Noel ở đây thật buồn! Trời lạnh quá, thiên hạ ở hết trong nhà, ấm cúng gia đình, không rồng rắn kéo nhau ra đường như ở VN.
Những Noel vui tươi ấm áp với T, P đâu rồi?
Hôm qua tình cờ mình được nghe lại Yesterday once more[1] của Carpenters:
Lookin’ back on how it was in years gone by
And the good times that I had
Makes today seem rather sad
So much has changed
It was songs of love that I would sing to then
And I’d memorize each word
Those old melodies
Still sound so good to me
As they melt the years away...[2]
Nghe giọng hát của một người đã mất, cảm giác rờn rợn thật khó tả. Thương tiếc và càng thấy mọi thứ như đều là hư ảo. Cái còn lại vẫn chỉ là những bài hát. Chúng luôn trả lại cho mình những ngày hôm qua tươi đẹp, không phai.
Nhân ngày Giáng sinh, con xin cầu nguyện Ơn trên cho con được gặp lại người con thương, dù chỉ một lần...
(nhật ký của Thương)
Mấy trăm học viên trong đồng phục màu xanh đứng theo đội hình đều tăm tắp trước sân cờ. Tiếng loa vang vang:
– Xin chào gia đình!
– Xin chào! - Tất cả học viên cùng hô to đáp lại.
– Buổi giao ban sáng bắt đầu! Mời gia đình cùng đọc bài triết lý theo tôi:
Chào một ngày mới, chào cuộc đời mới đang bắt đầu...
Mấy trăm con người cùng cất tiếng đọc theo, chậm rãi, răm rắp:
Chào một ngày mới, chào cuộc đời mới đang bắt đầu...
Và cứ thế, từng câu một:
Quá khứ tối tăm sẽ qua đi, những tháng năm dài u mê
Chìm sâu trong vũng lầy ma túy
Chúng ta nhận thức rằng
Ma túy là hiểm họa của xã hội
Là nguyên nhân tha hóa con người
Là khởi đầu của mọi tội lỗi
Dù hàng trăm người trong chúng ta là hàng trăm cách biệt
Nhưng chúng ta cùng chung một mục đích
Đến đây để làm lại cuộc đời môi
Hãy quên đi những thói hư tật xấu
Cùng gạt bỏ những cám dỗ xấu xa
Xin cảm ơn gia đình đã không bỏ rơi ta lúc khó khăn
Xin cảm ơn bạn bè đã mở rộng vòng tay yêu thương thân ái
Xin cảm ơn nhà trường đã cho ta niềm tin, nghị lực và cuộc sống mới
Chào một ngày mới, chào cuộc đời mới đang bắt đầu...
Bài đọc trầm bổng và du dương, nghe như một hồi kinh nhật tụng. Khách lạ đến thăm ngôi trường này sẽ không dễ hiểu bài triết lý giao ban sáng này có ý nghĩa thế nào. Nhưng với từng học viên xuất thân là con nghiện, việc cả tập thể bắt đầu một ngày học tập và lao động bằng cách đọc to bài triết lý tạo nên một cảm xúc thấm thía cho từng người. Bài đọc từng ngày từng ngày nhắc nhở họ sự nguy hại của ma túy, mục đích của họ khi đến đây, để từ đó có thêm quyết tâm làm lại cuộc đời.
Tác giả bài triết lý này chính là Tiềm và hai thành viên khác trong ban giám hiệu trường. Về lại Thanh niên xung phong, do quá trình làm việc tại trường Sơn Lâm trước đây, anh được đưa ngay về làm hiệu trưởng một trong năm trường giáo dục lao động mà thành phố vừa giao Lực lượng, để cai nghiện và dạy nghề cho những thanh niên nghiện ngập. Số người nghiện trẻ ngày càng tăng lên, kéo theo đủ thứ tệ nạn, khiến thành phố buộc phải tiến hành biện pháp cưỡng bách tập trung cai nghiện này.
