Sao T có thể làm vậy được chứ? Đàn hát những bài nhạc đó! Bão nổi lên rồi, quét sạch ai? Quét anh Cao nổ tung trên trời? Quét ba mình vào trại giam không biết ngày về? Mình giận T ghê gớm.
Mình đã quyết định sẽ không đi với chú Việt. T vì mẹ, P cũng vì ba mẹ mà ở lại, chẳng lẽ mình bỏ mẹ lại một mình trong cảnh khổ đau này? Thương mẹ quá...
Sắp tới bọn mình sẽ thế nào đây? còn là bạn với nhau được không? Không có gì và không một ai... Nhưng T kiểu này chắc thế nào cũng thay đổi... còn mình thì làm sao sống được với chế độ này? Không đồng chí được đâu nha bồ T. Thương thì thương chứ không có chuyện đó đâu!
(nhật ký của Thương)
Một chiếc Jeep mui trần treo cờ xanh đỏ ngôi sao vàng ào ào chạy vào sân Học viện Quốc gia Hành chánh. Ngồi chen chúc trên xe có khoảng bảy, tám người mặc đồ đen và quân phục, tay thắt băng đỏ, cầm súng AK. Chừng chục chiếc Honda chạy theo sau, có lẽ của dân “Cách mạng 30”[1], mặt mũi ai nấy oai phong lẫm liệt. Đoàn xe lượn nửa vòng sân rồi dừng lại trước khu nhà chính.
Tiềm đứng tựa ban-công hành lang tầng trệt, lặng lẽ nhìn ra.
Học viện Quốc gia Hành chánh Tiềm đang theo học chuyên đào tạo công chức cao cấp cho chính quyền miền Nam, từ phó quận trưởng trở lên. Chính vì vậy mà một đơn vị của ủy ban Quân quản đã đến tiếp quản ngôi trường rất sớm và ra thông báo trên đài kêu gọi toàn bộ cán bộ công nhân viên, giáo sư và sinh viên đến trường trình diện.
Tiềm vào trường ghi tên và được yêu cầu hôm sau đến hội trường sớm. Một viên cán bộ gầy ốm có nước da xanh mét nhưng nói rất sung, phân tích tình hình đất nước mấy mươi năm qua. Đảng cộng sản lãnh đạo công cuộc đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ thần kỳ, sau đó tiếp tục chiến đấu kiên cường suốt 21 năm với đế quốc Mỹ... Rốt cục chính nghĩa đã thắng, đất nước tự do thống nhất. Cách mạng rất khoan hồng mở rộng vòng tay, từ nay mọi người hãy chung sức chung lòng dựng xây lại Tổ quốc đàng hoàng, to đẹp hơn. Ông nói sinh viên Quốc gia Hành chánh hãy mừng là còn đang đi học nên chưa có nợ máu với nhân dân. Nhưng phải nhớ mình vào học trường này chẳng khác nào người đang mài gươm dưới trăng[2], cần tự thay đổi triệt để mới hòa nhập được với cuộc sống mới... Những bài giảng chính trị kéo dài đến ngày thứ ba. Hôm nay, trước giờ giải lao, mọi người được thông báo từ mai ngôi trường này sẽ được giao cho Trường Đoàn Lý Tự Trọng. Lẽ dĩ nhiên trường bị giải tán, sinh viên ai về nhà nấy, nhưng các giáo sư vẫn phải hàng ngày tiếp tục vào khai báo quá trình cộng tác với chính quyền miền Nam...
Những người trên chiếc xe Jeep bước xuống và đi qua hành lang để vào văn phòng. Một người trong số đó chợt bước chậm lại nhìn sững Tiềm rồi đứng hẳn lại trước anh:
– Tiềm phải không?
Tiềm cũng đã nhận ra đó là Phước, bạn thân thời trung học của anh Cao. Phước thường đến nhà chơi, nhưng từ khi lên học đệ nhị thì “bày đặt tham gia xuống đường, biểu tình chống Mỹ” và ít ghé hẳn. Cho đến một đêm mưa gió cuối năm đệ nhất, anh đến xin ngủ nhờ với Cao rồi ra đi thật sớm. Sau này Cao mới biết hôm đó Phước bị lộ, đến nhà anh trốn cảnh sát để hôm sau vào chiến khu...
Tiềm cười gượng:
– Chào anh Phước. Coi anh lạ quá!
