Thương vừa về phép, có tới thăm tao. Hai đứa đi ăn uống với nhau được hai lần, nhắc mày nhiều. Quán xá lúc này đỡ hơn trước, tiếc là không có mày. Thương muốn đi thăm mày lắm, nhưng chỉ về hai ngày, không đủ thời gian. Thương nói lên Sơn Lâm, đi đường không đã mất cả ngày trời!
Gởi mầy tấm hình tao vừa chụp với Thương, coi cho đỡ nhớ tụi tao. Thương lên núi ở mà sao lúc này càng đẹp hơn, mày đồng ý với tao không?
Ráng giữ gìn sức khỏe Tiềm ơi. có dịp về thành phố nhớ ghé tao ngay. Mình sẽ đi nhậu một chầu ra trò. Có nhiều chuyện kể mày nghe lắm.
À quên, Thương nói có viết thư cho mày thì nhớ cho Thương gởi lời hỏi thăm chúc sức khỏe cô y tá Mai nào đó ở chỗ mày. Vậy là lúc này mày đang vui phải không?...
(thư Phong gửi Tiềm)
Cánh cửa sắt vừa hé mở, một mùi hôi thúi tuôn ra nồng nặc. Tiềm và cả toán phải thối lui mấy bước, không chỉ vì mùi thúi mà còn vì đã nhìn thấy mấy chục đàn bà con gái nằm ngồi lổn nhổn trong phòng cùng đang trần truồng như nhộng, mồ hôi nhớp nhúa. Anh công an ập vội cửa, quát lớn:
– Mặc quần áo vô mấy bà! Thúi quá, chịu không nổi!
Rồi anh quay qua giải thích với bọn Tiềm:
– Trời nóng quá họ chịu không nổi, lột hết quần áo nằm dưới đất cho mát.
Bọn Tiềm đang làm thủ tục nhận học viên ở trại tạm giam Đại Lợi quận Tân Bình. Đây là các cô gái mại dâm ở thành phố bị bắt tạm giam, chờ chuyển lên lao động cải tạo ở trường Thanh niên mới. Biết trước số phận, khi lần lượt nghe đọc tên bước lên xe, mỗi cô đều mang một vẻ mặt câm nín, bất cần đời. Tiềm đứng nhìn, ngạc nhiên thấy không ít cô còn rất trẻ, chỉ chừng mười sáu mười bảy tuổi, mặt mày xinh xắn nhưng phong trần, lì lợm. Có cô khi bước qua còn nhìn thẳng vào anh, khẽ nhếch mép. Như muốn nói: “Cải tạo tao à? Còn khuya!”.
Tiềm cứ tự hỏi liệu mình và các bạn có thể làm thay đổi được các cô gái này không, giúp họ hoàn lương, làm người lao động bình thường, có gia đình êm ấm như mọi người? Mấy tháng ở trường, anh em Tiềm rất cố gắng nhưng thật lòng ai cũng thấy mình đang làm một việc quá sức. Đào kênh, khai hoang, trồng trọt..., công việc cải tạo thiên nhiên tuy cực nhọc nhưng thấy ngay kết quả. Còn việc cải tạo con người, biến những thanh niên nghiện ma túy, du đãng, trộm cướp, gái mại dâm... thành người tử tế có ích cho xã hội, sao mà đường xa vạn dặm!
Đợt nhận học viên mới nào, ngay từ ngày đầu cũng có người trốn. Vừa xuống xe là họ tuôn chạy, đâm đầu vào rừng, dù không hề biết đang ở đâu và chạy đi đâu. Đi lao động, hở mắt là trốn. Đêm, dù cán bộ trung đội cẩn thận vào ngủ chung sam với học viên để canh chừng, hơ hỏng một cái là có ngay người trốn. Đang ngủ, một cô hô to: “A.315 xin đi đái!”. Dắt cô ta ra ngoài, cán bộ nam làm sao theo sát? Đưa cô cây đèn pin, yêu cầu không được tắt. Lủi vào lùm, cô gài cây đèn pin vào gốc cây, biến luôn vào màn đêm. Cũng chính cái cô A.315 ấy, ngay trong đêm bị du kích xã bắt lại, hôm sau giao về trường. Được vài ngày, có một anh du kích ngượng nghịu vào trạm xá trường xin thuốc trụ sinh, do đêm đó “ủi” cô, dính ngay bệnh lậu...
