Hoa Bìm Đỏ

Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Hội Hoa Phượng Đỏ

❊ ❊ ❊

Tất cả bọn họ trông giống như một nhóm người vui vẻ, thậm chí hạnh phúc, khi quây quần bên bàn ăn; Sir Andrew Ffoulkes và Lord Antony Dewhurst, hai điển hình người Anh khôi ngô, xuất thân danh giá và lịch thiệp của năm hồng ân 1792 ấy, cùng vị bá tước phu nhân quý tộc người Pháp cùng hai đứa con, những kẻ vừa thoát khỏi hiểm nguy khốn cùng và cuối cùng tìm được chốn dung thân an toàn trên bờ biển nước Anh che chở.

Ở góc phòng, hai kẻ lạ mặt hình như đã chơi xong ván bài; một kẻ đứng dậy, quay lưng về phía hội người vui vẻ bên bàn ăn, thận trọng chỉnh lại chiếc áo choàng dài có ba lớp cổ lớn của mình. Khi làm vậy, hắn đưa mắt liếc nhanh một vòng xung quanh. Mọi người đều đang bận rộn cười nói chuyện trò, và hắn thì thầm câu “Mọi thứ an toàn!”; lập tức, người đồng hành với sự nhanh nhẹn vốn có do luyện tập lâu ngày, quỵ xuống trong chớp mắt, rồi trượt không một tiếng động dưới chiếc ghế băng bằng gỗ sồi. Kẻ lạ mặt bấy giờ cất tiếng lớn “Chúc ngủ ngon,” rồi lặng lẽ bước ra khỏi phòng giải khát.

Không một ai ở bàn ăn tối chú ý đến động tác kỳ lạ và lặng lẽ này, nhưng khi kẻ lạ mặt cuối cùng khép lại cánh cửa phòng giải khát phía sau hắn, tất cả bọn họ đều vô thức thở phào nhẹ nhõm.

“Cuối cùng thì cũng được một mình!” Lord Antony vui vẻ nói.

Bấy giờ, vị phó bá tước trẻ tuổi de Tournay đứng dậy, tay cầm ly, với vẻ điệu đà duyên dáng đặc trưng của thời đại, chàng nâng cao ly lên và nói bằng thứ tiếng Anh bập bẹ,—

“Chúc sức khỏe Quốc vương George Đệ tam của nước Anh. Xin Chúa phù hộ cho ngài vì lòng hiếu khách dành cho tất cả chúng tôi, những kẻ lưu vong tội nghiệp đến từ nước Pháp.”

“Đức Vua Bệ hạ!” Lord Antony và Sir Andrew đồng thanh hưởng ứng khi họ nâng ly chúc tụng một cách trung thành.

“Chúc sức khỏe Quốc vương Louis của nước Pháp,” Sir Andrew nói thêm vẻ trang nghiêm. “Xin Chúa phù hộ cho ngài, và ban cho ngài chiến thắng trước kẻ thù.”

Mọi người đều đứng dậy và lặng lẽ uống cạn ly chúc mừng này. Số phận của vị vua bất hạnh nước Pháp, lúc bấy giờ đang là tù nhân của chính thần dân mình, dường như phủ lên cả vẻ mặt dễ chịu của ông chủ Jellyband một nỗi u sầu.

“Và chúc M. le Comte de Tournay de Basserive,” Lord Antony vui vẻ nói. “Mong chúng ta có thể chào đón ngài ấy ở nước Anh trước khi nhiều ngày trôi qua.”

“Ồ, thưa Ngài,” Bá tước phu nhân nói, trong lúc bàn tay hơi run rẩy đưa ly lên môi, “Tôi hầu như không dám hy vọng.”

Nhưng Lord Antony đã múc súp xong, và trong vài khoảnh khắc tiếp theo, mọi cuộc trò chuyện đều ngừng lại trong khi Jellyband cùng Sally chuyền những chiếc đĩa đi quanh và mọi người bắt đầu ăn.

“Thưa phu nhân, quả thật!” Lord Antony một lúc sau mới lên tiếng, “lời chúc của tôi không phải là lời nói suông; khi thấy chính bà, tiểu thư Suzanne và bạn tôi là phó bá tước đã đến nước Anh an toàn lúc này, chắc chắn bà phải cảm thấy yên tâm về số phận của Monsieur le Comte.”

