Sao mình cứ nhớ T quá, không biết bây giờ T ra sao? Có còn nhớ đến mình không, hay cũng đã có một tổ ấm như P? Mình với T có gì đâu để T phải chờ đợi? Chắc T cũng con đàn cháu đống rồi!
Cuộc sống bên đây buồn quá, và cũng quá vất vả. Mình phải làm đủ việc, đêm nào cũng đến nửa đêm mới được lên giường. May mà có thằng con làm niềm vui an ủi. Sao mình cứ nghĩ nó là con của mình với T! Mà mình tin nếu gặp, T cũng sẽ rất thương nó.
Mơ ước bây giờ của mình là được trở về, trở về, trở về. Tối nay mình đã khóc khi nghe Whitney Houston hát I will always love you:
I’ll think of you every step of the way...
I hope life treats you kind
And I hope you have all you’ve dreamed of
And I wish to you, joy and happiness
But above all this, I wish you love
And I will always love you…[1]
T ơi, sao tôi cứ yêu bồ hoài vậy?
(nhật ký của Thương)
Qua sự vận động của chú Việt, một tổ chức công giáo ở Mỹ bảo lãnh cho gia đình Thương được nhập cư. Sau chuyến bay mười mấy tiếng, Thương cùng gia đình cuối cùng đã đặt chân lên đất Mỹ.
Từ phi trường Philadelphia về đến nơi họ đạo mướn nhà cho gia đình Thương khoảng hơn nửa tiếng. Đường xá quá rộng, mỗi chiều đến ba làn xe, xe cộ nối nhau chạy ào ào như nước chảy. Vừa qua cầu ranh giới giữa tiểu bang Pennsylvania và New Jersey, nơi Thương định cư, có cảm giác như đi từ một thành phố rộn rịp qua một khu rừng vắng lặng.
Họ dừng lại ở thành phố nhỏ Camden, nơi Thương và ba mẹ được họ đạo mướn cho một căn nhà thật tốt, hơn sự chờ mong của cả nhà. Tuy Camden thật sự không phải là khu sang trọng, lại có nhiều dân Mỹ đen, nhưng ai cũng có công việc đàng hoàng và nhà nào cũng có một mảnh vườn nho nhỏ.
Lòng rộng lượng của họ đạo trong ngày đầu tiên đó, không phải ai cũng có và cũng dành cho những người mới đến. Ở đâu thì cũng có người tốt kẻ xấu, người rộng rãi kẻ bần tiện.
Ví dụ như ông Nhân, người chủ đầu tiên Thương làm việc, điển hình cho loại người chỉ biết làm giàu trên mồ hôi của người khác. Người phốp pháp, da sạm đen, mắt ti hí, môi dầy, ông Nhân là cai thầu cho một hãng làm nữ trang bên Philadelphia, cần nhiều thợ nữ khéo tay để ráp các hạt trai làm thành đồ trang sức. Ông mua một căn nhà có nhiều phòng, cho người Việt mới qua mướn và tuyển dụng nhân công từ nguồn này. Ai làm với ông thì hàng ngày ông cho một chiếc xe buýt đến đón, chở qua sở, rồi chiều đưa về, trừ vào tiền lương của họ. Đồng lương ít ỏi còn lại còn bị ông giữ lại một phần như một hình thức thế chân, thậm chí giữ luôn hộ chiếu hoặc thẻ xanh[2], để không thể tự ý nghỉ việc. Lẽ dĩ nhiên với những cô gái có chút nhan sắc vừa chân ướt chân ráo đến Mỹ, ông cũng không ngại dùng quyền, tiền của mình để tranh thủ tán tỉnh họ.
Phải nói người Việt rất cần cù, lại khéo tay, tiếng nói không rành, luật lệ không biết, nên công ty đó cũng rất thích dân Việt Nam làm, không ai đi đòi hỏi giờ nghỉ và các quyền lợi khác theo luật lao động như dân bản xứ.
Làm mới một tuần, ông Nhân đã mon men làm quen và giở mòi quấy rối nên Thương dứt khoát xin nghỉ, thà ở nhà lo cho bé Tiềm hơn là hàng ngày phải nhìn thấy ông.