Thành phố giao nhiệm vụ đấy là “Trường học làm lại con người”. Cấp tiền ăn, nhu yếu phẩm, lương thực 19 kí một tháng cho mỗi học viên, tiêu chuẩn gấp rưỡi dân thành phố. Đối xử tử tế vậy nhưng tổng kết mấy tháng hoạt động, gần một nửa học viên bỏ trốn. Tiềm cảm thấy mình đang đội đá vá trời. Giảng mười bài chính trị cơ bản cho họ, họ ngồi gãi đầu, ngoáy tai, móc mũi. Gì mà “Sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân”, gì mà “Tội ác của chế độ thực dân mới”... Rồi “Chủ nghĩa xã hội, chế độ tốt đẹp nhất của loài người”, “Đạo đức cách mạng của người thanh niên”... Sao vào được cái đầu của những người hầu hết thất học, nghèo khổ, “hận đời đen bạc”, “sống bên bạn chết bên em”...[1]? Cao xa quá! Dạy cho họ biết phân biệt xấu tốt, có nghề nghiệp, sống theo luật pháp..., chưa biết có được không. Nói gì đến chuyện mong biến họ thành “người lao động mới làm chủ tập thể, giác ngộ chính trị, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh giản dị, có trình độ văn hóa và nghề nghiệp, biết đem hết sức mình để phục vụ Tổ quốc và xây dựng cuộc sống mới”!
Tiềm nói suy nghĩ ấy với hiệu phó Chiến, người khá gần gũi với anh. Chiến trầm ngâm:
– Tôi cũng thấy như ông, nhưng chưa dám nói. Nội dung giáo dục của chúng ta không phù hợp đối tượng, bài vở bê nguyên xi, máy móc, xa rời thực tế...
– Ảo tưởng nữa! - Tiềm bổ sung.
– Có thể do ở trên chưa từng biết loại thanh niên này, chưa soạn ra được giáo trình phù hợp - Chiến thở dài - Thôi thì mình cứ dùng tình thương đối xử với họ, cai nghiện cho họ, chỉ đường đi đúng... Rồi... tùy họ thôi.
Bằng “tình thương và trách nhiệm”, đó cũng là lời dặn dò của sếp 1 thành phố, hôm ông lên thăm trường. Giản dị và gần gũi, ăn nói có sức chinh phục cao, chỉ đạo sâu sát, hết lòng, ngay từ đầu ông đã như người cha, người chú của Lực lượng Thanh niên xung phong. Ông trao cờ ra quân, ông đến tận từng công trường, nông trường, vùng kinh tế mới do Thanh niên xung phong thi công, ông giải quyết chu đáo mọi nhu cầu chính đáng của anh em...
Bọn Tiềm than với ông công việc đang làm sao khó quá. Ông trầm ngâm một chút rỏi nói:
– Đúng là khó, nhưng đây là trách nhiệm chúng ta phải làm. Không làm thì ai làm? Không lẽ chúng ta bắt giam anh em suốt đời? Không lẽ chúng ta để mặc anh em làm người xấu, tự do chích ma túy, cướp giựt, bán dâm, phá hoại xã hội? Điều chú muốn dặn các cháu là hãy thi hành trách nhiệm đó bằng tình thương của mình. Nghĩ cho cùng anh em cũng chỉ là nạn nhân, là hậu quả. Hãy thật sự thương xót anh em, bằng tình thương và trách nhiệm, khoác vai đưa anh em đi vào con đường của mình. Các cháu cứ làm việc theo tinh thần đó, vừa làm vừa rút kinh nghiệm sao cho ngày càng tốt hơn. Có khó khăn gì cứ trình lên cấp trên để cùng tìm cách giải quyết...
Biết trường sẽ tổ chức hội diễn văn nghệ học viên để báo cáo thành quả, ông đưa con gái đang là sinh viên đại học đi theo, như một cách giáo dục thực tế. Ông cười, vỗ tay hồn nhiên, lên sân khấu trao thưởng các cá nhân xuất sắc, ôm hôn những diễn viên quần chúng mới hôm qua còn trong vũng lầy. Không chỉ bọn Tiềm thêm kính phục ông, mà hầu như học viên nào tham dự cũng được lên tinh thần, nhờ “liệu pháp sếp 1”.
