỗ con lạch, chiếc xuồng đang đợi các anh—hãy huýt sáo một tiếng dài và sắc—nó sẽ ghé vào—trèo lên xuồng—người của tôi sẽ chèo đưa các anh ra tàu buồm, rồi từ đó về Anh quốc an toàn—khi đã lên tàu Day Dream, hãy sai người chèo xuồng quay lại đón tôi, bảo với thuộc hạ của tôi rằng tôi sẽ có mặt ở con lạch nằm trên đường thẳng đối diện quán “Chat Gris” gần Calais. Bọn họ biết chỗ đó. Tôi sẽ có mặt ở đó sớm nhất có thể—họ phải đợi tôi ở khoảng cách an toàn ngoài khơi cho đến khi nghe thấy tín hiệu quen thuộc. Đừng chậm trễ—và phải tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ dẫn này.’”

“Rồi có cả chữ ký ở dưới nữa, thưa đồng chí,” viên trung sĩ nói thêm khi trao trả mảnh giấy cho Chauvelin.

Nhưng vị đặc phái viên không đợi thêm một giây nào nữa. Một câu trong bức thư nguệch ngoạc hệ trọng ấy đã lọt vào tai hắn. “Tôi sẽ có mặt ở con lạch nằm trên đường thẳng đối diện quán ‘Chat Gris’ gần Calais”: câu nói đó rất có thể sẽ mang lại chiến thắng cho hắn.

“Đứa nào trong chúng mày rành vùng bờ biển này nhất?” hắn quát lớn vào mặt đám lính vừa lũ lượt kéo nhau quay về sau cuộc truy đuổi công cốc và đang đứng tụm lại quanh túp lán.

“Tôi thưa đồng chí,” một tên bước lên, “tôi sinh ra ở Calais và thuộc làu từng hòn đá trên vách đá này.”

“Có một con lạch nằm thẳng hướng với quán ‘Chat Gris’ phải không?”

“Có chứ, thưa đồng chí. Tôi biết rõ chỗ đó lắm.”

“Gã người Anh đang hy vọng tới được con lạch đó. Hắn không rành từng hòn đá ở vách đá này, hắn có thể đi đường vòng xa hơn, và dù thế nào hắn cũng sẽ đi rất cẩn trọng vì sợ mấy toán tuần tra. Dù sao thì vẫn còn cơ hội tóm được hắn. Thưởng một ngàn franc cho tên nào đến được con lạch đó trước gã chân dài người Anh.”

“Tôi biết một lối tắt cắt ngang qua vách đá,” tên lính hô lên, rồi với một tiếng hò reo đầy phấn khích, hắn lao đi, bám sát gót là các đồng đội.

Chỉ trong chốc lát, tiếng bước chân chạy thình thịch của bọn chúng đã nhỏ dần rồi mất hút trong khoảng không xa xăm. Chauvelin đứng lắng nghe thêm chốc lát; lời hứa về khoản tiền thưởng đang chắp cánh cho đám lính nước Cộng hòa. Ánh lửa căm hờn và sự háo hức chờ đón chiến thắng lại bừng sáng trên khuôn mặt hắn.

Đứng sát bên hắn, Desgas vẫn im lặng vô cảm chờ những mệnh lệnh tiếp theo, trong khi hai tên lính đang quỳ bên thân hình bất động của Marguerite. Chauvelin liếc viên thư ký của mình một cái sắc lẹm. Kế hoạch được tính toán kỹ lưỡng của hắn đã thất bại, kết cục phía trước thì mịt mờ khó đoán; khả năng Scarlet Pimpernel tẩu thoát thành công vẫn còn rất lớn, và Chauvelin, với cơn thịnh nộ vô lý thỉnh thoảng lại bùng phát trong những con người cứng rắn, đang chực chờ trút giận lên đầu bất cứ kẻ nào.