“Ồ, thưa Ngài,” Bá tước phu nhân đáp lại với một tiếng thở dài nặng nề, “Tôi phó mặc nơi Chúa—tôi chỉ có thể cầu nguyện—và hy vọng…”

“Vâng, thưa Phu nhân!” Sir Andrew Ffoulkes xen vào lúc này, “phó mặc nơi Chúa là điều hiển nhiên, nhưng cũng hãy tin tưởng một chút vào những người bạn Anh của bà, những kẻ đã thề sẽ đưa Bá tước vượt qua eo biển Manche bình an, giống như họ đã đưa bà đến đây ngày hôm nay vậy.”

“Thật vậy, thật vậy, thưa Ngài,” bà đáp, “tôi hoàn toàn đặt trọn niềm tin vào ngài và những người bạn của ngài. Tôi đảm bảo với ngài rằng danh tiếng của các ngài đã lan truyền khắp cả nước Pháp. Cách mà một số người bạn của tôi trốn thoát khỏi nanh vuốt của tòa án cách mạng khủng khiếp kia quả thực là một phép màu—và tất cả đều do các ngài và bạn bè của các ngài thực hiện—”

“Chúng tôi chỉ là những kẻ sai tay, thưa Bá tước phu nhân…”

“Nhưng chồng tôi, thưa Ngài,” Bá tước phu nhân nói, trong khi những giọt nước mắt chưa rơi dường như làm nghẹn ngào giọng nói của bà, “ông ấy đang gặp nguy hiểm chết người... Tôi sẽ không bao giờ rời bỏ ông ấy, chỉ vì... tôi còn có những đứa con... Tôi đã dằn vặt giữa bổn phận đối với ông ấy và với chúng. Chúng từ chối đi nếu không có tôi... và ngài cùng những người bạn của ngài đã bảo đảm với tôi một cách đầy trang trọng rằng chồng tôi sẽ được an toàn. Nhưng, ồ! Giờ đây khi tôi đã ở đây—giữa tất cả các ngài—trên đất nước Anh tự do và tươi đẹp này—tôi lại nghĩ về ông ấy, đang bôn ba chạy trốn để giữ lấy mạng sống, bị săn lùng như một con thú tội nghiệp... trong tình cảnh hiểm nghèo nhường ấy... À! Lẽ ra tôi không nên rời bỏ ông ấy... Lẽ ra tôi không nên rời bỏ ông ấy!...”

Người phụ nữ tội nghiệp đã hoàn toàn suy sụp; sự mệt mỏi, đau khổ và xúc động đã đè bẹp vẻ uy nghi, cứng cỏi của giới quý tộc ở bà. Nữ bá tước nhỏ lệ trong lặng lẽ, trong khi Suzanne chạy lại gần và cố gắng hôn lên những giọt nước mắt của mẹ.

Lord Antony và Sir Andrew không nói gì để ngắt lời Bá tước phu nhân khi bà đang nói. Không có nghi ngờ gì rằng họ vô cùng đồng cảm với bà; chính sự im lặng của họ đã minh chứng cho điều đó—nhưng trong mọi thế kỷ, và kể từ khi nước Anh vẫn luôn là chính nó, một người đàn ông Anh quốc luôn cảm thấy có phần e thẹn trước sự xúc động và lòng trắc ẩn của chính mình. Thế là hai chàng trai chẳng nói gì, bận rộn tìm cách che giấu cảm xúc của bản thân, để rồi rốt cuộc trông ngốc nghếch đến không thể tả.

“Còn phần con, thưa Ngài,” Suzanne đột ngột lên tiếng, khi con bé nhìn qua mái tóc xoăn nâu dày để hướng về phía Sir Andrew, “con hoàn toàn tin tưởng ngài, và con biết ngài sẽ đưa người cha thân yêu của con đến nước Anh bình an, giống như cách ngài đã đưa chúng con đến đây ngày hôm nay vậy.”

Câu nói ấy được thốt lên với sự tự tin vô bờ, chứa đựng niềm hy vọng và đức tin sâu sắc đến mức dường như có phép màu làm khô đi những giọt nước mắt của người mẹ, đồng thời mang lại nụ cười trên môi tất cả mọi người.