Sau đó Thương tiếp tục đi làm thử qua vài công việc khác, phần muốn phụ ba, phần đã quen đi làm, Thương không thể cứ ngồi mà lãnh trợ cấp như nhiều người có con nhỏ. Khác với họ là Thương có mẹ lo cho bé Tiềm, nhưng thằng bé càng lớn càng năng động, mẹ đã lớn tuổi lại phải lo cơm nước cho gia đình, Thương ngồi yên sao đành?
Chuyển qua làm nghề may gia công, Thương tiếp tục gặp nạn cai thầu, ma cũ hiếp ma mới. Khác với người Hoa, người Việt xa xứ luôn chèn ép, dẫm đạp, phá giá nhau, mang chính đồng bào tha hương ra làm con mồi hoặc cho người Mỹ bóc lột. Chán nản, Thương bỏ đi học làm móng. Đó là nghề học nhanh lại mau có tiền, đặc biệt phù hợp với tính chịu khó và tỉ mỉ của người Việt, nhưng Thương cảm thấy mình không hợp, hàng ngày ngửi mùi bột làm móng tay giả và mùi sơn thôi cũng đã có hại cho sức khỏe. Dân ở Camden đi làm suốt ngày, chỉ xong việc mới đi làm móng, nên giờ làm việc của bọn Thương có khi kéo dài đến chín, mười giờ đêm. Một hôm vắng khách, cả tiệm ngồi than về việc làm trễ, khó có nơi nào nhận giữ con muộn giờ. Thương hỏi ý kiến người phụ trách họ đạo xem mình có thể sửa chữa tầng hầm lại thanh một căn phòng giữ trẻ không. Người ấy đã khuyên Thương chịu khó học vài năm lấy bằng Montessori[3] để có thể làm việc chính quy hơn. Cuối cùng, từ việc dùng tầng hầm nhà mình nhận giữ giúp một, hai đứa con của các cô bạn từng làm việc chung, sau khi học lấy bằng, Thương mướn hẳn một căn nhà để chuyên giữ trẻ.
Nhờ làm việc cần mẫn, lại sẵn lòng giữ đến khi cha mẹ đến đón dù sau sáu giờ chiểu, nên tiếng lành đồn xa, người đến gửi trẻ ngày càng đông, có cả các người Mỹ da màu. Thương phải mướn thêm ba, bốn em người Việt còn học đại học để làm việc phụ mình.
Thời gian trôi qua nhanh...
Dù được không biết bao nhiêu người theo đuổi, Mỹ có, Việt có, nhưng con tim Thương vẫn chỉ trọn vẹn dành cho một người. Với thái độ hòa nhã nhưng cứng rắn Thương luôn từ chối mọi săn đón, nói mình đang chờ ba của đứa bé qua đoàn tụ.
Và dù cuộc sống có chút ổn định về tài chính, dù ba mẹ sau này đã an nhàn tuổi già, dù có bé Tiềm luôn quanh quẩn bên mình, nhưng lòng Thương lúc nào cũng không quên bao kỷ niệm cũ. Nàng luôn khao khát một lần được trở về tìm Tiềm, Phong, trở lại Sài Gòn phồn hoa tấp nập, trở lại cả cái xã Đức Hội nghèo nàn heo hút, nơi đầu tiên đã cho mình cái cảm giác hạnh phúc được sống vì người khác.
* * *
– Thắng bị bắt rồi! Bên công an vừa thông báo.
Sáu gọi Phong vào phòng, thở dài cho hay. Điều họ biết sẽ đến đã đến, nhưng vẫn bất ngờ vì xảy ra quá nhanh.
Sau mấy loạt phóng sự điều tra viết về tệ nạn xã hội và tiêu cực của các quan chức, Toàn Thắng nổi lên thành một trong những cây bút tên tuổi của Vì Dân. Có bà con trong ban giám đốc công an thành phố, Thắng rất thuận tay với những đề tài liên quan đến công an, tòa án, xã hội đen... Được phân công làm phóng viên mảng nội chính[4], Thắng ngày càng am tường lãnh vực, viết lên tay, sắc sảo. Tuy nhiên, đó cũng là một lãnh vực nhạy cảm nhất trong nghề báo. Phóng viên nội chính luôn phải tiếp xúc với thế giới tệ nạn, quan chức hư hỏng, không đêm nào không lê lết ở các phòng trà, nhà hàng, quán nhậu. Chỉ cần một bài báo là có thể làm bay ghế một ông sếp hay đóng của một vũ trường... Trong môi trường ấy, giữ được mình là chuyện không dễ. Ban biên tập Vì Dân rất hiểu điều đó, thường xuyên nhắc nhở Thắng. Đặc biệt là lần thôi nôi con Thắng, ngoài tiệc tổ chức với anh em trong báo, Thắng còn làm một bữa khác linh đình ở một nhà hàng lớn. Nghe kể lại là có rất nhiều gương mặt đại gia đang có vấn đề trong làm ăn, rồi các chủ vũ trường, khách sạn, ai đến đều quà cáp hậu hĩnh. Sáu bắt Thắng làm tường trình. Thắng nhận khuyết điểm, nói do bị vợ gây áp lực, hứa không tái diễn và xin ban biên tập yên tâm Thắng sẽ không để các mối quan hệ ảnh hưởng đến công tác.