Đám lính đang giữ chặt Marguerite gí xuống đất, dù tội nghiệp thay, người phụ nữ ấy chẳng hề giằng co lấy nửa nhịp. Giới hạn chịu đựng của cơ thể cuối cùng đã sụp đổ hoàn toàn, và cô nằm đó ngất lịm: đôi mắt viền những quầng thâm tím tái tố cáo những đêm dài mất ngủ, mái tóc bết bát ẩm ướt rũ rượi quanh vầng trán, đôi môi hé mở theo một đường cong sắc nhọn biểu thị nỗi đau đớn về thể xác.

Người phụ nữ thông minh nhất châu Âu, quý cô lịch lãm và thời thượng Lady Blakeney—từng khiến giới thượng lưu London lóa mắt bởi nhan sắc, sự thông minh và lối sống xa hoa của mình—giờ đây trông thật thảm hại và đáng thương xiết bao trong hình hài một người đàn bà kiệt quệ và đau khổ, cảnh tượng ấy đủ sức lay động bất cứ ai, trừ trái tim băng giá và ngập tràn hận thù của kẻ thù đang cay đắng vì thất bại.

“Canh giữ một ả đàn bà đã gần chết thì ích gì,” hắn bĩu môi nói với đám lính, “trong khi tụi mày lại để cho năm gã đàn bàu khỏe mạnh nhăn răng trốn mất.”

Đám lính răm rắp đứng bật dậy.

“Tốt hơn là tụi mày nên tìm lại lối mòn đó cho tao, cả cỗ xe bò hỏng hóc mà chúng ta bỏ lại trên đường nữa.”

Rồi bỗng nhiên, một ý tưởng lóe lên trong đầu hắn.

“À suýt quên! Lão Do Thái đâu rồi?”

“Ở ngay gần đây thôi, thưa đồng chí,” Desgas đáp; “tôi đã nhét giẻ bị miệng và trói quặt chân lão lại theo đúng lệnh của đồng chí.”

Từ góc khuất ngay gần đó, một tiếng rên rỉ thảm thiết lọt vào tai Chauvelin. Hắn bước theo viên thư ký dẫn đường ra phía hông túp lán, nơi hậu duệ tội nghiệp của tổ phụ Israel đang nằm sõng soài tuyệt vọng, đôi chân bị trói nghiến và cái miệng bị nhét giẻ chặt cứng.

Dưới ánh trăng bạc, khuôn mặt lão tái mét vì kinh hoàng: đôi mắt mở trừng trừng đờ đẫn, toàn thân run lẩy bẩy như thể đang lên cơn sốt rét, trong khi một tiếng kêu cứu mỏng manh rỉ ra từ đôi môi không còn giọt máu. Đoạn dây thừng ban đầu vốn được quấn quanh vai và tay lão nay đã tuột ra, nằm thành một đống lùng nhùng quanh người, nhưng lão dường như chẳng hề hay biết gì, bởi lão không hề nhúc nhích dù chỉ một chút khỏi nơi mà Desgas đã ném lão từ trước: y như một con gà bị dọa cho khiếp đảm đang dán mắt vào vạch phấn trắng trên mặt bàn, tưởng đó là thứ bùa chú làm tê liệt mọi cử động.

“Lôi cái giống hèn nhát đó lại đây,” Chauvelin ra lệnh.

Hắn thực sự đang vô cùng bực bội, và vì chẳng có lý do hợp lý nào để trút giận lên đầu đám lính vừa tuân lệnh hắn một cách quá mức răm rắp, hắn cảm thấy hậu duệ của dòng giống bị khinh miệt kia sẽ là một cái bao cát lý tưởng để xả giận. Mang sẵn thái độ khinh miệt đặc trưng của người Pháp dành cho người Do Thái—thái độ vẫn tồn tại qua hàng thế kỷ cho đến tận ngày nay—hắn không thèm bước lại gần, mà cất giọng mỉa mai cay độc khi lão già khốn khổ được hai tên lính lôi xề xệch ra giữa khoảng sáng của ánh trăng,—

“Tao đoán là với tư cách một tên Do Thái, mày có trí nhớ rất tốt đối với những vụ làm ăn chứ nhỉ?”