Năm ngôi trường được đặt ở các tỉnh Nam tây nguyên trong vùng rừng núi hiểm trở, cách ly người nghiện với cuộc sống phức tạp bên ngoài. Các nhu cầu được đơn giản hóa tối đa. Đói ăn khát uống, điều trị y tế, rèn luyện thể lực, lao động nông nghiệp, học nghề... Về tinh thần thì có sách báo, truyền hình, ca hát... Buổi giao ban sáng hàng ngày là một sáng kiến của Tiềm, vận dụng kinh nghiệm hai năm ở Sơn Lâm cùng mấy năm hướng đạo thời trung học. Sau bài triết lý có ý nghĩa ám thị, là nhận xét công việc hôm qua, phê bình, biểu dương trước cờ, phân công việc làm hôm nay, một đại diện học viên đọc thông điệp trình bày suy nghĩ của mình về một câu thành ngữ do ban giám hiệu gợi ý, kết thúc là một đại diện học viên khác lên hát một bài tặng mọi người bắt đầu vào một ngày mới. Âm nhạc không chỉ để giải trí. Nó còn có khả năng chia sẻ, cảm hóa, cứu rỗi... Như người lên hát ngày hôm nay. Anh bày tỏ rất nhiều tâm tư của mình trong từng lời ca:
Qua bao ghềnh thác nhọc nhằn, càng vững chân trên đường đời
Qua bao buồn tủi thầm mang, càng quý hơn một tấm lòng
Từng ước mơ từng nỗi vui từng chắt chiu xin hiến cuộc đời...[3]
Đứng trong văn phòng nhìn ra sân cờ, Tiềm luôn thấy bần thần. Những người trẻ kia, không ít là con nhà khá giả, tử tế, sinh viên học sinh, viên chức, chỉ vì ma túy mà thân tàn ma dại, bỏ học, mất việc, xa gia đình, tương lai vô định. Cuộc đời họ sắp tới tùy thuộc việc họ dứt bỏ được tai ách tự chuốc hay không. Và, dẫu được vậy thì họ vẫn phải bắt đầu lại tất cả.
Rồi Tiềm bỗng tự cám cảnh, mình đã sung sướng gì hơn? Bao nhiêu năm nay, đời anh cứ gắn liền với doanh trại. Những ngày về thành phố hay thủ đô đi học, sống với gia đình ba, đi làm xí nghiệp..., cộng hết lại, chỉ được vài năm.
Vậy mà những ngày sống ở rừng núi xa xôi luôn là những ngày Tiềm thấy thoải mái, yên lòng nhứt. Tiềm không hiểu tại sao mình lại thích hợp với cảnh sống tập thể cực khổ như vậy. Có người tìm hạnh phúc trong đua chen danh vọng. Có người tìm trong tích góp tài sản. Nhưng cũng có người chỉ cần được bình yên, thanh thản. Có thể vì bản tính Tiềm thích sống đơn giản, cảm thấy dễ chịu khi gần gũi thiên nhiên trong lành, xa rời chốn phồn hoa ồn ào bụi bặm. Cũng có thể sự vất vả khi cùng làm một việc gì đó dễ kết nối con người với nhau, tạo nên một tình cảm sâu đậm thiêng liêng như máu thịt? Cứ đi xa là nhớ, lại muốn quay về. Tình đồng đội thắm thiết, chính là cái được lớn nhất, quí nhất của người Thanh niên xung phong. Rất nhiều năm sau, cho đến hết đời, ai đã ở Thanh niên xung phong đều không bao giờ quên những đồng đội đã có chung bao ngày hồn nhiên chịu đựng gian khó. Cực khổ hết mức, thậm chí cực khổ một cách hoang phí. Xây dựng nhiều công trình rồi bỏ phế. Hàng triệu triệu giọt mồ hôi của họ có khi chỉ để làm bậc thang tiến thân cho vài người. Họ vẫn không một lời than thở, âm thầm làm công việc khiêm tốn hàng ngày, chia sẻ nhau niềm hãnh diện nhỏ nhoi đã có mặt trong một đội ngũ từng được xưng tụng là niềm tự hào của thành phố.