Phước quả khác hẳn ngày trước. Anh gầy rộc, da xám ngoét, mặc đồ đen quấn khăn rằn và đội nón tai bèo, chỉ có nụ cười rộng mở mới giúp Tiềm nhìn ra.
Phước cũng cười:
– Ở rừng ra mà... Em học ở đây à?
Tiềm gật đầu:
– Anh là cán bộ Trường Đoàn?
– Ừ... Anh Cao sao rồi em?
Tiềm ngần ngừ một chút:
– Anh Cao chết rồi!
– Chết? Tại sao lại chết?
Giọng Tiềm khô khốc:
– Anh Cao bị bắn rơi máy bay, hồi đầu năm...
Phước sững người, rồi nhớ ra:
– Anh có biết anh Cao đi không quân...
Anh đưa tay bóp nhẹ vai Tiềm:
– Anh thành thật chia buồn cùng gia đình. Anh sẽ đến thăm bác gái và thắp nhang cho Cao. Cao luôn là bạn anh. Nhà em vẫn ở chỗ cũ phải không?
Phước giữ lời, sáng hôm sau đến thăm mẹ Tiềm. Anh rủ Tiềm thay vì ngồi không ở nhà, hãy vào trường làm việc. Trường Đoàn sắp mở hàng loạt khóa học cho thanh niên các quận huyện vừa được tập hợp vào Hội liên hiệp thanh niên, khóa nào cũng vài trăm người. Trường đang rất cần người phục vụ các lớp học.
Sau khi Phước về, Tiềm hỏi ý mẹ. Bà kêu anh ngồi xuống một bên rồi ngước mắt nhìn lên bàn thờ, khẽ khàng:
– Hôm nay mẹ phải nói thật với con. Ba con không phải bị bệnh chết. Ba con ngày trước theo cách mạng, đi tập kết năm 54, lúc con đang nằm trong bụng mẹ còn thằng Cao mới ba tuổi. Mẹ ở dưới quê bị bọn làng xã quấy rối quá, chịu không nổi phải dắt hai con lên Sài Gòn kiếm sống, nói dối mọi người mình góa chồng. Hơn hai chục năm nay không hề có thông tin gì, ba con còn hay mất mẹ cũng không biết. Nhưng chắc không bao giờ được gặp lại rồi, vì giờ nếu như còn sống ổng có về quê tìm thì ai biết đường mà chỉ? Cả dòng họ chỉ còn mẹ và dì út thì cùng lên đây hết rồi.
Tiềm sững sờ nhìn mẹ. Bà nắm tay anh:
– Mẹ xin lỗi con... Thằng Cao đi thi phi công đậu rồi mới về cho mẹ hay, mẹ cản hết lời nhưng nó không nghe. Mẹ sợ có ngày nó lái máy bay thả bom lên đầu ba nó, nhưng thấy nó vui mừng quá mẹ không dám cho nó hay ba nó đang ở phía bên kia. Nó còn nói không đi không quân cũng bị bắt vào Thủ Đức, ra trường đi tiền đồn coi như chết chắc. Không quân ít nguy hiểm hơn. Nó đã nói vậy làm sao mẹ cản được nữa? Không ngờ cuối cùng số nó quá ngắn...
Mẹ Tiềm suy sụp hẳn từ sau cái chết của đứa con đầu giờ càng đau khổ hơn khi thấy sự vô ích của cái chết ấy chỉ mấy tháng trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tất cả bạn phi công của Cao đều lái máy bay chạy thoát, nhiều người còn đưa được cả gia đình đi. Mẹ Tiềm cứ ngồi sững một chỗ, mọi việc trong nhà đều do dì út chăm lo. Nỗi đau khiến bà như bị hóa đá, không có dì út có lẽ bà đã quỵ ngã.
Trên bàn thờ, tấm hình anh Cao kế bên hình ba như đang chăm chú nhìn hai người. Mẹ Tiềm ho một tràng dài rồi gắng gượng tiếp:
– Giờ đây mọi thứ đã thay đổi. Con nên tập làm quen với chế độ mới, cứ thử đi theo anh Phước một thời gian. Mẹ chỉ cầu Trời nếu ba con còn sống, xin cho hai cha con được đoàn tụ...