“Không! Người làm ta hổ thẹn đấy, thưa tiểu thư,” Sir Andrew đáp lại; “dù mạng sống của tôi luôn sẵn sàng phục vụ ngài, tôi cũng chỉ là một công cụ hèn mọn trong tay vị lãnh tụ vĩ đại của chúng tôi, chính ngài là người đã tổ chức và thực hiện cuộc trốn chạy cho các ngài.”

Chàng đã nói với rất nhiều sự nhiệt thành và hăng hái khiến ánh mắt Suzanne dán chặt vào chàng với vẻ kinh ngạc không hề giấu giếm.

“Lãnh tụ của các ngài, thưa Ngài?” Bá tước phu nhân hào hứng hỏi. “À! Chắc chắn rồi, các ngài phải có một người lãnh đạo chứ. Và tôi đã không nghĩ đến điều đó trước đây! Nhưng xin hãy nói cho tôi biết ông ấy đang ở đâu? Tôi phải đến gặp ông ấy ngay lập tức, và tôi cùng các con tôi phải quỳ sụp dưới chân ông ấy, để tạ ơn vì tất cả những gì ông ấy đã làm cho chúng tôi.”

“Khổ nỗi, thưa Phu nhân!” Lord Antony nói, “điều đó là không thể.”

“Không thể?—Tại sao chứ?”

“Bởi vì Hoa Phượng Đỏ hoạt động trong bóng tối, và danh tính của ngài chỉ được biết đến dưới một lời thề giữ bí mật thiêng liêng bởi những người cận cận phục tùng ngài.”

“Hoa Phượng Đỏ?” Suzanne bật cười vui vẻ nói. “Cha chả! Quả là một cái tên kỳ quặc! Hoa Phượng Đỏ là gì vậy, thưa Ngài?”

Con bé nhìn Sir Andrew với sự tò mò háo hức. Gương mặt người thanh niên gần như biến đổi hoàn toàn. Đôi mắt chàng ánh lên vẻ nhiệt thành; sự sùng bái anh hùng, tình yêu và lòng ngưỡng mộ đối với vị thủ lĩnh dường như bừng sáng rực rỡ trên khuôn mặt chàng.

“Hoa Phượng Đỏ, thưa tiểu thư,” cuối cùng chàng cất lời, “là tên của một loài hoa dại bé nhỏ ven đường ở nước Anh; nhưng đó cũng là cái tên được chọn để che giấu danh tính của người đàn ông ưu tú và dũng cảm nhất trên toàn thế giới, để ngài có thể hoàn thành tốt hơn sứ mệnh cao cả mà ngài đã tự đặt ra cho chính mình.”

“À, phải rồi,” vị phó bá tước trẻ tuổi xen vào, “tôi đã từng nghe người ta nhắc đến Hoa Phượng Đỏ này. Một bông hoa nhỏ—màu đỏ?—phải! Người ta đồn ở Paris rằng mỗi khi một kẻ bảo hoàng trốn thoát sang Anh thì con quỷ Foucquier-Tinville đó, viên Công tố viên tối cao, lại nhận được một mảnh giấy có vẽ hình bông hoa nhỏ ấy bằng màu đỏ... Có đúng vậy không?”

“Đúng vậy, chính xác là thế,” Lord Antony tán thành.

“Vậy thì hôm nay hắn sẽ nhận được một mảnh giấy như thế rồi chứ?”

“Chắc chắn rồi.”

“ Ồ! Tôi tự hỏi không biết hắn sẽ nói gì nhỉ!” Suzanne vui vẻ nói. “Tôi nghe nói hình vẽ bông hoa đỏ nhỏ bé ấy là thứ duy nhất có thể khiến hắn sợ hãi.”

“Thế thì, chao ôi,” Sir Andrew nói, “hắn sẽ còn nhiều cơ hội để nghiên cứu hình dáng của bông hoa đỏ nhỏ bé ấy lắm.”

“Ôi, thưa Ngài,” Bá tước phu nhân thở dài, “tất cả những điều này nghe giống như một câu chuyện tiểu thuyết, và tôi không thể hiểu nổi.”