“Trả lời tao!” hắn lại quát lên khi thấy lão Do Thái run rẩy đôi môi dường như quá sợ hãi đến mức không cất nổi lời.

“D . . . dạ thưa ngài...” gã khốn khổ lắp bắp.

“Thế thì mày còn nhớ vụ giao dịch mà mày và tao đã thỏa thuận ở Calais chứ, khi mày nhận lời đuổi theo Reuben Goldstein, con ngựa của nó và người bạn gã cao kều của tao ấy? Hử?”

“Nh . . . nhưng . . . thưa ngài...”

“Chẳng có ‘nhưng’ nhị gì sất. Tao hỏi mày có nhớ không?”

“C . . . c . . . có . . . thưa ngài!”

“Nội dung giao kèo thế nào?”

Một sự im lặng chết chóc bao trùm. Gã đàn án bất hạnh đảo mắt nhìn những vách đá sừng sững, vầng trăng trên cao, những khuôn mặt lầm lì của đám lính, và thậm chí cả người phụ nữ tội nghiệp đang nằm bất động dưới đất, nhưng lão không thốt thêm lời nào.

“Mày có chịu mở miệng ra không?” Chauvelin gầm lên đe dọa.

Gã khốn tội nghiệp cố gắng mở miệng thật, nhưng rõ ràng lão không tài nào nói nổi. Dẫu vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, lão thừa biết mình sẽ phải đối mặt với thứ gì từ con người lạnh lùng tàn nhẫn trước mặt.

“Thưa ngài...” lão van nài.

“Vì cái sự sợ hãi của mày đã làm tê liệt cả cái lưỡi rồi,” Chauvelin mỉa mai, “thì để tao làm tươi lại trí nhớ cho mày. Giữa chúng ta đã thỏa thuận rằng, nếu mày bắt kịp người bạn gã cao kều của tao trước khi hắn đến được nơi này, mày sẽ nhận được mười đồng tiền vàng.”

Một tiếng rên rỉ trầm đục thoát ra từ đôi môi đang run lập cập của lão Do Thái.

“Nhưng,” Chauvelin cố tình nhấn mạnh từng tiếng, “nếu mày dám thất hứa với tao, mày sẽ được nếm một trận đòn nên thân, đủ để mày khắc cốt ghi tâm không bao giờ dám nói dối nữa.”

“Tôi không hề nuốt lời, thưa ngài; tôi xin thề bằng tổ phụ Abraham...”

“Và bằng cả mấy vị tổ phụ khác nữa chứ gì, tao biết rồi. Đáng tiếc là theo đức tin của chúng mày, các vị ấy hiện vẫn còn đang dưới Âm phủ, và chẳng giúp ích gì được cho mày trong rắc rối này đâu. Giờ thì, mày đã không hoàn thành phần giao ước của mình, nhưng tao thì sẵn sàng thực hiện phần của tao. Nào,” hắn quay sang đám lính, ra lệnh, “tháo cái khóa thắt lưng da của tụi mày ra phang cho tên Do Thái khốn kiếp này một trận.”

Khi đám lính răm rắp tháo những chiếc thắt lưng da bản lớn ra, lão Do Thái bật lên một tiếng hú chắc chắn đủ sức gọi tất cả các bậc tổ phụ từ Âm phủ hay bất cứ đâu chui lên để bảo vệ con cháu mình khỏi sự tàn bạo của viên quan chức người Pháp này.

“Tao nghĩ tao có thể tin tưởng tụi mày, các đồng chí,” Chauvelin cười ác độc, “sẽ cho tên già nói dối này một trận đòn nhớ đời nhất từ trước tới nay. Nhưng đừng có đánh chết hắn đấy,” hắn khô khan dặn thêm.

“Chúng tôi tuân lệnh, thưa đồng chí,” đám lính đáp lại vẫn với vẻ mặt điềm nhiên như cục đất.

Hắn chẳng buồn đứng lại xem lệnh của mình được thi hành ra sao: hắn biết mình hoàn toàn có thể tin tưởng đám lính này—vẫn đang ấm ức vì những lời quở trách của hắn—sẽ không nương tay chút nào khi được toàn quyền tẩn cho một kẻ thứ ba một trận nhừ tử.