Thế là Tiềm vào Trường Đoàn, làm trong tổ sinh hoạt, điều động lớp học, phụ trách các tiết mục văn nghệ và sinh hoạt tập thể giũa giờ học. Anh đệm nhạc hướng dẫn học viên hát ca khúc cách mạng. Hầu hết là hành khúc, với lời ca mạnh mẽ, quyết thắng, khác hẳn những bài ca “anh tiền tuyến, em hậu phương” theo điệu boléro mềm người của miền Nam. Tiềm còn tập các trò chơi ngoài trời cho học viên. Nhũng năm ở hướng đạo giúp Tiềm đủ kỹ năng quản trò. Mỗi cuối ngày tổ lại họp kiểm điểm công việc và phê bình ưu khuyết điểm từng người, Tiềm ngờ ngợ hiểu sức mạnh của cách mạng có từ đâu. Họ luôn có một mục đích rõ ràng và rút kinh nghiệm từng ngày để đạt điều mong muốn.
Một buổi chiều, vừa nghỉ giải lao, Tiềm bất ngờ nhìn thấy Phong và Thương đứng ngoài cửa hội trường. Anh chạy ra đón bạn. Thương đốp ngay:
– Tiến về Sài Gòn, ta quét sạch giặc thù... Không ngờ bồ cách mạng quá nhỉ! Ai là giặc thù của bồ vậy?
Ánh mắt của Thương sắc lạnh y như của giáo sư Cảnh hôm vào trường nộp bản khai quá trình làm việc với chính quyền Sài Gòn tình cờ gặp Tiềm ngồi trò chuyện với Phước trong văn phòng. Tiềm bước ra chào thầy thì ông cười khẩy: “Không dám. Chào ông cán bộ nằm vùng. Ông giỏi thật!” Tiềm không biết nói gì với thầy, y như giờ đây anh đứng lặng người trước hai bạn.
Thương bồi thêm:
– Thôi, chúc bồ mau lên chức! Tôi về đây!
Nàng quay lưng bỏ đi. Phong vội vã chạy theo níu tay:
– Tiềm chỉ đệm nhạc thôi Thương ơi. Bây giờ ai còn ở lại trường thì cũng phải tham gia một cái gì đó...
Thì ra trong khi đứng ngoài chờ, hai người đã chứng kiến cảnh Tiềm đệm nhạc cho tổ trưởng tập hát cho học viên.
Thương vẫn vùng vằng:
– Tiềm có còn được đi học nữa đâu! Sao Tiềm có thể làm như vậy chứ?
Tiềm thở dài:
– Mình sẽ giải thích sau. Nhưng hình như mình cũng chẳng biết mình đang làm gì nữa. Thôi, tụi mình ra ngoài kiếm gì uống đi. Hai bồ tìm mình có việc gì?
Chú Việt của Thương cũng là một sĩ quan. Ngày giải phóng ông chạy về miền Tây, trốn học tập cải tạo, tìm cách vượt biển. Ông vừa nhắn lên mọi thứ đã sẵn sàng, có thể đưa mẹ con Thương cùng đi. Mẹ Thương nhất định chờ ba Thương về và cũng ngại chuyện nguy hiểm nên bà quyết định không đi, nhưng cho phép Thương tự chọn lựa. Thương liền nghĩ đến hai bạn...
Tiềm và Phong cùng im lặng hồi lâu. Sau khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống ngày càng khó khăn. Ai cũng thấy trước sắp tới sẽ là những ngày hết sức gian khổ. Nguồn viện trợ của Mỹ, bầu sữa chính nuôi sống kinh tế miền Nam, đã bị cắt đứt. Hàng triệu người dính dáng đến chế độ cũ nay thất nghiệp. Mấy chục năm binh lửa đã làm đất nước sức tàn lực kiệt. Rồi ý nghĩ “con ngáo ộp” cộng sản rất rắn tay với kẻ thua trận... Ra đi chính là lối thoát cho những người miền Nam từng quen sống đủ đầy.
Tiềm khó nhọc mở miệng trước:
– Hai bồ đi đi. Mình còn mẹ mình. Lúc này mẹ bệnh hoài...
Phong thở dài:
– Ba mẹ mình lúc này già yếu lắm rồi. Mình đi nhà chẳng còn ai...