Cùng đi trong đoàn của sếp 1 còn có các nhà báo, trong đó có một cô có nét mặt thông minh, sắc sảo, luôn miệng hỏi tay ghi hành nghề tích cực. Gặp đúng Vinh Cùi mà cô hỏi bệnh nào đang phổ biến nhất trong anh em ở đây, mặt hắn tỉnh như ruồi:
– Bệnh “thuyền xưa” chứ còn bệnh nào nữa!
Cô nhà báo tròn mắt:
– Bệnh... “thuyền xưa”? Là bệnh gì?
– Kỳ lắm chị ơi, tôi không giải thích đâu - Vinh Cùi tiếp tục diễn.
– Bạn cứ nói đi, đừng ngại, tôi là nhà báo mà. Đây là một chứng bệnh mới à?
– Tại chị cho phép tôi mới nói. Bệnh này có lâu rồi, nhưng cách nói tế nhị thôi. Thuyền là ghe, xưa là cũ. Ghe cũ nói lái là...
Vinh Cùi ngừng lại, nheo mắt nhìn. Cô nhà báo suy nghĩ một chút rồi đỏ mặt, đập mạnh vào vai Vinh Cùi:
– Đồ quỷ!
Vinh Cùi cười ha hả, bỏ chạy.
Gặp Tiềm, cô chăm chú nhìn anh rồi đến chào, lấy trong túi xách bên mình ra đưa anh một gói quà:
– Tôi là Ngọc Minh, làm ở báo Vì Dân cùng chỗ với Phong. Phong nhờ tôi chuyển món quà này cho bạn. Hai người là bạn rất thân, phải không?
Tiềm cười:
– Vâng. Nhưng sao chị biết tôi?
– Trên bàn Phong có tấm hình ba người. Nhìn mặt bạn là tôi nhận ra ngay. Còn một cô bạn đi dạy ở Lâm Đồng phải không?
– Vâng. Phong có viết thư kể về chị. Chị là sếp của Phong mà, có gì nhẹ tay với nó nhé?
– Phong làm việc giỏi lắm, có gì mà phải nhẹ tay? - Minh cười, rồi bất ngờ hỏi - Cô bạn gì đó, tên Thương phải không, đẹp quá nhỉ? Hình như Phong thích cô ấy lắm?
Tiềm lập tức cảnh giác giùm bạn:
– Bọn tôi là bạn thân mười mấy năm rồi. Thương nhau lắm nhưng... bạn thôi.
Tiềm nhìn kỹ nhưng thấy nét mặt Minh vẫn tỉnh như không.
* * *
Chị Đàm nhìn Tiềm hồi lâu trước khi nói:
– Tôi nghĩ là Mai bị... tâm bệnh.
Là bác sĩ một bệnh viện lớn ở thành phố, chị Đàm vượt biên, bị bắt, đưa lên trường cải tạo. Lao động rất tốt, kỷ luật tự giác, tuần nào cũng được bình chọn là học viên điển hình, biểu dương trước cờ. Trường thiếu bác sĩ trưởng trạm, có mấy người trẻ mới tốt nghiệp được phân công lên, chỉ vài hôm là bỏ nhiệm sở. Chị được đặc cách đưa lên làm trưởng trạm xá, cũng từ ý kiến sếp 1. Hôm ông lên thăm trường, nghe báo cáo về chị, ông chủ động gặp rồi gợi ý ban giám hiệu cứ mạnh dạn giao việc, đề nghị chị làm giúp trong hai năm, đúng thời hạn quy định. Biết tin người, dùng người - đặc biệt các trí thức cũ - chính là thế mạnh độc đáo của ông.
Từ lúc nhận việc, chị Đàm làm rất tốt. Là sếp của Mai, chị thương cô gái trẻ vì tình mà bỏ nhà lên rừng như thương em gái.
Sau lần Thương lên thăm Tiềm, Mai làm việc sa sút hẳn. Cô y tá trẻ không còn vui tươi, hồn nhiên như trước. Ai cũng thấy và ai cũng hiểu vì sao. Lẽ dĩ nhiên Tiềm là người đầu tiên biết, nhưng anh giả ngơ vì muốn nhân dịp này sẽ làm Mai chán nản, dẹp bỏ. Anh thấy có lỗi nếu không thương mà cứ đón nhận tình cảm của Mai. Nhưng... tình yêu mà! Càng bị đau khổ, khó khăn, nhiều người càng yêu sâu hơn, lao tới như con thiêu thân.