Nhờ là người trực tiếp phỏng vấn và nhận Thắng vào làm lúc cậu ta còn là phóng viên một tờ báo tỉnh, thỉnh thoảng Phong vẫn được Thắng rủ nhậu.
Một hôm, Thắng hỏi:
– Anh có nghe tiếng Ba Gà?
Từ lâu đã nghe đồn tay này đang là trùm mafia ở thành phố, Phong gật đầu. Thắng nói:
– Ổng đã giải nghệ, về kinh doanh nhà hàng. Quán Huynh Đệ ở Pasteur và Lên Đường ở Bờ Sông đều là của ổng. Nay ổng mới mở khách sạn nhà hàng Gà bên quận Tư. Ổng nhờ em mời vài anh em các báo đến dự làm quen, mai mốt có tiệc tùng đến ủng hộ ông sẽ tính giá hữu nghị. Anh đi không?
Đi nhậu là “chuyện thường ngày ở huyện” với Phong. Quán nhậu còn là các trung tâm cung cấp thông tin cho dân làm báo. Phong lại thích giao thiệp với đủ loại người, để có thêm vốn sống và hiểu biết tâm lý các loại nhân vật. Hồi trẻ, Phong có đọc Điệu ru nước mắt của Duyên Anh, viết về trùm xã hội đen Đại Cathay, người đứng đầu trong “tứ đại thiên vương” Đại - Tỳ - Cái - Thế của Sài Gòn. Rồi Loan Mắt Nhung của Nguyễn Thụy Long, cũng về cuộc sống của dân anh chị. Được Thắng rủ, Phong nghĩ ngay đến chuyện biết đâu mình sẽ viết được gì về ông trùm này, hoặc tối thiểu cũng có thêm kiến thức về một mảng đề tài còn mù tịt. Nghe Thắng kể tên vài đồng nghiệp có cỡ trong làng báo sẽ cùng tham dự, Phong gật đầu ngay.
Lần đầu gặp, Phong hơi ngạc nhiên. So với danh tiếng thì Ba Gà có vẻ tầm thường, người thấp bé, lưng hơi gù, mái tóc cắt bum-bê kiểu nghệ sĩ Minh Vương, ăn mặc xuề xòa, áo sơmi trắng cụt tay bỏ ngoài quần. Nổi trội là cặp mắt lanh lợi, giảo hoạt. Tiệc nhậu dành tiếp thượng khách, trong phòng riêng, vừa khách vừa chủ khoảng mươi người. Sau tiệc, Ba Gà mời các nhà báo đi tiếp tăng hai, vào một tiệm massage gần bên để... giải rượu. Ông nói: “Các anh yên tâm, chỉ là đấm bóp cho thư giãn, hết mệt mỏi, hoàn toàn lành mạnh!”.
Đúng vậy. Phòng massage chính của tiệm là một phòng chung không vách ngăn, khách nằm dài sắp lớp trên nệm cho các cô nhân viên đấm bóp điệu nghệ, đúng bài bản. Tình cờ ông trùm nằm sát bên Phong. Đang nằm lim dim tận hưởng cảm giác sảng khoái, Phong bỗng nghe cô nhân viên thì thào:
– Anh là bạn anh Ba?
Phong chọn giải pháp hỏi ngược lại:
– Có gì không em?
– Hôm kia em đi làm về khuya, bị tụi nó giựt mất sợi dây chuyền. Tài sản em chỉ có chừng đó phòng thân. Em nhờ anh nói với anh Ba lấy nó lại giùm em.
Phong ngạc nhiên nhìn cô:
– Hôm kia? Hai ngày rồi? Làm sao lấy lại được?
Cô gái năn nỉ:
– Anh cứ nói với anh Ba đi.