“Khi nào cái gã hèn nhát vụng về đó ăn đủ đòn roi xong,” hắn bảo Desgas, “bọn lính có thể dẫn đường cho chúng ta ra chỗ chiếc xe bò, rồi cắt một đứa đánh xe chở chúng ta về lại Calais. Lão Do Thái và mụ đàn bà đó cứ tự lo cho nhau đi,” hắn cục cằn nói thêm, “cho đến khi chúng ta cử người đến đón bọn chúng vào sáng mai. Với tình trạng hiện giờ, chúng chẳng thể trốn đi đâu xa được đâu, và chúng ta thì không có thời gian để bận tâm đến chúng lúc này.”

Chauvelin chưa hề từ bỏ hy vọng. Hắn biết thuộc hạ của mình đang bị kích thích bởi khoản tiền thưởng. Gã Scarlet Pimpernel đầy bí ẩn và táo bạo ấy, đơn thương độc mã mà lại bị ba mươi tên lính bám sát nút, thì đời nào có chuyện trốn thoát được lần thứ hai.

Dù vậy, lòng hắn lúc này ít nhiều đã lung lay: sự liều lĩnh của tên người Anh đã làm hắn bẽ mặt một lần, trong khi sự ngu ngốc đần độn của đám lính cùng sự nhúng tay của một ả đàn bà đã lật ngược ván bài đang nắm chắc phần thắng trong tay hắn thành một ván thua trông thấy. Giá như Marguerite không ngáng đường, giá như đám lính có nổi một hạt giống thông minh trong đầu, giá như... đó là một chữ “nếu” dài dằng dặc, và Chauvelin đứng lặng người trong giây lát, trút cả một tràng nguyền rủa dài dặc, cay đắng lên đầu hơn ba mươi con người. Cảnh vật thiên nhiên thơ mộng, tĩnh mịch, dịu êm, ánh trăng sáng rực, mặt biển lấp lánh sắc bạc đang thì thầm về vẻ đẹp và sự bình yên, thế mà Chauvelin lại nguyền rủa thiên nhiên, nguyền rủa cả đàn ông lẫn đàn bà, và trên hết, hắn nguyền rủa toàn bộ mấy gã chân dài hay chõ mũi vào chuyện người khác bằng một lời nguyền rủa vĩ đại.

Tiếng gào thét của lão Do Thái đằng sau đang chịu trận đòn roi bỗng mang lại chút hơi ấm dễ chịu cho cõi lòng đang oằn mình vì lòng thù hận của hắn. Hắn mỉm cười. Ý nghĩ rằng ít ra cũng có một con người nào đó lúc này đang chịu chung cảnh ngộ bất đắc chí với nhân loại giống như hắn khiến tâm trí hắn thấy dễ chịu phần nào.

Hắn quay người liếc nhìn lần cuối cùng vùng bờ biển hẻo lánh nơi tọa lạc căn lán gỗ giờ đang ngập chìm trong ánh trăng, nơi diễn ra màn thất bại thảm hại nhất trong lịch sử hoạt động của một yếu nhân thuộc Ủy ban Cứu quốc.

Dựa vào một vảng đá, trên chiếc giường đá lạnh ngắt, là thân hình bất tỉnh nhân sự của Marguerite Blakeney, trong khi cách đó không xa, lão Do Thái xấu số đang hứng chịu lên tấm lưng rộng những đòn roi từ hai chiếc thắt lưng da dày cộp, vung lên bởi những cánh tay vạm vỡ dũng mãnh của hai tên lính nước Cộng hòa. Tiếng tru tréo của Benjamin Rosenbaum chói lọi đến mức có thể đánh thức cả người chết dậy khỏi nấm mồ. Chắc chắn tiếng thét ấy đã làm bừng tỉnh đám hải âu đang say ngủ, khiến chúng phải cúi xuống nhìn với đầy vẻ tò mò trước màn hành xử của các chúa tể muôn loài.