Tiềm không biết, nhưng là con gái, Mai hiểu ngay vì sao Thương chịu lặn lội lên tận Sơn Lâm thăm Tiềm trước khi đi dạy xa. Mấy tiếng “mình mình bồ bồ” Tiềm và Thương xưng hô với nhau ngay trước mặt Mai cứ như những nhát dao đâm vào tim cô. Hai người cưỡi voi vào rừng tìm hoa lan, Mai không kềm chế được nên quên xấu hổ đi theo. Bẽ bàng khi nghe Tiềm kêu Thương lên ngồi với Mai chuyến về nhưng Thương không nghe, vẫn lên ngồi sát bên Tiềm, Mai kêu ông nài của mình cho voi rẽ ngang đường khác. Đêm đó trước khi Thương về, Tiềm và Thương còn đàn hát với nhau mấy bài thật hay. Họ phải đồng cảm và thân thiết thế nào mới ăn ý đến vậy. Sau khi Thương về, Tiềm càng tỏ ra lạnh nhạt với Mai hơn. Đêm nào Mai cũng khóc. Cô nuốt cơm không trôi khi Tiềm luôn tránh mặt không ăn chung với cô nữa.
Mai gầy sút đi, đôi mắt thất thần, ngồi đâu quên đó. Mấy hôm nay cô nằm liệt trên trạm xá, mê mê tỉnh tỉnh. Xe Jeep của trường bị hư, đang sửa ở thành phố nên chưa thể chuyển bệnh cho cô. Đàm buộc lòng phải mời Tiềm nói chuyện.
Thấy Tiềm lúng túng không biết nói gì, Đàm nói thẳng:
– Ở đây ai cũng biết là Mai yêu Tiềm, rất yêu, từ khi Tiềm còn ở Củ Chi, gần nhà Mai. Chỉ có rất yêu thì Mai mới bỏ tất cả, tình nguyện lên đây làm việc bên Tiềm. Mai tâm sự với tôi, Mai đi còn là vì một lời rủ của Tiềm...
– Nhưng tôi... - Tiềm ú ớ - Tôi...
– Tôi biết lúc ấy Tiềm chỉ đùa giỡn. Nhưng với các cô gái, không bao giờ nên đùa như vậy. Ác lắm! Có thể giết cả đời người ta.
Tiềm cúi mặt, không dám nhìn chị Đàm. Đợi một chút cho Tiềm thấm, Đàm nói tiếp:
– Tôi biết Tiềm không yêu Mai, và bây giờ đang muốn khắc phục sai lầm trước đây của mình. Nhưng tôi xin Tiềm, trong lúc này, hãy vì tình người với nhau mà cứu giúp Mai qua cơn bệnh này. Hãy nghĩ tới tấm lòng Mai dành cho Tiềm đẹp như thế nào trong suốt hai năm qua. Hãy nhớ lại lúc Tiềm bị sốt rét nặng, Mai chăm sóc Tiềm thế nào...
Trước mắt Tiềm lại hiện lên hình ảnh Mai tất bật quanh anh trong những ngày anh bệnh nặng, nửa tỉnh nửa mê. Trạm xá thiếu thốn đủ thứ, tiêu chuẩn người bệnh lại thấp, Mai theo xe ra thị trấn bán luôn chỉ vàng phòng thân để mua thuốc men, đường sữa... bồi dưỡng cho anh. Cô nấu nước nóng gội đầu, lau mình cho Tiềm, lo cơm nước tận tụy. Cả trường ăn độn hơn hai phần ba, gạo hẩm pha bo bo, khoai sùng, hôm nào xe chợ không lên kịp thì thức ăn chỉ có muối hột đâm ớt. Vậy mà bữa ăn của Tiềm luôn có gạo trắng, thịt, trứng...
– Mai đang bị bệnh tương tư, ngày xưa ở quê tôi người ta gọi là... đau ma. Khi cứ yêu cứ nhớ cứ mong một người mà không được. Đa số người bệnh có thể tự vượt qua, nhưng cũng có người bị chết vì tâm bệnh ấy. Là bác sĩ, tôi biết bệnh của Mai dù có về thành phố cũng không thể chữa khỏi, nếu không được Tiềm giúp. Qua lần này đi rồi sẽ tính sau...
Chị Đàm còn nói rất nhiều và Tiềm chỉ biết lặng im. Khi chị đứng lên đi về trạm xá, Tiềm bước theo như một cái máy.