Phong là con một. Ba là nhà giáo, mẹ bán tạp hóa, gia đình chỉ đủ sống. Như các đại học tư khác, Vạn Hạnh phải đóng cửa ngay sau ngày giải phóng. Phong đang rảnh rang nhất so với Tiềm và Thương, hàng ngày chỉ còn biết đứng trông tiệm phụ mẹ. Hiển nhiên vào lúc khó khăn này, cũng như Tiềm, Phong khó lòng bỏ cha mẹ ra đi.
Thương bối rối nhìn hai bạn:
– Vậy là không bồ nào đi với mình hết?
Phong nắm tay Thương:
– Có sao đâu? Thương cứ đi đi. Thế nào mình củng gặp lại mà.
Thương quyết định ngay:
– Vậy mình cũng không đi. Ở lại với hai bồ.
Ba người bạn cùng nhìn nhau, mỉm cười.
Rồi Thương rủ:
– Đi ăn cái gì đi! Mình vừa bán bớt một cái tivi, có tiền đây!
Phong sáng mắt:
– Đúng rồi! Đói quá! Không biết “Ông thầy” lúc này còn bán không?
Thương cười:
– Còn! Hôm nọ mình buồn quá, chạy lang thang chơi thấy “Ông thầy” vẫn còn bán. Gặp mình, ông chạy ra trách sao lâu quá không thấy bọn mình tới.
“Ông thầy” là biệt hiệu của ông chủ một quán ăn nhỏ nhưng ấm cúng, không sang trọng cũng chẳng quá bình dân, ở khu Đakao, từ trường Văn Khoa đi năm phút là tới. Ông người Tiều, tướng cao lớn mập mạnh, nấu ăn cực ngon. Quán ông có đặc điểm kén khách, sẵn sàng mời ra nếu thấy ai ồn ào, say sưa, xấc láo... Dân du đãng xăm mình cũng không dám giỡn mặt khi thấy ông kềnh càng như ông hộ pháp, một tay cầm con dao chặt thịt bén ngót, tay kia thủ cây giũa mài dao nhọn hoắc như một lưỡi kiếm. Nhưng điều đáng nể nhất, khiến ông được đặt cho biệt hiệu đầy kính trọng ấy, chính là việc ông quản lý hai bà vợ Việt cùng ở chung nhà. Ông nấu ăn, hai bà vợ chạy bàn, xưng hô “chị, em” hòa thuận. Nhiều khách đàn ông theo xin “cẩm nang”, ông cho trang cuối là nửa câu ca dao Việt Nam: “Làm trai hai vợ phải thương cho đều”.
“Ông thầy” đặc biệt tôn trọng khách hàng giáo sư, sinh viên. Riêng với nhóm Thương, ông coi như khách ruột. Thương biết ông từ lúc còn nhỏ thỉnh thoảng theo ba mẹ đến quán. Lên đại học, đi kèm trẻ có chút tiền, Thương đưa hai bạn đến vài lần, lần nào cũng được ông tiếp đãi nồng hậu, luôn có một món “quái đản”[3].
“Ông thầy” cười toét miệng khi ba người bạn bước vào quán:
– Hầy, pa nị! Lâu quá mới thấy tới! Tính pỏ quán này luôn sao? Vậy không tốt đâu!
Thương cười:
– Lúc này “mậu lúi”[4] rồi “ông thầy” ơi! Mới bán cái tivi có chút tiền đây!
“Ông thầy” nhăn mặt:
– Vậy càng không tốt! Lúc này ngộ kiếm được ít thôi, nhưng vẫn đãi pa nị được mà!
Phong ái ngại nhìn quanh cái quán vắng lèo tèo vài ba bàn khách, khác hẳn ngày trước:
– Hôm nay có gì ngon không “Ông thầy”?
“Ông thầy” vỗ vỗ lên trán:
– Lúc này hàng hiếm quá, món ngon ít, lại mắc... Pa nị ăn cơm phải không? Vậy ăn tạm heo quay hấp khoai môn, trứng chưng tam hoàng, ớt dồn thịt và canh củ sen cho mát. Được không?
– Vậy là ngon quá rồi! - Thương vui vẻ gật đầu.
“Ông thầy” càu nhàu trước khi quay vào bếp:
– Không ngon cũng không có gì khác đâu. Heo quay mỗi ngày ngộ chỉ lấy được vài ký, có hôm còn không có. Ăn đỡ đi mấy nị.
Trong khi chờ thức ăn dọn ra, Thương bắt đầu tra khảo Tiềm:
– Hồi nãy Tiềm nói sẽ giải thích sau. Bây giờ nói được chưa?