Tiềm còn ngại về thành phố vì ở nơi đó anh có quá nhiêu kỷ niệm với Thương, cứ về tới là nhớ, nhớ không chịu nổi. Rồi nhớ mẹ, nhớ anh Cao. Anh muốn cắt đứt luôn mảng đời xưa cũ ấy bằng cách không quay về nữa. Sẽ quên dần. Sẽ chôn sâu tất cả vào quá khứ.
Khi các học viên giao ban xong, tỏa ra đi lao động thì điện thoại từ cổng bảo vệ gọi vào nói có khách xin gặp Tiềm. Tiềm vừa “Alô Tiềm nghe” thì bên kia đầu dây đã vang lên một tràng cười sảng khoái và giọng nói không thể nhầm lẫn dù bao nhiêu năm:
– Nị Tiềm hả? Phẻ không? Trốn ai lên rừng ở vậy? Làm ngộ đi tìm muốn chết!
Tiềm sững sờ không tin vào tai mình:
– “Ông thầy”? Trời đất! Bao nhiêu năm rồi! Sao “ông thầy” biết tôi ở đây? Có việc gì mà lặn lội lên đây tìm tôi vậy?
Tiềm vừa nói vừa nghĩ ngay đến một tình cảnh thường gặp. Ban giám hiệu thường vẫn phải tiếp những vị khách không mời là phụ huynh học viên, lên năn nỉ xin cho con em mình hồi gia. Hay “Ông thầy” có con cháu đang ở trường này? Anh thận trọng nhắc lại:
– Có việc gì, “Ông thầy” cứ nói?
– Pộ phải có việc gì mới gặp cán pộ được sao? Pạn pè cũ nhớ nhau đi thăm không được à? Có cho gặp hay không thì nói? - Giọng “Ông thầy” có vẻ giận dỗi.
– Rồi, rồi... Đừng giận, đừng giận mà... Mời “Ông thầy” vào...
Tiềm đặt máy xuống, nhớ lại ngay những bữa ăn ngon ngày xưa ở quán “Ông thầy” với hai bạn. Những món “quái đản” tuyệt chiêu nhớ đời. Vụ ông có hai bà vợ hòa thuận chung nhà. Vụ ông thà dẹp quán chứ không vào thương nghiệp hợp tác xã... Bấy lâu nay ông ở đâu, làm gì? Tiềm cứ ngỡ ông đã đi vượt biên hoặc trở về cố quốc hồi chiến tranh phía Bắc rồi chứ? Mà sao ông lại biết Tiềm ở đây?
Tiềm bồi hồi và chợt thấy nhớ Thương quay quắt. Mười mấy năm trước, qua Phong, anh biết Thương đã cùng gia đình vượt biên sang Mỹ trong thời gian anh ở Hà Nội, đi mà không chào hai người bạn thân nhất lấy một lời, rồi từ ấy đến nay không một lần liên lạc. Phong cũng chỉ hay biết khi lâu quá không nhận thư từ gì của Thương bèn chạy tới nhà, thấy đã đổi chủ, rồi được hàng xóm cho hay. “Không có gì và không một ai...” vậy mà... Nhưng Tiềm không bao giờ trách Thương. Mỗi người một hoàn cảnh. Hẳn Thương đã gặp một chuyện gì đau lòng hoặc bất khả kháng lắm mới có thể dứt bỏ bạn bè như vậy. Adieu, sois heureuse[4]. Chỉ cầu mong sao cho Thương được hạnh phúc. Tất cả những điều gì tệ hại, xui rủi nhất, xin hãy dành cho Tiềm.
Tiềm nôn nóng ra đứng ở cửa phòng đứng nhìn về hướng cổng trường, chờ đợi.
Từ xa đã thấy “Ông thầy” xấp xải đi vào, hai tay xách hai giỏ đồ nặng trĩu. Ông mập hơn ngày xưa, cười toe toét khi nhận ra Tiềm đang đứng chờ. Đến nơi, ông buông hai giỏ đồ xuống, vuốt mồ hôi trán, nhìn Tiềm:
– Nị y như hồi xưa nghe, không khác gì hết! Tóc pạc chút thôi nhưng vẫn đẹp chai con bà Hai! Lúc này ngộ mập quá, đi pộ một chút đã mệt dzồi!