“Sao bà lại phải cố hiểu làm gì, thưa Phu nhân?”

“Nhưng, xin hãy nói cho tôi biết, tại sao lãnh đạo của các ngài—tại sao tất cả các ngài—lại phải bỏ tiền túi ra và mạo hiểm cả tính mạng của mình—vì chính mạng sống của các ngài là thứ đang bị đe dọa, thưa các ngài, khi các ngài đặt chân lên nước Pháp—và tất cả chỉ vì chúng tôi, những người đàn ông và phụ nữ Pháp, những người chẳng có họ hàng thân thích gì với các ngài?”

“Trò tiêu khiển thôi, thưa Bá tước phu nhân, chỉ là trò tiêu khiển thôi,” Lord Antony khẳng định bằng chất giọng hào sảng, vang dội và dễ chịu của mình; “như bà biết đấy, chúng tôi là một quốc gia của những người ham thích thể thao, và hiện nay mốt thời thượng là giật lấy con thỏ ra khỏi kẽ răng của bầy chó săn.”

“Ồ, không, không, không chỉ là trò tiêu khiển, thưa Ngài... tôi chắc chắn rằng các ngài có một động cơ cao cả hơn cho công việc tốt đẹp mà các ngài đang làm.”

“Thưa phu nhân, thế thì tôi rất mong bà tìm ra nó đấy... còn về phần tôi, tôi xin thề, tôi rất thích trò chơi này, vì đây là môn thể thao tuyệt vời nhất mà tôi từng được tham gia.—Những phen chết hụt trong gang tấc... những rủi ro điên rồ!—Bắt lấy nó nào!—Và chúng ta lên đường thôi!”

Nhưng Bá tước phu nhân lắc đầu, vẫn đầy vẻ hoài nghi. Đối với bà, thật là vô lý khi những thanh niên này cùng vị lãnh đạo vĩ đại của họ, tất cả đều giàu có, có lẽ xuất thân danh giá và còn trẻ tuổi, lại chẳng vì động cơ nào khác ngoài thể thao mà lại đi lao đầu vào những hiểm nguy khủng khiếp, điều mà bà thừa biết là họ vẫn đang làm không ngừng nghỉ. Quốc tịch của họ, một khi đã đặt chân lên nước Pháp, sẽ chẳng thể trở thành một thứ bùa hộ mệnh nào cho họ cả. Bất cứ ai bị phát hiện che giấu hoặc hỗ trợ những kẻ bảo hoàng tình nghi đều sẽ bị kết án tàn nhẫn và xử tử nhanh chóng, bất kể quốc tịch của kẻ đó là gì. Và băng nhóm thanh niên Anh quốc này, theo chính những gì bà được biết, đã dám cả gan đương đầu với hội đồng cách mạng vô cảm và khát máu ngay giữa lòng thủ đô Paris, đồng thời giật lại những nạn nhân đang chờ lên đoạn đầu đài gần như từ ngay dưới chân máy chém. Rùng mình một cái, bà hồi tưởng lại những sự kiện trong mấy ngày qua, cuộc trốn chạy khỏi Paris cùng hai đứa con, cả ba mẹ con đều ẩn nấp bên dưới chiếc mui của một cỗ xe kẽo kẹt, nằm giữa đống củ cải và bắp cải, không dám thở mạnh trong lúc đám đông gào thét “Đem lũ quý tộc đi treo cổ trụ đèn!” ở cái Cửa ải phía Tây đáng sợ ấy.

Tất cả mọi chuyện đã diễn ra một cách thật kỳ diệu; bà và chồng mình đã nhận thức được rằng họ đã bị đưa vào danh sách “những kẻ tình nghi”, điều đó có nghĩa là việc họ bị đưa ra xét xử và lãnh án tử chỉ còn là vấn đề tính bằng ngày—hoặc có lẽ bằng giờ.

Rồi niềm hy vọng cứu rỗi xuất hiện; bức thư bí ẩn, được ký tên bằng biểu tượng màu đỏ khó hiểu; những chỉ dẫn rõ ràng, dứt khoát; cuộc chia ly với Comte de Tournay khiến trái tim người vợ tội nghiệp như xé làm đôi; niềm hy vọng được đoàn tụ; chuyến trốn chạy cùng hai đứa con; cỗ xe có mui; mụ m phù thủy gớm ghiếc đang đánh xe, trông giống như một con ác quỷ đáng sợ với chiến lợi phẩm ghê rợn trên cán roi!