Mấy hôm sau, mọi người thấy Mai ngồi ăn cơm với Tiềm ở căn-tin, mặt mày tươi tắn trở lại.
* * *
Mưa tháng chín rỉ nì như một nỗi buồn dai dẳng bên mình. Tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tranh rồi róc rách chảy xuống mấy rãnh nước quanh nhà tạo thành một âm thanh buồn buồn, đều đặn.
Tiềm ngồi nhìn mãi tấm hình chụp Phong và Thương đang ngồi sát bên nhau ở căn-tin báo Vì Dân. Phong choàng vai Thương, cả hai cùng cười rất tươi. Ba người luôn như vậy, cứ chụp hình với nhau là choàng vai, ôm eo thoải mái. Tấm hình chụp ba đứa Tiềm đang treo trên vách phòng ngủ của mình cũng vậy, với Thương đứng giữa giang rộng hai tay choàng vai hai thằng bạn thân, miệng cười toe toét. Vậy mà giờ đây Tiềm lại thấy buồn tê tái.
Thư Phong viết đúng, Thương đẹp hơn trước nhiều. Một vẻ đẹp khỏe mạnh, hấp dẫn. “Hình như Phong thích cô ấy lắm?”. Sếp Minh hỏi vậy, chứng tỏ chuyện Phong với Thương giờ đã nhiều người biết. Chắc chắn Phong đã tỏ tình. Hai người đã yêu nhau? Nếu đó là sự chọn lựa của Thương thì cũng đúng thôi. Chúc hai bạn thật hạnh phúc... Tiềm thở dài, cất tấm ảnh và lá thư vào hộc bàn, rồi ra đứng tựa ô cửa đăm chiêu nhìn xuống rãnh nước trước mặt. Từng giọt mưa rơi xuống, mất hút ngay trong dòng nước lạnh lùng, nhưng vẫn kịp để lại chỗ của mình một chiếc bong bóng tròn trĩnh. Những chiếc bong bóng nước ấy có cái vỡ ngay, có cái tiếp tục đua nhau chạy, rồi cũng lần lượt vỡ tan.
Có phải cuộc đời này cuối cùng sẽ không còn lại gì? Tất cả chỉ là bọt nước, xuất hiện rồi tan biến trong dòng đời cuồn cuộn trôi nhanh? Anh Cao, rồi mẹ, có phải cũng chỉ là những bọt nước xuất hiện đó rồi tan biến đó? Còn mình, bao giờ? Tiềm cứ đứng đó nhìn mưa, ngẫm nghĩ về sự ngắn ngủi của kiếp người, bỗng thấy mọi sự trên đời đều quá vô nghĩa.
Cơn mưa tạnh dần. Bất chợt trên nền trời xám lồng lộng cao sau ngọn đồi xa, Tiềm nhìn thấy một chiếc cầu vồng rực rỡ đang hiện lên. Cảnh vật chung quanh sau cơn tắm gội trở nên tươi mát một cách tinh khiết, quyến rũ. Mặt trời chiều lại xuất hiện, làm những lá cỏ tranh long lanh nước trên đồi sáng bùng lên một màu vàng óng ả tươi tắn hơn mọi ngày. Chiếc cầu vồng càng làm Tiềm nhớ đến Thương. Có lần cả lớp đệ nhứt đi picnic ở suối Lồ Ồ, cũng gặp một cơn mưa nhỏ, rồi khi vừa hết mưa, trên nền trời cũng hiện lên một chiếc cầu vồng y như thế này. Lúc đó ba đứa đang ngồi bên nhau và Thương nói:
– Ước gì ba đứa mình được leo lên ngồi trên chiếc cầu vồng kia nhỉ?
Tiềm mỉm cười khi nhớ lại gương mặt hồn nhiên của Thương lúc ấy. Hôm đó Thương mặc một cái quần jean xanh có yếm trước ngực, bên trong là một chiếc áo pull trắng, trông thật tươi trẻ, dễ thương. Thương đứng ngược sáng, tóc lất phất bay, chiếc cầu vồng phía sau mờ nhòe như thể từ người cô đang tỏa ra đủ màu sắc lên nền trời.
Tiềm cầm đàn lên, cùng Phong thổi cây melodica chơi ngay She's a rainbow[2] của Rolling Stones, ngây ngất.
Gần bốn năm, hình ảnh ấy lại hiện ra trước mắt Tiềm không chút suy suyễn...