Tiềm cười:
– “Ông thầy” vô đây, ngồi quạt cho mát!
“Ông thầy” xua tay:
– Còn một người nữa, không chịu đi pộ, đòi nị phải chạy Honda ra chở kìa!
– Ai vậy “Ông thầy”? - Tiềm ngạc nhiên.
– Cứ ra đi thì piết! - “Ông thầy” ra vẻ bí mật.
Tiềm hồi hộp lên xe chạy ra cổng. Từ xa, anh run lên khi thấy một hình bóng quen thuộc đang đứng trong phòng bảo vệ nhìn về phía anh. Người khách đeo kính đen to bản che gần hết nửa khuôn mặt, nhưng mái tóc cắt ngắn kia và vóc dáng ấy đã bao năm in sâu trong tâm trí Tiềm, làm sao anh không thể nhận ra là ai?
Thương giở kính, nhìn sững Tiềm. Tóc anh đã lốm đốm bạc, người gầy guộc, gương mặt đầy nét mệt mỏi, phong trần. Chắc hẳn Tiềm đã trải qua biết bao nhọc nhằn, vất vả trong suốt thời gian nàng xa anh.
Tiềm lập cập gạt chống xe, bước tới. Hai người bồi hồi nhìn nhau, cái nhìn dài đăng đẵng bao năm, chất chứa bao nhớ thương kìm nén. Không một lời nào được nói ra vì hai trái tim đã nuốt hết chúng, nghẹn đập trong hai lồng ngực...
* * *
Đây là lần về nước đầu tiên của Thương.
Tình cờ cùng con đi ăn tại một nhà hàng Hoa - Việt ở LA, thấy trên menu có vài món rất quen, Thương gọi thử và ngạc nhiên gặp lại hương vị quen thuộc ngày nào. Không để nàng băn khoăn lâu, một nhân viên của quán bưng ra một dĩa gan cháy tỏi thơm phức:
– Xin mời cô Thương món “quái đản”!
Thương đứng bật dậy nhìn sững về hướng bếp. “Ông thầy” bước ra, cười ha hả:
– Hẩy, cái nị... Pất ngờ quá! Hai mươi mấy năm dzồi! Con trai nị phải không? Cao lớn quá! Con tên gì?
Con Thương lễ phép:
– Dạ con tên Tiềm.
– Cái gì? Nị Tiềm? - “Ông thầy” trợn mắt, rồi quay qua Thương - Ngộ vẫn còn nhớ nị Tiềm mà. Pa của thằng này?
Thương lắc đầu:
– Ba cháu mất rồi, từ khi cháu chưa ra đời... Tiềm và Phong vẫn còn ở Việt Nam “Ông thầy” ơi.
Từ đó thỉnh thoảng cuối tuần Tiềm ở trường về, Thương lại cùng con đến ăn ở quán “Ông thầy”. Ông đưa hai bà vợ qua Mỹ trót lọt, tiếp tục chung sống, giữ vững danh hiệu “Ông thầy” và vẫn theo nghề nhà hàng. Nấu ăn ngon, được cộng đồng người Việt ủng hộ, sống khỏe. Nhưng khi Việt Nam bắt đầu cho mở cửa làm ăn tự do, “Ông thầy” ôm mộng về nước mở một nhà hàng lớn cho thỏa chí. Điều ông lo ngại nhất là ông không thể bỏ nhà hàng bên Mỹ để về Sài Gòn ở hẳn, và cũng không còn thân nhân nào ở trong nước để có thể giao việc quản lý. Hai bà vợ thì không bà nào chịu ở lại đó một mình nếu không có ông.
Không lâu sau “ngày cưới” của Daniel và Thương, ông nội mất, để lại một phần gia tài đáng kể cho anh. Anh về Coldwater Canyon ở LA mua một căn nhà, mời mẹ con Thương về ở chung. Thương đang ở nhà thuê, nhất định đòi phải gửi tiền nhà cho Daniel. Từ chối không được, Daniel đành nhận. Mỗi người một phòng riêng, việc ai nấy làm, chuyện cơm nước và dọn dẹp nhà cửa hàng ngày cả hai chia nhau lo, cuối tuần cả nhà lại đưa nhau đi chơi đi ăn, cũng “hạnh phúc” như mọi gia đình khác. Daniel vẫn tự do có những “hoạt động bí mật” riêng ở bên ngoài, trong khi Thương thoát hẳn cảnh bị cánh đàn ông theo đuổi. Được vài năm, ba của Daniel tuyên bố về vườn, gọi Daniel về quản chuyện làm ăn của gia đình. Daniel nói lời chia tay với Thương, sau khi lẳng lặng chuyển hết quyền sở hữu căn nhà ở LA cho nàng. Anh cũng đã làm xong thủ tục nhận Tiềm là con, bảo đảm tương lai cho thằng bé. Lúc Thương gặp lại “Ông thầy”, Tiềm vừa học xong ở Harvard Westlake, một trong những trường trung học tốt nhất LA, và vào nội trú ở USC, cũng là một đại học tư danh tiếng của Cali, học về quản trị kinh doanh theo ý muốn của Daniel để sau này có thể phụ giúp anh. Sinh ra từ một tai ương, nhưng thằng bé có vẻ đã được một ngôi sao may mắn chiếu mạng.
Thương mừng rỡ xin được hùn làm nhà hàng ở Sài Gòn với “Ông thầy” để làm người quản lý thường trực. Chắc chắn nàng sẽ được gặp lại Tiềm, Phong. Và còn có thể thực hiện được một ý định khác: quay lại Đức Hội để làm một điều gì ý nghĩa cho ngôi trường nơi nàng từng dạy, gặp lại đám học sinh cũ và giúp đỡ phần nào những em còn quá nghèo.
Càng ngày Thương càng thấy Mỹ không phải đất sống của mình. Ở đâu thì cũng phải làm việc vất vả, thậm chí ở Mỹ có khi còn cực hơn, nhưng việc bị phân biệt đối xử và sự quá khác biệt về văn hóa, nếp sống, nếp nghĩ... mới làm cho cuộc sống tha hương trở thành gánh nặng không kham nổi với nhiều người. Mấy năm ngắn ngủi ở Đức Hội đã tạo nhiều thay đổi trong Thương. Cô giáo trẻ Sài Gòn thấu hiểu hơn những mảng đời cùng khổ quanh mình, sống trải lòng hơn. Từ lúc nào không rõ Thương đã cảm được hạnh phúc đôi khi chính là cho đi chứ không chỉ nhận lại. Dù những năm sau này nhờ có Daniel mà đời sống của Thương đã dễ chịu hơn nhiều, nhưng không hiểu sao nàng cứ nhớ Việt Nam quay quắt, nhớ Sài Gòn, nhớ Đức Hội, và nhớ nhiều nhất là hình bóng của một người. Anh cứ dai dẳng ở lì trong tim Thương, hằn nét không phai.
Những đêm mưa ở Đức Hội trước kia, trời lạnh buốt, sàn gỗ cứng ngắc, không sao ngủ được, Thương cứ nằm vùi khóc mỗi khi nghe Thanh Tuyền hát Lạnh trọn đêm mưa từ chiếc cassette cũ mèm của cô đồng nghiệp. Giờ chân ấm nệm êm ở Mỹ, Thương cũng chảy nước mắt ướt đầm cả gối, không sao ngủ được khi nghe Khánh Ly cất tiếng:
Để đêm đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy mình vừa trở lại quê hương
Đã gặp người một trời yêu thương
Cho lòng thêm chút ấm
Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau
Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau
Tình chia trong đêm sầu...[5]
Trong những ngày dài cô đơn ở Mỹ, quen dần với kiểu sống vì mình trước đã, Thương nhận ra với tình yêu, người ta không được im lặng, thụ động, chờ đợi. Phải biết bày tỏ, giành lấy, bảo vệ. Mỗi người chỉ có một cuộc đời. Và cuộc đời ấy lại rất ngắn. Mình không biết sống vì hạnh phúc đời mình thì sẽ không ai làm điều đó cho mình.