“Thế là đủ rồi,” Chauvelin ra lệnh khi tiếng rên rỉ của lão Do Thái đã yếu dần và gã khốn dường như ngất lịm đi, “chúng ta không muốn giết hắn đâu.”

Đám lính răm rắp thắt lại thắt lưng, một tên còn cố tình đá bồi một cú thật ác ý sang bên cạnh người lão Do Thái.

“Cứ để hắn nằm đấy,” Chauvelin bảo, “rồi mau chóng dẫn đường ra chỗ chiếc xe bò đi. Tao theo sau đây.”

Hắn bước lại chỗ Marguerite đang nằm và cúi xuống nhìn gương mặt cô. Rõ ràng cô đã tỉnh lại và đang cố gắng nhấc người dậy trong vô vọng. Đôi mắt xanh to tròn đang nhìn khung cảnh ngập tràn ánh trăng xung quanh với vẻ hoảng sợ tột độ; ánh nhìn ấy dừng lại với sự hỗn độn giữa kinh hãi và thương hại trên người lão Do Thái, kẻ có số phận xui xẻo cùng những tiếng hú hoang dại đã đánh thức các giác quan vừa hồi phục của cô; rồi cô bắt gặp Chauvelin trong bộ trang phục tối màu lịch sự, trông chẳng hề nhàu nhĩ chút nào sau những biến động dữ dội vừa qua trong suốt mấy tiếng đồng hồ qua. Hắn đang mỉm cười mỉa mai, đôi mắt nhợt nhạt cúi xuống nhìn cô với vẻ cay độc tột cùng.

Với điệu bộ lịch thiệp giả tạo, hắn cúi người nâng bàn tay lạnh giá của cô lên chạm nhẹ vào môi, khiến một luồng ghê tởm khôn tả chạy dọc qua cơ thể kiệt quệ của Marguerite.

“Ta rất tiếc, thưa quý cô xinh đẹp,” hắn cất giọng ngọt ngào nhất có thể, “vì những hoàn cảnh nằm ngoài tầm kiểm soát buộc ta phải để cô lại đây lúc này. Nhưng ta ra đi với sự yên tâm rằng ta không hề bỏ mặc cô bơ vơ không người bảo vệ. Bạn Benjamin của chúng ta đây, dẫu có hơi tả tơi một chút vào lúc này, nhưng ta chắc chắn sẽ là một người bảo vệ hào hiệp cho dung nhan ngọc ngà của cô. Lúc bình minh ta sẽ cử người đến đón cô; từ giờ đến lúc đó, ta tin chắc cô sẽ thấy lão là một kẻ tận tụy, dẫu có hơi chậm chạp một chút.”

Marguerite chỉ đủ sức quay mặt đi chỗ khác. Trái tim cô đã vỡ nát vì nỗi đau đớn tột cùng. Một ý nghĩ kinh hoàng vừa quay trở lại tâm trí cô cùng với ý thức đang dần khôi phục: “Chuyện gì đã xảy ra với Percy?—Còn Armand thì sao?”

Cô hoàn toàn mù tịt về những gì diễn ra sau khi cô nghe thấy khúc ca tươi vui “Chúa cứu Quốc vương” mà cô vẫninh đinh đó chính là khúc tráng ca tử biệt.

“Bản thân ta,” Chauvelin kết luận, “giờ đây phải vô cùng miễn cưỡng rời xa cô. Tạm biệt nhé, quý cô xinh đẹp. Mong rằng chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau ở London. Ta có được gặp cô trong bữa tiệc ngoài vườn của Hoàng tử xứ Wales không?—Không ư?—À vạn sự tùy duyên vậy, tạm biệt nhé!—Nhờ cô chuyển lời hỏi thăm của ta tới ngài Sir Percy Blakeney nhé.”

Và kèm theo một nụ cười mỉa mai cùng cái cúi đầu lịch sự cuối cùng, hắn hôn tay cô lần nữa rồi biến mất theo lối mòn sau lưng đám lính, theo sau là viên Desgas điềm tĩnh đến lạnh lùng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.