Có tiếng máy xe rù rù lớn dần, làm Tiềm sực tỉnh cơn mơ. Ở đầu con dốc vào doanh trại, hiện ra một chiếc Uwatt. Bê bết bùn đỏ, chiếc xe chậm rãi đổ xuống dốc rồi ngừng lại trước cổng bảo vệ. Người tài xế bước xuống trình giấy tờ, nói gì đó. Anh bảo vệ bước ra, chỉ tay về văn phòng trường.
Người đàn ông khoảng năm mươi tuổi mặc sơmi trắng ngắn tay ngồi kế bên tài xế bước xuống xe đi vào văn phòng. Lát sau, đã thấy Chiến đi ra vẫy Tiềm:
– Tiềm ơi! Có khách!
Ngạc nhiên, nhưng Tiềm cũng vội băng qua sân cờ. Chiến chặn anh lại, nói nhỏ:
– Lạ lắm! Ông khách này...
Tiềm bước vào phòng khách. Ông khách đứng bật dậy. Đôi mắt hai người gặp nhau. Cả hai cùng sững sờ.
Mẹ từng nói Tiềm giống ba một cách kỳ lạ. Tấm ảnh ba chụp hồi còn trẻ để trên bàn thờ, bạn bè đến nhà đều ngạc nhiên khi thấy gương mặt của Tiềm giống như khuôn đúc.
Và giờ đây, người có gương mặt ấy đang đứng trước Tiềm, già dặn hơn, phong trần hơn, nhưng không thể là ai khác.
Ông lên tiếng trước, giọng run run:
– Tiềm... Biết... ai đây không?
Tiềm chỉ nói được đúng một từ:
– Ba!
Hai cha con bồi hồi ôm nhau. Ôm tấm lưng rộng của ba, Tiềm rưng rưng nhớ mẹ. Đây là người đàn ông mẹ đã nhớ thương, chờ đợi suốt bao năm. Ước nguyện cuối cùng mong hai cha con gặp nhau của bà đã thành, chỉ tiếc bà không còn nữa để chứng kiến ngày vui trong mơ này.
Tài xế của ba Tiềm vác vào một bọc lớn heo quay, vịt quay, bánh mì, và... chục chai rượu chanh! Gọi là để ăn mừng ngày hai cha con gặp mặt. Tất cả cán bộ nhân viên của trường được mời đến dự bữa tiệc phụ tử sum vầy. Tiềm đã hiểu vì sao mình uống được rượu. Ông Bảy Ngà, ba Tiềm, chấp nhận xoay tua với đám con cháu, uống nhẹ nhàng như không, mặt không biến sắc.
Còn lại hai cha con trong căn phòng nghỉ dành cho khách. Tiềm cứ ngồi nhìn sững cha, tưởng như đang mơ. Ông Ngà lặng lẽ hút thuốc, rồi thở dài:
– Ba có lỗi nhiều...
Sau khi tập kết ba năm, thấy không còn khả năng tổng tuyển cử, ông Ngà có nhờ người tìm về nhà để đưa vợ con vào chiến khu rồi từ đó ra Bắc sum họp. Nhưng lúc ấy bà Ngà đã dẫn hai con đi biệt tích. Rồi ông Ngà được cho đi Liên Xô học mấy năm. Về nước, cuộc chiến ngày càng triền miên, ác liệt. Đàn ông hiếm ai chịu được sự cô đơn. Như nhiều cán bộ tập kết khác, ông Ngà lập gia đình mới, có thêm hai con. Sau ngày hòa bình, ngoài việc nhờ nhiều đầu mối truy kiếm, năm nào ông cũng bỏ hết ngày phép đi tìm gia đình cũ. Mãi đến tuần trước, nhờ một sự tình cờ, ông mới lần ra tung tích dì út...
Tiềm chỉ im lặng. Anh không nghĩ ba có lỗi. Anh cũng không tiếc cho mẹ đã không chờ đợi được lâu hơn. Ba trở về với một gia đình mới, mẹ chỉ thêm bẽ bàng. Tất cả chỉ là số phận.
– Con nghỉ ở đây, ra Bắc sống với ba. Ba sẽ lo cho con đi học lại. Dì và hai em tốt lắm. Chính dì luôn nhắc ba phải đi tìm cho ra mẹ và hai con - Ông Ngà nói.
Tiềm không nghĩ viễn cảnh này sẽ dễ chịu. Anh chỉ nói:
– Con ở đây quen rồi ba. Con đang làm việc rất tốt.