Thương quyết định không trốn bạn nữa. Nàng viết thư nối liên lạc với Phong, xin lỗi đã bỏ trốn bạn bè vì gặp nhiều chuyện đau lòng, rồi hỏi thăm về Phong, về Tiềm. Lá thư đến Vì Dân đúng vào lúc Phong vừa đi Thụy Điển học khóa báo chí trong nửa năm. Thương đợi mãi vẫn không có hồi âm, dù đã gửi thêm vài lá về tòa soạn và cả về nhà Phong. Tiềm còn vô phương hơn! Thương chỉ còn biết chờ đợi một chuyến về nước, tìm gặp hai bạn. Cuộc tái ngộ “Ông thầy” đã khiến Thương cương quyết trở về hơn.
Thương và “Ông thầy” về Sài Gòn, chuẩn bị cho việc mở nhà hàng. Hai mươi năm trở lại, thành phố thay đổi nhiều quá, rộng hơn, đẹp hơn, đông hơn, công trình xây dựng khắp nơi, xe cộ tấp nập chóng mặt. Những tòa nhà cao ngất, những nhà hàng, tiệm cà phê sang trọng, lộng lẫy, đông nghìn nghịt... Tiềm đang ở đâu trong hàng triệu người này? Hay vẫn còn lang thang đâu đó trên rừng trên núi?
Qua tòa soạn, Thương biết Phong còn làm ở báo Vì Dân, nhưng nàng quyết định sẽ tìm Tiềm trước rồi mới gặp Phong sau. Không hiểu sao có gì đó cứ lợn cợn trong Thương về Phong. Cuộc sống hai người dường như đã quá khác biệt. Rồi người vợ của Phong đầy cảnh giác với Thương, một mình Thương đến, ngại lắm.
Thương nhớ mãi ánh mắt sắc lạnh của Minh hôm đám cưới, khi Phong giới thiệu hai người với nhau:
– A, Thương... Ba người bạn thân nhau nhất đời “không có gì và không một ai...” đây mà! Bạn đẹp như thế này, hèn gì...
Thương không hề biết cuộc hôn nhân của Phong đã sớm tan vỡ, một phần vì Phong vẫn yêu nàng.
“Ông thầy” được cử gọi điện thoại cho Phong để hỏi về Tiềm, giấu biệt chuyện cùng về với Thương. Có địa chỉ trong tay, lập tức Thương và “Ông thầy” lên trường tìm Tiềm.
Tiềm mời hai người ra căn-tin hàn huyên. Bao nhiêu là chuyện phải kể cho nhau nghe, suốt từ bấy đến nay. Thương nghe nhói ở tim khi thấy tay Tiềm đã đeo nhẫn cưới. Chuyện bình thường thôi mà. Nàng đã lẳng lặng bỏ đi suốt bao nhiêu năm và giữa hai người có gì với nhau đâu? Chủ nhân chiếc nhẫn chắc là Mai thôi, cô đã yêu Tiềm biết bao! Bao nhiêu năm, Thương vẫn nhớ mãi hình ảnh Mai ngồi đút cháo cho Tiềm, rồi Mai âm thầm cưỡi voi đi theo hai người vào rừng. Mỗi lần nhớ lại, Thương cứ ân hận việc mình đã từ chối ngồi với Mai trong chuyến về. Hẳn cô ấy đã đau lòng lắm.
– Cô y tá Mai sao rồi Tiềm? Bà xã của bồ phải không?
– Không - Tiềm lắc đầu - Mai đã có chồng là một bác sĩ ở thành phố. Hai con rồi.
– À... Hai người chia tay, từ đó sống hạnh phúc - Thương nói và ba người cùng cười. Một điều tưởng nghịch lý nhưng thường có lý của nó.
Tiềm ngập ngừng chút rồi nói:
– Trưa nay tôi mời “Ông thầy” và Thương về nhà ăn bữa cơm gia đình nhé? Đạm bạc thôi. Sẵn giới thiệu bà xã luôn. Bọn tôi mới cưới hai năm nay. Vừa có đứa con gái.
Thương nhận lời mời của Tiềm trong khi “Ông thầy” im lặng nhìn nàng, cố giấu tiếng thở dài.
Hân, vợ Tiềm, là một học viên của trường. Xinh đẹp, con nhà khá giả, buồn cảnh cha mẹ chia tay, cô sa vào con đường ăn chơi và bị nghiện ma túy khi đang học đại học. Bị kiểm tra khi đang chơi thuốc cùng bạn bè ở một phòng karaoke sau nửa đêm, đúng lúc thành phố đang có chiến dịch thu gom người nghiện, cô được đưa lên trường của Tiềm. Hân hối hận và chuyển biến nhanh chỉ sau một thời gian ngắn. Sau hai năm, cô học viên hát hay và rất tích cực trong các sinh hoạt văn nghệ ấy đã yêu... cán bộ Tiềm, người được rất nhiều học viên thương quý vì tính hòa đồng và luôn chịu khó trò chuyện, lắng nghe tâm sự của từng người.
Trước Hân, Tiềm cũng đã có vài mối quan hệ tình cảm lớt phớt từ bạn bè giới thiệu, rồi chóng vánh chia tay vì anh không yêu ai đủ để có thể tiến xa hơn, và họ cũng chẳng thấy có tương lai gì nếu đến với anh. Với Hân, vẫn lại là từ một tình yêu âm nhạc. Trường có ban nhạc được tập họp từ học viên - không ít nghệ sĩ bị dính vào ma túy - nhưng trong một lần thi văn nghệ ở trường, Hân xin được hát riêng với tiếng đàn của Tiềm mà cô từng nghe và bị lôi cuốn. Hôm đó Hân đã hát xuất thần bài Thuyền và biển[6]. Khi hát Nếu từ giã thuyền rồi, biển chỉ còn sóng vỗ. Nếu phải cách xa anh, em chỉ còn bão tố, cô nhìn anh nồng nàn. Với Hân, Tiềm lại được sống lại cảm giác phiêu diêu ngày nào khi đệm cho Thương hát. Sau khi tập dợt kỹ hơn, Thuyền và biển liên tiếp đoạt giải nhất cuộc thi văn nghệ ở Lực lượng thanh niên xung phong rồi Hội diễn văn nghệ quần chúng thành phố. Khi nhận quyết định cho hồi gia, Hân trình bày nguyện vọng được ở lại trường, vì “ở nhà buồn lắm” và sợ “về đời” sẽ lại sa ngã trước bao cám dỗ. Nhưng trong đôi mắt cô, còn có niềm riêng Nếu phải cách xa anh, em chỉ còn bão tố... Thương thì cứ xa mịt mù, không tăm vết. Một năm sau, đám cưới của họ diễn ra thật gọn nhẹ tại trường, có gia đình hai bên và cả Phong lên tham dự.
Hân còn quá trẻ so với Thương. Cô dè dặt chào:
– Em chào chị. Em có nghe anh Tiềm nói nhiều về chị, về anh Phong.
Con bé trên tay Hân thật xinh xắn, có đôi mắt sâu hút giống ba. Thương nựng đôi má phính của bé:
– Con tên gì?
Hân vui vẻ:
– Cháu tên Ái.
Thương sững người, nhẹ liếc qua Tiềm. Anh không tránh ánh mắt của nàng.
Sau bữa cơm, Thương mời Tiềm và Hân cùng đi luôn lên Đức Trọng để nàng về thăm lại trường cũ, rồi về thành phố tái ngộ với Phong. Hân từ chối nói con còn nhỏ quá, Tiềm cứ đi với bạn.
Đức Hội thay đổi quá nhiều so với ngày buồn Thương đi. Nhà cửa nhiều hơn, đẹp hơn, người cũng đông hơn. Điện đã được kéo về. Hai ngôi trường đều được xây lại rộng rãi, nhiều phòng ốc tường vôi, mái tôn. Trường cấp 1 mang tên mới, Lù Tráng Dìn, tên thầy hiệu trưởng đầu tiên đã mất. Thương bồi hồi đứng nhìn, thấy lại hình ảnh một cô giáo trẻ ngày nào đứng giữa đám học trò nghèo chơi đùa giữa mặt sân lầm bụi. Thấy thầy Dìn cặm cụi trồng hoa, quét sân, chẻ củi. Thấy anh trưởng phòng giáo dục si tình chạy chiếc 67 bết bùn, chiếc túi xách trên vai thò ra bó hoa hồng đỏ... Cảnh cũ người xưa quá đỗi ngậm ngùi. Dù Thương đã đến đây trong một tâm trạng gần như bị ép buộc, giờ nhìn lại, không thể nói khác đó chính là những năm tháng sống đẹp nhất của đời nàng.
Thương chầm chậm bước vào trường, để mặc cho tim mình thổn thức với bao niềm nhớ.
Một tiếng kêu lớn vang lên từ một phòng học:
– Cô Thương!
Rồi một cô giáo chạy như bay ra chụp lấy tay Thương:
– Phải cô Thương không? Em nè! Hoa lớp trưởng nè cô!
Cô và trò mừng rỡ ôm nhau.
Suốt bao năm Hoa vẫn ở Đức Hội, có đi học sư phạm ở Đà Lạt vài năm rồi xin về trường, giờ làm hiệu phó. Cả ban giám hiệu nồng nhiệt chào đón Thương và đưa nàng đi thăm các phòng học. Vẫn còn khá nhiều học sinh ăn mặc lem luốc như ngày xưa. Hoa cho Thương biết số học sinh nghèo vẫn đông, hàng năm còn nhiều em bỏ học. Vài tuần về lại Việt Nam, Thương đã hiểu vẻ phồn thịnh ở các thành phố lớn chỉ là ảnh ảo, cứ ra tới vùng ven là lại thấy ngay cảnh nghèo khổ bủa vây. Thương càng quyết chí lập một quỹ học bổng mang tên thầy Dìn, để giúp các học sinh nghèo ở Đức Hội vượt khó.
Mộ Dìn nằm trên đồi, nhìn xuống hai ngôi trường ngày nào anh làm hiệu trưởng. Những bông hoa mười giờ rực đỏ trên ngôi mộ đất, cỏ được dọn sạch sẽ và có cả một bó cúc trắng vẫn còn tươi cắm trước bia. Hẳn anh vẫn còn sống trong tâm tưởng của các thầy cô ở Đức Hội. Trong khói hương nghi ngút, nước mắt Thương mặc sức tuôn trào.
Một mình trong phòng khách sạn đêm đó, Thương lấy cuốn nhật ký vàng úa ra, ngậm ngùi viết dòng cuối:
Mãi mãi là bạn thôi, T ơi!
Cuốn nhật ký nàng dành riêng để viết những suy nghĩ, nhớ nhung gửi Tiềm, suốt bao nhiêu năm luôn ở bên mình, giờ đây khép lại rồi. Cuốn nhật ký vô duyên hai lần Thương đem đi định đưa Tiềm đọc thì đều hai lần không thành.
❀ ❀ ❀
[1] Ca khúc của Jim Mundy và Peggy White, được trình bày bởi Karen Carpenter (1950-1983). Ca sĩ được ví có “giọng ca thiên thần” này đã mất vì bệnh biếng ăn sau khi theo một chế độ ăn kiêng triệt để.
[2] Em nhìn lại cuộc sống những năm qua. Và khoảng thời gian tươi đẹp em từng có. Khiến ngày hôm nay như buồn hơn. Khi đã có quá nhiều thay đổi. Nhưng vẫn còn những tình khúc em muốn hát. Em vẫn nhớ từng lời. Những giai điệu xưa cũ. Vẫn còn mê hoặc em. Như thể chúng đã xóa nhòa năm tháng.
[3] Ca khúc Ngọc trong đá của nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên.
[4] Vĩnh biệt, chúc hạnh phúc, ca khúc Pháp của Art Sullivan.
[5] Đêm nhớ về Sài Gòn, ca khúc của Trầm Tử Thiêng
[6] Nhạc Phan Huỳnh Điểu, phổ thơ Xuân Quỳnh.