Tiềm kể chuyện nhà mình, rồi nói:
– Thật lòng không phải vì Tiềm có ba đi theo cách mạng mà bây giờ Tiềm theo họ. Chưa chắc ba Tiềm còn sống, mà còn sống cũng chưa chắc Tiềm được gặp. Bây giờ khai ra cũng đâu có bằng chứng gì... Chỉ vì anh Phước kêu quá mà Tiềm đang không biết làm gì, ở nhà vừa buồn vừa không có gì ăn. Anh Phước còn hứa sẽ cấp nhu yếu phẩm để Tiềm đem về cho mẹ...
Thương và Phong trầm ngâm hồi lâu, thương cho hoàn cảnh bạn mà cũng cám cảnh cho mình. Nhà đứa nào cũng đang quá khó khăn. Ba Phong được cho đi dạy lại nhưng hai tháng rồi chưa có lương. Nhà Thương càng thê thảm hơn, phải bán dần đồ đạc trong nhà sống qua ngày. Bữa ăn hôm nay quả là một cơn bốc đồng đúng kiểu của Thương.
Nhưng rồi những món ăn nóng hổi đã được hai bà vợ bưng ra, bốc mùi thơm lừng. Thương nuốt nước miếng, lập tức bới cơm:
– Hấp dẫn quá! Thôi, tạm thời cứ vậy đi! Ăn cái đã!
Ba người đang ăn ngon lành thì đích thân “Ông thầy”
tươi tỉnh bưng ra một cái đĩa nhỏ:
– Món “quái đản” đây! Nị Thương thích lắm nè!
Thương reo lên:
– Gan cháy tỏi! Trời đất, lâu lắm mới thấy!
Những miếng gan heo được ướp tẩm gia vị rồi chiên áp chảo cho đến lúc khô cứng vừa thơm vừa bùi vừa béo, là một trong những món độc chiêu của “Ông thầy”. Ông ngồi ở chiếc bàn kế bên, hài lòng nhìn ba người bạn đang ăn lấy ăn để:
– Mấy nị ăn được không?
Tiềm thật tình:
– Cảm ơn “Ông thầy”. Mấy tháng nay tôi mới được ăn một bữa ngon như vầy!
“Ông thầy” chợt buồn hiu:
– Mấy nị ăn đi, ăn cho hết đi. Thích ăn gì nữa cứ nói, ngộ đãi luôn. Mai mốt chắc ngộ đóng cửa quán!
– Sao vậy “Ông thầy”? - Thương ngạc nhiên.
“Ông thầy” nhăn nhó tuôn ra một tràng:
– Người ta vừa thông báo, sắp tới phải cải tạo cái mụ nội gì đó. Quán ăn nào cũng phải đăng ký vào hợp tác xã ăn uống của nhà nước, đang làm chủ thành làm công, tiền lời nhà nước lấy hết. Cải tạo cái gì? Ăn cướp thì có! Ngộ là thằng ngu à? Chẳng thà dẹp tiệm còn hơn!
Phong cười:
– Phải rồi! Chứ “Ông thầy” vô làm nhà nước là sẽ bị cho đi cải tạo liền!
– Cái gì? Ngộ có tội gì chớ? - “Ông thầy” trợn mắt.
– Thì tội có hai bà chứ tội gì! Cái đó cách mạng gọi là “hủ hóa”!
Mọi người trong quán, kể cả hai bà vợ và mấy người khách, cùng bật cười. “Ông thầy” có vẻ ngượng:
– Tại số ngộ như vậy mà... Không cãi số được đâu! Cãi là chết đó!
Thương ghẹo:
– “Ông thầy” ơi, tụi ngộ thắc mắc hoài, “Ông thầy” hai vợ như vậy thì tối ngủ làm sao?
“Ông thầy” gãi đầu:
– Thì ngộ pắt ghế pố nằm giữa, chạy qua phòng pên này một chút, rồi pên kia một chút...
Ai nấy cười nghiêng ngửa, tạm quên hết ưu phiền.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng của dân Sài Gòn gọi những người chạy theo quân giải phóng từ ngày 30-4-1975
[2] Lấy ý từ bài thơ Thuật hoài của Đặng Dung, mài gươm nuôi chí chờ thời cơ
[3] Nói lái từ “quán đãi”
[4] Hết tiền