Ông Ngà cầm bàn tay chai sần của con:
– Ở đây cực quá... Thôi được. Đây cũng là môi trường dễ tiến thân. Từ từ rồi tính. Ba sẽ làm lại giấy tờ cho con. Dù sao con cũng nên nghỉ phép ra Hà Nội chơi với ba...
Ông lại thở dài, buồn bã:
– Tội nghiệp thằng Cao. Ngày ba đi, nó không biết ba đi đâu nhưng cứ đeo cứng đòi theo. Không ngờ đó là lần cuối ba nhìn thấy nó...
Hôm sau, ba đi rồi, buổi chiều Tiềm ra phía trước đứng ngẩn ngơ nhìn về phía đồi Hoàng Hôn. Ngọn đồi được anh em đặt cho cái tên đầy lãng mạn này, vì từ doanh trại nhìn ra, khi mặt trời xuống vừa thấp sẽ tráng một lớp men nắng cuối cùng lên những lá cỏ tranh dầy kín trên đồi, làm cả ngọn đồi chợt rực lên một sắc hoe vàng. Những cơn gió cuối ngày luyến tiếc lướt qua, xô nhẹ những thân cỏ, làm cả ngọn đồi như chập chờn rung động. Hoàng hôn nằm cả trên ngọn đổi, rồi dần bay vút lên không gian.
Tiềm bỗng thấy hồn mình trống rỗng và nhớ Thương không chịu nổi. Anh quyết định xin nghỉ phép, về thành phố tìm Phong:
– Mày có thẻ nhà báo, mua vé xe dễ. Đi, tao với mày lên thăm Thương! Bạn bè gì mà Thương lên đó dạy học cực khổ, hai đứa mình không đi thăm được?
Phong nhìn sững Tiềm, cảm thấy xấu hổ. Đúng, bạn bè sao kỳ vậy, riêng mình lại đã nói lời yêu thương nữa... Công việc quả là quá nhiều, từ ngày vào Vì Dân Phong chưa một ngày nghỉ phép, nhưng lẽ nào không thể sắp xếp để có vài hôm lên thăm Thương? Dù ở xa hơn, Tiềm vẫn là người hành động trước để thể hiện sự quan tâm dành cho nàng, như ngày nào ở vườn nhà Tâm.
Hai người lên tới Đức Hội khi trời đã khuya lơ khuya lắc. Gõ cửa nhà tập thể gọi tên Thương, nàng mừng rỡ đốt đèn ra đón. Ba người bạn nắm chặt tay nhau, bồi hồi.
Trong hai ngày, ba người bạn vui bên nhau như ngày xưa. Thương đưa Tiềm và Phong đi chơi thác Pongour.
Thương kể theo truyền thuyết, những ai không thành thật, không chung thủy, những kẻ bất tín, bội thể, đã đến thác Pongour thì ít khi được trở về, do nữ thần Ka Nai nổi giận, sai Yang Pongour giữ lại để dạy cho họ những bài học nhân nghĩa. Tiềm và Phong cùng thản nhiên trước truyền thuyết đầy hăm dọa đó, vì cả hai cùng tin mình thành thật yêu Thương. Dù trước mặt các thầy cô ở Đức Hội, Tiềm và Phong chỉ được giới thiệu là hai người bạn thân từ thời trung học của Thương. Thương không có đối xử đặc biệt nào với một trong hai. Và cả hai đối với Thương cũng vậy. Những cử chỉ nhường nhịn của Tiềm, như muốn dành những lúc riêng tư cho Phong và Thương, đều bị Thương chủ động gạt phăng. Riêng Phong thì làm sao tự tin để chứng tỏ gì, vì Thương đã trả lời quá rõ ràng với anh. Anh chỉ im lặng thể hiện sự quan tâm dành cho Thương, trong khi Tiềm lại cố gắng cho thấy không có gì khác thường với nàng.
Đêm sau, trước khi Tiềm và Phong về, Thương tổ chức một bữa ăn nhỏ giữa các thầy cô và hai bạn. Cũng là mừng Tiềm vừa tìm được cha. Tửu lượng Dìn đủ thù tiếp hai cái hũ chìm. Họ vừa uống vừa đàn hát cho đến lúc say khướt.
❀ ❀ ❀
[1] Những câu dân giang hồ thời trước hay xăm trên mình.
[2] Nàng là chiếc cầu vồng