Ông trùm đã nghe được, quay qua:
– Có chuyện gì vậy?
Cô gái kể lại sự việc. Ông trùm nhìn Phong:
– Anh muốn giúp con nhỏ này không?
Phong biết ông muốn lấy uy cho anh với cô gái. Sau khi Phong gật đầu, ông trùm hỏi cô gái ngày giờ và nơi bị giựt, đặc điểm của sợi dây chuyền, rồi móc điện thoại ra gọi, trao đổi vài câu ngắn gọn.
– Chừng ba chục phút nữa nó đem tới! - Ông cúp máy tuyên bố.
Y như lời! Khoảng nửa tiếng sau, đúng sợi dây chuyền đó được đem đến trả tận tay khổ chủ! Cô gái cảm ơn “anh Ba” rối rít, trong khi Phong nhìn sững ông. Quả là đáng nể!
Phong cũng nghĩ ông trùm này, với bao cơ sở làm ăn lớn như vậy, chắc đã thật sự “rửa tay gác kiếm” để an hưởng giàu có. Không ngờ, sau đó không lâu, giang hồ xảy ra hai chuyện lớn. Một vụ “loạn đao phanh thây” một anh cảnh sát hình sự. Một vụ bắn chết một trùm xã hội đen phía Bắc vào thành phố gây dựng sự nghiệp. Các hướng điều tra đều dẫn đến Ba Gà. Một chuyên án được chính Bộ công an thành lập, giao cho một ông tướng nổi tiếng bàn tay sắt. Ba Gà bị bắt. Vỡ ra hàng loạt tội ác khác, cùng một danh sách dài ngoằn các nhân vật liên quan bao che, tiếp tay, trong công an, tòa án và cả báo chí. Có Toàn Thắng.
Có cả một ông thứ trưởng từng là thần tượng của Phong. Trong một chuyến cơ quan an ninh đưa phóng viên các báo đi tường trình lại vụ án bắt gián điệp từ Thái Lan về, một đêm trong sân ủy ban huyện Trần Văn Thời tỉnh Minh Hải[5], Phong đã được ngồi nhậu cạnh ông. Cuộc nhậu kéo dài đến quá nửa đêm, chỉ còn lại đúng bốn người, “trà tam rượu tứ”. Lúc ấy ông còn làm công an tỉnh, trực tiếp cầm quân, đám phóng viên không ai ngờ ông từng học Lasan Taberd Sài Gòn, kiến thức uyên bác. Biết Phong có học tiếng Pháp, ông đố chữ: “Nếu thành Paris mất người này thì sẽ bị thất thủ”. Phong bí. Ông đáp đó là chữ A. Paris mà mất chữ a thì còn pris, là bị chiếm đóng. Sau nhiều năm, không ngờ ông lại bị Ba Gà lấy mất chữ a, thất thủ!
Đời sống kinh tế cả nước khá lên. Hoạt động bao chí cũng ngày càng lớn mạnh. Các tờ báo lớn ra đủ loại ấn phẩm phụ. Ban ngành, hội đoàn trung ương địa phương nào cũng có thể xin ra tạp chí, thực chất đều do tư nhân núp bóng. Đã qua rồi cái thời truyền tụng “nhà văn, nhà báo, nhà giáo bằng nhà nghèo”, ít nhất là với cánh nhà báo ở các thành phố lớn. Nghề báo trở thành một nghề có thể sống khỏe, đặc biệt với những ai biết sử dụng ngòi bút như một cần câu cơm. Những bài báo có mùi tiền ngày càng nhiều, nhất là với các nội dung đánh bóng nhân vật, quảng cáo sản phẩm. Bởi cùng nội dung đó nếu đăng trên các trang quảng cáo, vừa tốn kém hơn vừa không hiệu quả bằng.
Nhưng đắt tiền nhất lại là các bài báo đã viết nhưng... không đăng, được dùng như một món hàng trao đổi. Những phóng sự điều tra về các tiêu cực, yếu kém của một cá nhân, đơn vị. Không cần viết hoàn toàn chính xác, nếu đăng lên là đủ thấy mệt. Cấp trên sẽ bắt tường trình, thanh tra quần tới quần lui, công an kinh tế vào cuộc... Sự im lặng của nhà báo hư hỏng thường có giá cao. Việc ra tay bênh vực, cứu chữa của họ trên mặt báo khi tai ương vừa xảy ra lại càng cao giá hơn. Trong vụ Ba Gà, có cả một ông lớn ở hội nhà báo trung ương bị bắt vì ăn tiền viết mấy bài báo ra sức bảo vệ.