Bá tước phu nhân đảo mắt nhìn quanh quán trọ cổ kính mang đậm phong cách Anh quốc, sự bình yên của vùng đất tự do tôn giáo và dân sự này, và bà nhắm nghiền mắt lại để xua đi hình ảnh ám ảnh về Cửa ải phía Tây đó, cũng như đám đông đang tháo chạy trong hoảng loạn khi mụ phù thủy già nhắc đến dịch bệnh.

Khoảnh khắc nào bên dưới cỗ xe ấy bà cũng thấp thỏm chờ đợi bị nhận diện, bị bắt giữ, bản thân cùng các con bị đem ra xét xử rồi kết án, thế mà những chàng thanh niên Anh quốc này, dưới sự dẫn dắt của vị thủ lĩnh dũng cảm và bí ẩn của họ, đã đánh đổi cả mạng sống để cứu tất cả bọn họ, giống như họ đã từng cứu hàng chục sinh mạng vô tội khác.

Và tất cả chỉ vì thể thao thôi sao? Thật không thể tin nổi! Ánh mắt Suzanne khi tìm kiếm ánh mắt của Sir Andrew đã nói lên rõ ràng với chàng rằng con bé cho rằng dẫu sao thì ngợi ca thay, chàng đã giải cứu đồng loại của mình khỏi cái chết kinh hoàng và bất công, thông qua một động cơ cao cả và thanh tao hơn nhiều so với những gì người bạn của chàng muốn bà tin tưởng.

“Có bao nhiêu người trong liên minh dũng cảm của các ngài vậy, thưa Ngài?” con bé rụt rè hỏi.

“Tính cả thảy là hai mươi người, thưa tiểu thư,” chàng đáp, “một người ra lệnh, và mười chín người tuân theo. Tất cả chúng tôi đều là người Anh, và đều cùng thề chung một chí hướng—tuân lệnh thủ lĩnh của mình và giải cứu những người vô tội.”

“Xin Chúa phù hộ cho tất cả các ngài, thưa các vị,” Bá tước phu nhân thành khẩn nói.

“Ngài vẫn luôn làm thế từ trước đến nay, thưa Phu nhân.”

“Thật tuyệt vời đối với tôi, thật là kỳ diệu!—Khi tất cả các ngài lại vô cùng dũng cảm, hết lòng vì đồng loại của mình—vậy mà các ngài lại là người Anh!—còn ở nước Pháp, sự phản bội ngập tràn—tất cả đều được che đậy dưới danh nghĩa tự do và bác ái.”

“Thậm chí phụ nữ ở Pháp còn tỏ ra cay độc với chúng tôi, những kẻ quý tộc, hơn cả đàn ông,” vị phó bá tước thở dài nói.

“À, vâng,” Bá tước phu nhân nói thêm, trong khi một cái nhìn khinh miệt kiêu kỳ và sự cay đắng tột cùng thoáng qua trong đôi mắt u sầu của bà. “Lấy ví dụ như ả phụ nữ đó, Marguerite St. Just chẳng hạn. Ả ta đã tố cáo Hầu tước de St. Cyr cùng toàn bộ gia đình ông ấy trước tòa án khủng bố rùng rợn kia.”

“Marguerite St. Just?” Lord Antony lên tiếng, trong khi liếc một cái thật nhanh và đầy lo lắng sang phía Sir Andrew. “Marguerite St. Just?—Chắc là... có nhầm lẫn gì chăng...”

“Đúng vậy!” Bá tước phu nhân đáp, “chắc chắn là các ngài biết ả ta rồi. Ả từng là một nữ diễn viên hàng đầu của nhà hát Comédie Française, và gần đây ả đã kết hôn với một người đàn ông Anh. Chắc chắn các ngài phải biết ả chứ—”

“Biết ả ấy á?” Lord Antony nói. “Biết Lady Blakeney—người phụ nữ sành điệu nhất ở London—vợ của người đàn ông giàu có nhất nước Anh ư? Tất nhiên là tất cả chúng tôi đều biết Lady Blakeney rồi.”

“Ả ta từng là bạn học của con ở tu viện ở Paris,” Suzanne chen vào, “và chúng con đã cùng nhau sang Anh để học ngôn ngữ của các ngài. Con rất quý Marguerite, và con không thể tin rằng ả lại có thể làm điều gì đó độc ác đến vậy.”

“Quả thực điều đó nghe có vẻ khó tin,” Sir Andrew nói. “Bà nói rằng chính ả đã tố cáo Hầu tước de St. Cyr thật sao? Tại sao ả lại có thể làm một chuyện như thế chứ? Chắc chắn phải có sự nhầm lẫn nào đó—”

“Không thể có sự nhầm lẫn nào đâu, thưa Ngài,” Bá tước phu nhân lạnh lùng đáp lại. “Em trai của Marguerite St. Just là một người theo phái cộng hòa khét tiếng. Từng có dăm ba lời bàn tán về mối thù gia tộc giữa hắn và người anh họ của tôi, Hầu tước de St. Cyr. Gia đình nhà St. Just chỉ là những kẻ hạ lưu, và chính quyền cộng hòa thì sử dụng rất nhiều gián điệp. Tôi đảm bảo với các ngài là không có sự nhầm lẫn nào đâu... Các ngài chưa từng nghe câu chuyện này sao?”

“Thưa phu nhân, quả thực tôi có nghe vài lời đồn đại mơ hồ về nó, nhưng ở nước Anh thì chẳng ai thèm tin cả... Sir Percy Blakeney, chồng của ả, là một người rất giàu có, có địa vị xã hội cao, là bạn thân thiết của Hoàng tử xứ Wales... và Lady Blakeney chính là người dẫn dắt cả phong cách thời trang lẫn giới thượng lưu ở London.”

“Điều đó có thể đúng, thưa Ngài, và tất nhiên chúng tôi sẽ sống một cuộc sống rất yên tĩnh ở nước Anh, nhưng tôi cầu xin Chúa rằng khi tôi còn ở trên đất nước tươi đẹp này, tôi sẽ không bao giờ phải chạm mặt Marguerite St. Just.”

Bầu không khí ảm đạm quen thuộc dường như đã bao trùm lấy nhóm người vui vẻ đang tụ tập quanh bàn ăn. Suzanne trông có vẻ buồn bã và im lặng; Sir Andrew bất an nghịch chiếc nĩa trong tay, trong khi Bá tước phu nhân, được bọc trong bộ giáp tấm bằng những định kiến quý tộc của mình, ngồi cứng ngắc và bất động trên chiếc ghế tựa lưng thẳng băng. Riêng Lord Antony, trông anh vô cùng khó chịu, và liếc mắt một hoặc hai lần đầy lo âu về phía Jellyband, người cũng đang mang vẻ mặt khó chịu chẳng kém gì anh.

“Anh dự đoán lúc mấy giờ thì Sir Percy và Lady Blakeney sẽ tới?” anh cố gắng thì thầm mà không để ai chú ý với chủ quán.

“Bất cứ lúc nào cũng được, thưa ngài,” Jellyband thì thầm đáp lại.

Ngay lúc anh vừa dứt lời, người ta nghe thấy tiếng lộc cộc từ đằng xa của một cỗ xe ngựa đang đến gần; tiếng động ngày càng lớn hơn, một vài tiếng hò hét bắt đầu rõ mồn một, rồi đến tiếng móng ngựa khua lục cục trên những viên đá cuội lồi lõm, và ngay khoảnh khắc tiếp theo, một cậu bé làm chuồng ngựa đã mở toang cửa phòng giải khát và hớt hải lao vào.

“Sir Percy Blakeney và phu nhân của ngài đây rồi,” cậu ta hét lên hết cỡ bằng giọng tao táp của mình, “họ vừa mới đến nơi.”

Và cùng với tiếng hô hoán lớn hơn nữa, tiếng lục cục của dây cương và tiếng móng sắt nện trên nền đá, một cỗ xe ngựa tráng lệ, được kéo bởi bốn con tuấn mã màu hạt dẻ tuyệt đẹp, đã dừng lại ngay bên ngoài hiên của quán “The Fisherman’s Rest”.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.