Cứ vài tháng lại thấy có tin một, hai nhà báo dỏm bị bắt, khi đang lừa bịp doanh nghiệp. Nhà báo dỏm với thẻ giả, còn sống được với các chiêu trò hù dọa, lừa bịp, xin quảng cáo..., thử hỏi có hay không những nhà báo thật lặng lẽ kiếm tiền sau mặt báo mà chưa bị phát giác? Những nhà báo “thật” này có đáng lên án hơn những nhà báo “dỏm” kia không?
Có mặt gần như ngay từ đầu trong làng báo thành phố, nhưng Phong không thể nhớ từ bao giờ bắt đầu có những phóng viên chỉ săn tin qua điện thoại hoặc lên mạng sao chép cắt dán nhiều nguồn thông tin thành tin, bài của mình. Phóng viên giờ đây hiếm ai chịu lặn lội đi vùng sâu vùng xa, việc xảy ra ở đâu cứ nhờ cộng tác viên ở đó. Rồi từ bao giờ phóng viên bắt đầu có thói quen nhận bao thư khi đi họp báo? Từ bao giờ xuất hiện những người đến nơi, nhận bao thư và lấy tài liệu xong, là biến? Bỗng đương nhiên thành quy luật, không có bồi dưỡng thì đừng mong được đưa lên báo, đài. Đã hình thành thực trạng một số phóng viên trong cùng một lãnh vực kết băng kết nhóm, cùng nâng cùng đập. Từ khi có báo mạng, tình trạng lộn xộn càng tăng. Người ta viết và cho đăng vô tội vạ những bài báo giựt gân câu khách kèm hình ảnh hở hang, đi sâu vào khai thác đời tư và chuyện phòng the. Khi người ta giàu lên thì tính lý tưởng dường như giảm xuống. Ai cũng loanh quanh với mái nhà êm ấm đủ đầy của mình thì còn đầu óc đâu nghĩ đến chuyện thiên hạ, nhất là khi chuyện “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” đấu tranh chống lại bất công xã hội giờ đây đã quá nguy hiểm. Hình ảnh nhà báo mất đẹp dần, thậm chí gây chán ghét trong những người thường xuyên bị nhũng nhiễu.
Vì Dân liên tục đấu tranh và tìm biện pháp hạn chế tối đa các tiêu cực này. Sinh hoạt chi hội nhà báo thường xuyên có nội dung trau dồi đạo đức nghề nghiệp. Buổi nói chuyện của nhà báo già Thành Ý làm mọi người bật cười nhưng thấm thía. Ông so sánh việc một nhà báo trượt vào con đường quà cáp sẽ diễn ra qua năm giai đoạn y như với bất kỳ cán bộ công chức nào. Đầu tiên là từ chối không suy nghĩ, sau đó lần lượt là suy nghĩ rồi từ chối, suy nghĩ rồi nhận, nhận không suy nghĩ, cuối cùng là đặt vấn đề tại sao không có?
Toàn Thắng ra tòa, vào tù cùng vài phóng viên khác. Nhà báo cũng phải nghiêm khắc trả giá cho các sai phạm đạo đức của mình. Phong vào trại giam thăm, Thắng khóc:
– Em xin lỗi đã không nghe lời anh. Em hối hận quá!
Phong thở dài. Có những sai lầm thật quá khó để lấy lại những gì đã mất.
❀ ❀ ❀
[1] Em nghĩ về anh trên từng bước đường… Em mong cuộc đời tử tế với anh. Và em mong anh có tất cả những gì anh mơ ước. Và em cầu chúc anh luôn được yên vui hạnh phúc. Nhưng trên tất cả, em cầu chúc anh tình yêu. Và em sẽ mãi yêu anh… - Lời ca khúc I will always love you của Dolly Parton.
[2] Thẻ công nhận là thường trú nhân, chưa phải công dân.
[3] Phương pháp giáo dục trẻ em của bà Maria Montessori (1870-1952) rất nổi tiếng quốc tế, giúp trẻ có tư duy độc lập ngay từ lúc mầm non.
[4] Lãnh vực liên quan đến vụ án, công an, tệ nạn.
[5] Nay tách thành hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu