Những Đứa Con Của Cơn Lốc Xoáy

Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Trong lúc bữa tối đang được chuẩn bị trên xưởng vẽ, ở bên dưới, Larry rẽ qua một góc phố và rảo bước tiến vào con hẻm nhỏ dẫn đến hiệu cầm đồ. Anh khựng lại, ngó nghiêng trước khi bước vào; hành động ấy xuất bản năng thận trọng đã ngấm vào máu thịt qua bản năng và tôi luyện.

Dựa người vào quầy hàng bên trong và đang trò chuyện với người trợ lý của bà ngoại anh là Casey, một trong hai cảnh sát mặc thường phục đã bắt giữ anh. Larry lùi lại. Anh không hề sợ Casey, hay Gavegan – đồng nghiệp của hắn, hay toàn bộ lực lượng cảnh sát, hay cả tiểu bang New York; bọn họ chẳng có cớ gì để bắt anh, anh đã trả xong món nợ đời bằng cách thi hành xong án phạt của mình. Mặc dù vậy, anh vẫn thích không phải chạm mặt Casey vào lúc đó hơn. Thế là anh bỏ đi dọc con phố, băng qua quảng trường lát đá cội ven bờ sông, rồi luồn lách qua bóng tối giữa những chiếc xe tải để ra tận đầu cầu tàu. Dưới chân anh, dòng sông Đông vỗ sóng ì oạp vào nhữngh cọc móng, nhưng ở phía ngoài giữa dòng, anh có thể thấy dòng nước đang cuồn cuộn đổ ra biển với tốc độ sáu dặm một giờ, hướng về phía chiếc cầu Manhattan vĩ đại mờ ảo trong bóng đêm, đỉnh cầu rực rỡ một vầng vương miện ánh sáng.

Anh vươn vai và hít một hơi thật sâu bầu không khí mùa xuân ấm áp và tự do. Thật tuyệt vời làm sao sau hai năm dài đằng đẵng hít thở bầu không khí tù đọng trong tù. Anh suýt muốn cởi bỏ quần áo và lao xuống sông để có một trận chiến sảng khoái với làn nước mát lạnh râm ran. Larry vốn luôn thích giữ cho cơ thể mình săn chắc. Anh chẳng màng gì đến những phòng tập của các câu lạc bộ khu phố nơi anh lẽ ra đã được chào đón; ở đó có quá nhiều trò đùa cợt thô lỗ và những lời lẽ tục tĩu, thứ mà từ trước đến nay anh vẫn luôn ghé tởm. Và dù luôn ăn mặc lịch sự như một quý ông, anh vẫn thừa biết rằng Câu lạc bộ Thể thao New York cùng những câu lạc bộ tương tự không dành cho mình; họ săm soi quá kỹ về địa vị xã hội và nghề nghiệp của một ứng viên. Thế nên anh đã tìm đến một nơi mà những cuộc điều tra kỹ lưỡng hiếm khi xảy ra; suốt nhiều năm, anh là hội viên của một chi nhánh Y.M.C.A. nằm ngay gần Đại lộ Broadway, nơi anh chơi bóng ném và đấm bốc với những gót chân nặng nề, những thám tử thành phố cục mịch đang chật vật duy trì chút hoạt động thể chất, với những nhà viết kịch béo ú, với những giám đốc rạp hát người Do Thái, và với vài vị tín đồ Cơ đốc giáo chính thống hiếm hoi thỉnh thoảng đi lạc vào chốn ấy và tỏ ra không mấy thoải mái. Anh thích câu lạc bộ này vì một lý do khác nữa; óc hài hước của anh thường xuyên bị kích thích mạnh mẽ khi nghĩ đến chuyện mình lại là hội viên của Y.M.C.A.

Vốn có sẵn bản năng rèn luyện thể chất, anh không lấy làm phiền lòng lắm khi phải làm công việc cào than trong suốt phần lớn thời gian ở Sing Sing; thà làm việc đó còn hơn là lao động trong xưởng dệt kim; thế nên giờ đây, dẫu cho cơ thể có phần gầy gò và thiếu cân, anh vẫn vô cùng nhanh nhẹn và rắn rỏi từng thớ cơ.

Larry Brainard không tài nào cắt nghĩa được vì sao và từ thời điểm nào, anh lại rẽ bước sang con đường lầm lỗi. Anh chưa từng mổ xẻ phần đời đó dưới kính hiển vi. Nhưng sự thật đơn giản là anh đã mồ côi từ năm mười lăm tuổi và trở thành nhân viên môi giới chứng khoán ở tuổi mười chín sau khi hoàn thành một khóa học tại trường thương mại; và chính những trải nghiệm với các vụ giao dịch giả tạo cùng những thủ đoạn mờ ám, đáng ngờ của giới môi giới, nhiệt huyết tuổi trẻ, bản năng ham vui, khao khát kiếm những khoản tiền lớn — tất cả những điều đó đã cuốn anh vào một đám đông hoang dã từ trước khi anh đủ tuổi để tự coi trọng bản thân, đồng thời đẩy anh bước vào một sự nghiệp lừng lẫy với đầy rẫy những cuộc phiêu lưu và kiếm tiền phi pháp mà sự kích thích của nó chưa từng dứt cho đến ngày anh bị bắt. Anh chưa từng suy nghĩ về những chủ đề mang tính kỹ thuật và hàn lâm cao như đúng và sai cho đến tận ngày Casey và Gavegan còng tay anh lại. Được cười, được nhảy múa, được lên kế hoạch và đạo diễn những cú lừa tinh vi, được tiêu xài tiền kiếm được một cách vui vẻ và phóng túng — được thách thức cảnh sát bằng một vụ lừa đảo táo bạo khác: đó mới chính là cuộc sống đối với anh, một trò chơi tràn ngập sự kích thích.

Và giờ đây, sau hai năm có thừa thời gian để suy ngẫm, lương tâm anh vẫn không hề cắn rứt về những tội lỗi của mình. Anh tin rằng, và phần lớn là đúng khi tin như vậy, những kẻ khờ khạo mà anh từng lừa phỉnh đều mang dã tâm kiếm lợi bất chính và tìm cách thủ đoạn lợi dụng bản thân anh — kẻ mà chúng tưởng là ngu ngốc — cùng những nạn nhân khác. Anh chỉ đơn giản là khôn ngoan hơn chúng mà thôi; về mặt mong muốn và ý định, chúng cũng chẳng khác nào những kẻ bịp bợm giống như anh. Thế nên anh chẳng cảm thấy chút hối hận nào đối với các nạn nhân của mình; còn về những việc anh từng làm chống lại thực thể vô tri ấy là bộ luật hình sự, thì chà, khoảng thời gian trong tù đã xóa sạch mọi chuyện đó rồi. Do đó, giờ đây anh đối mặt với cuộc sống một cách vui vẻ và với một tâm hồn vô tư lự.

Larry vừa quay lưng khỏi dòng sông tối tăm và bắt đầu bước ngược trở lại thì nhìn thấy một bóng người đang tiến đến qua màn đêm. Larry khựng lại. Gã đàn ông đến gần và dừng lại ngay trước mặt Larry. Dựa vào dáng điệu oai vệ của gã, Larry đã nhận ra đó là ai, và cơ thể anh theo bản năng chợt căng cứng lại.

“Mày đang làm cái quái gì ở đây thế, Brainard?” Giọng nói cộc cằn và thô lỗ.

“Đang gửi những nụ hôn gió sang tận Brooklyn,” Larry lạnh lùng đáp. “Còn anh đang làm gì ở đây thế, Gavegan?”

“Theo dõi mày. Tao muốn có một buổi nói chuyện riêng với mày. Tao đã bám sát gót mày kể từ khi mày đặt chân đến New York.”

“Tôi biết anh sẽ làm thế mà. Cả anh và Casey nữa. Nhưng các người chẳng có bằng chứng gì để buộc tội tôi cả.”

“Tao có khối thứ để tóm cổ mày từ trước rồi!—với sự trợ giúp của Casey,” Gavegan hằn học đáp. “Và tao sẽ lại tóm được khối thứ từ mày nữa cho mà xem!—bây giờ thì tao biết mày chính là thủ lĩnh của một băng nhóm tinh vi rồi đấy. Mày sẽ lại giở trò suôn sẻ nào đó thôi—nhưng tao sẽ kè kè theo dõi mày từng phút một. Và tao sẽ tóm được mày. Đó là tin tao muốn cho mày biết đấy.”

“Thế cơ à!” Larry kéo dài giọng bình luận. “Casey là một gã khá tử tế, nếu xét theo nghề nghiệp của hắn—nhưng này Gavegan, tao không hiểu sao Casey lại có thể chịu đựng được một kẻ đồng nghiệp như mày nữa. Và này Gavegan, tao cũng chẳng hiểu tại sao Sở Y tế lại để mày nhởn nhơ ngoài đường phố—khi mà một khối vật chất đang thối rữa lại gây ra ngần ấy bệnh tật.”

“Cái mồm láo xược của mày đấy, đồ ranh con!” Gavegan gầm lên. Hắn bước lại gần hơn, lừng lững trùm bóng lên người Larry. “Mày nghĩ mày khôn lỏi lắm và là một tay mưu lược tài tình lắm đấy phỏng—nhưng tao cá là tao sẽ tống cổ được mày vào tù trong vòng sáu tháng nữa.”

Cơn giận bùng lên trong lòng Larry. Đối với tất cả những kẻ có liên quan đến vụ bắt giữ, xét xử và giam cầm của anh, anh không hề có chút căm hận đặc biệt nào, ngoại trừ gã đàn ông này. Anh chưa bao giờ có thể quên được khoảng thời gian hắn và Gavegan nhốt anh vào một căn phòng cách âm, lúc đó tay anh đang bị còng, và Gavegan đã tra tấn anh theo kiểu “khảo cung” — trong trường hợp này là một khúc vòi cao su dày, được quất xuống đầu và vai bởi một cánh tay khỏe mạnh — nhằm ép anh phải khai ra đồng bọn. Và màn tra tấn đó chỉ là một ví dụ nhỏ cho bản chất của Gavegan mà thôi.

Larry kìm chế cơn giận dữ của mình. “Vậy anh cá là sẽ tóm được tôi cơ đấy. Tôi nhận lời cá đó — bao nhiêu tiền tùy thích. Tôi đã vạch sẵn một kế hoạch mới rồi, Gavegan ạ. Tinh vi hơn bất cứ thứ gì tôi từng thử trước đây.”

“Ồ, rồi tao sẽ tóm được mày!” Gavegan lại gầm lên.

“Ồ, không đời nào đâu!” Và rồi cơn giận cũ của Larry đối với Gavegan trào lên đầu lưỡi, khiến anh cất lời mỉa mai chế nhạo. “Lần trước anh có tóm được tôi đâu; đó chỉ là một sơ hở và đám chỉ điểm của cảnh sát đã túm được tôi thôi. Chỉ dựa vào sức mình anh thôi, Gavegan ạ, anh chẳng tài nào tóm nổi ai đâu. Bộ óc của anh bị thủ lốp rồi, động cơ thì không thèm nổ, còn côn thì hỏng bét. Thứ duy nhất trên đó còn hoạt động được chính là cái còi. Anh có cái còi to vãi đạn ra đấy, Gavegan, và nó chẳng bao giờ chịu ngậm lại cả.”

Một chiếc tàu lai đang tiến đến gần cầu tàu, và nhờ ánh đèn từ tàu, Larry nhìn thấy cú vung tay kinh hoàng mà tên thám tử đang nổi giận tung ra. Larry hơi nghiêng người tránh sang một bên, và khi Gavegan lao hụt qua, tay phải của Larry giáng một cú trời giáng vào cằm hắn — giáng xuống bằng tất cả sự căm ghét cùng toàn bộ sức mạnh tích lũy từ năm năm tập luyện ở phòng tập Y.M.C.A. và một năm làm việc trong phòng lò hơi ở nhà tù.

Gavegan ngã vật ra và bất tỉnh nhân sự.

Larry đứng nhìn gã đàn ông đang nằm dài mờ ảo trong bóng tối trong giây lát, đoạn quay người rời khỏi cầu tàu và một lần nữa tiến đến cánh cửa hiệu cầm đồ. Casey đã đi mất; anh chẳng nhìn thấy ai bên trong ngoài lão Isaac, người phụ việc.

Larry mở cửa bước vào. “Chào Isaac. Bà ngoại đâu rồi?”

Việc thể hiện sự ngạc nhiên hay tò mò vốn không phải là một phẩm chất đáng hoan nghênh ở một kẻ dính dáng đến hiệu cầm đồ, nơi đồng thời cũng khét tiếng là một ổ tiêu thụ đồ gian. Thế nên câu trả lời của Isaac chỉ giới hạn trong một vài chi tiết và sự chỉ dẫn ngắn gọn.

Đầy vẻ hoang mang, Larry bước lên cầu thang dẫn ra từ phòng làm việc riêng phía sau hiệu cầm đồ. Việc bà ngoại anh cho thuê tầng ba vốn là chuyện thường ngày; nhưng cho một họa sĩ thuê, lại còn là một tên họa sĩ điên — điều đó có vẻ thật kỳ lạ. Và kỳ lạ hơn nữa là việc bà lại đang dùng bữa tối cùng với gã họa sĩ đó.

Larry gõ cửa. Một giọng nam trầm vang lên từ bên trong ra lệnh:

“Làm người hầu phòng đi, Maggie, xem ai ở ngoài đấy.”

Cửa mở và Larry nửa bước vào trong. Sau đó anh khựng lại, ngạc nhiên ngắm nhìn Maggie đang ửng hồng và rạng rỡ, thon thả và uyển chuyển trong những nếp vải của chiếc khăn choàng Tây Ban Nha.

“Ơ kìa, Maggie!” anh thốt lên, đưa tay ra.

“Larry!”

Cô ngẩn ngơ vì sự ngưỡng mộ đầy bất ngờ của anh. Trong khoảnh khắc, họ đứng nhìn nhau, tay trong tay. Bộ quần áo được phát cho anh khi rời tù quả thực rất tệ hại, nhưng về mọi mặt khác, anh hoàn toàn vượt xa những giấc mơ của cô: dẻo dai, vươn cao cân đối, đẹp trai, nụ cười luôn trực sẵn trên môi, và ẩn chứa vẻ tinh ranh đầy táo bạo trong đôi mắt màu xám xanh đang mỉm cười.

“Em lớn nhanh thật đấy, Maggie!” anh nói, vẫn chưa hết ngạc nhiên.

“Đó là tất cả những gì em phải làm trong suốt hai năm qua đấy,” cô đáp lại.

“Vào đi cháu, Larry,” Nữ Công tước lên tiếng.

Larry đóng cửa lại, cúi đầu duyên dáng khi đi lướt qua trước mặt Maggie, rồi bước đến chỗ Nữ Công tước.

“Cháu chào bà,” anh nói cứ như thể vừa mới gặp bà vào ngày hôm qua. Anh chìa tay ra, bàn tay trái, và bà nắm lấy nó bằng cái vuốt tay khô khốc như xác ướp. Suốt cuộc đời mình, anh chưa từng hôn bà ngoại, và cũng chẳng nhớ nổi có bao giờ được bà hôn lấy một lần.

“Mừng cháu về nhà, Larry.” Bà buông tay anh ra. “Gã đó tên là Hunt.”

Larry quay sang nhìn gã họa sĩ. Đôi mắt hay cười của anh có lúc rất sắc bén; và giờ đây chúng sắc bén đến thấu xương. Đôi mắt của Hunt cũng vậy.

Larry chìa tay ra, lại là tay trái. “Và anh chính là họa sĩ đó ư?”

“Người ta gọi tôi là họa sĩ,” Hunt đáp, “nhưng chẳng ai trong số họ tin tôi là họa sĩ cả.”

Larry lại quay sang Maggie. “Và em thực sự là Maggie ư? Không có ý chê bai gì đâu nhé” — và trên khuôn mặt anh nở nụ cười táo bạo đến mức khó lòng mà nổi giận nổi — “anh không hiểu sao con gái của lão Jimmie Carlisle lại có được vẻ ngoài xinh đẹp thế này nếu không phải đi ăn cắp.”

“Thế thì,” Maggie đáp trả, “em cũng chẳng hiểu anh có được vẻ ngoài như thế bằng cách nào nếu như—”

Cô bỗng khựng lại và cắn môi. Cô vừa định đáp trả bằng cách đem khuôn mặt của Larry ra so sánh với người bà ngoại nhăn nheo, mũi khoằm của anh. Tuy nhiên, tất cả bọn họ đều nhận ra ý định của cô.

Larry lập tức đến giải vây cho cô với sự tự nhiên đến mức gần như không thể nhận ra.

“Bữa tối kìa!” anh thốt lên, nhìn chằm chằm vào đủ loại món ăn bày trên bàn. “Cháu có được mời không đấy?”

“Mời chứ?” Hunt nói. “Cậu là khách danh dự cơ mà.”

“Vậy vị khách danh dự có thể xin phép được tút tát lại chút xíu được không ạ?” Larry rút tay phải ra khỏi túi áo khoác, nơi anh đút từ nãy đến giờ, và bắt đầu tháo chiếc khăn tay mà anh đã quấn quanh các khớp ngón tay lúc đi ngang qua cầu tàu.

“Tay anh bị thương nặng lắm à?” Maggie sốt sắng hỏi.

“Chỉ sứt da ở khớp ngón tay thôi.”

“Sao lại thế?”

“Chẳng may nó va phải cằm của một gã cảnh sát khi hắn đang cố chơi trò thôi miên với tôi. Giờ thì hắn chắc đang tỉnh lại rồi. Viên cảnh sát Gavegan ấy mà.”

“Gavegan!” Hunt thốt lên. “Cậu vớ phải một tay xương xẩu thật đấy. Cậu thanh niên ạ, cậu có màn khởi đầu hoành tráng đấy — tội hành hung cảnh sát ngay trong ngày đầu tiên được thả ra khỏi tù.”

Larry mỉm cười. “Gavegan là một gã bẩn thỉu, nhưng hắn sẽ chẳng dám cáo buộc tội hành hung đâu. Hắn tự nhận mình là nhà vô địch quyền Anh hạng nặng của Sở Cảnh sát cơ mà. Sẽ là một vết nhơ lớn cho danh tiếng của hắn, phải không nào, nếu hắn thừa nhận trước công chúng rằng mình đã bị hạ gục bởi một gã tay không, kẻ mà người ta cho là đang suy nhược vì đời sống tù tội, lại còn nhẹ hơn hắn tận bốn mươi cân. Hắn sẽ bị cười vào mặt suốt dọc đường cho xem. Ồ, Gavegan sẽ chẳng hé răng nửa lời đâu.”

“Hắn sẽ tìm cách trả đũa bằng cách khác cho mà xem,” Hunt nói.

“Tôi đoán là hắn sẽ thử,” Larry thản nhiên đáp. “Phòng sơ cứu ở đâu thế nhỉ?”

Hunt dẫn anh đi qua mấy tấm rèm cửa. Khi anh bước ra, Hunt, Maggie và Nữ Công tước đều đang bận rộn dọn bữa tối lên bàn. Sự có mặt của anh lúc này chỉ thêm vướng víu, thế nên ánh mắt Larry vô tình lướt qua những bức canvas đang dựng trong góc tối sát vách tường.

“Anh Hunt này,” anh nhận xét, “anh xem ra đã tạo được một thứ danh tiếng rất ư là chân thực ở cái khu này đấy. Lão Isaac dưới nhà bảo tôi là anh bị điên — bảo họ gọi anh là ‘Đồ dở hơi’ — bảo anh là gã họa sĩ tồi tệ nhất từng xuất hiện trên đời.”

“Ừ, bọn chúng nói thế đấy,” Hunt đồng tình.

“Chúng thật sự khủng khiếp lắm đấy, Larry,” Maggie bước đến bên cạnh anh, xen vào. “Bố em nghĩ chúng chỉ là trò hề, mà bố thì chắc chắn là rành tranh ảnh rồi. Cứ nhìn thử vài bức xem.”

“Ừ, cứ nhìn đi rồi cười cho đã đời vào,” Hunt mời mọc.

Larry cầm bức chân dung của Nữ Công tước đến dưới bóng đèn điện đang lủng lẳng và săm soi thật kỹ. Maggie, đứng sát bên vai anh, chờ đợi tiếng cười phát ra từ anh; còn Hunt thì nhìn anh bằng nửa con mắt. Nhưng Larry không hề cười. Anh lặng lẽ đặt bức tranh lại chỗ cũ, rồi ngắm nghía chân dung của lão Jimmie — rồi đến Maggie — rồi đến bức madonna người Ý, được đặt uy nghi trên vỉa hè. Anh đặt bức cuối cùng này về chỗ cũ và sải bước nhanh về phía Hunt. Maggie kinh ngạc theo dõi hành động này.

Larry đối mặt với gã họa sĩ to xác. Cơ thể anh căng cứng, các nét mặt đanh lại vì nghi kỵ. Khoảnh khắc ấy, người ta có thể hiểu vì sao đôi khi anh được gọi là “Larry Đáng sợ”; trông anh lúc bấy giờ chẳng khác nào một quả bom tàn phá vẫn chưa chịu phát nổ.

“Trò của anh dưới này là gì thế, Hunt?” anh lạnh lùng hỏi dồn.

“Trò gì cơ?” gã họa sĩ to xác lặp lại. “Tôi không hiểu ý cậu.”

“Có, anh hiểu thừa đi chứ! Anh đang đóng giả làm một tên đần độn bôi bẩn mấy tấm canvas dưới cái xó này!”

“Thế thì có gì sai nào?”

“Chỉ thế này thôi: đó không phải là những nét vẽ nguệch ngoạc của kẻ điên. Chúng là những bức tranh thực thụ!”

“Hả!” Hunt thốt lên. Maggie ngẩn ngơ trân trối nhìn hai người đàn ông.

Hunt lại cất lời. “Quỷ thật, cậu biết gì về tranh ảnh cơ chứ? Lão Jimmie, kẻ được coi là sành sỏi, nghĩ rằng tất cả mấy thứ này chỉ là tranh hài hước thôi đấy.”

“Jimmie chỉ nghĩ một bức tranh là đẹp sau khi hàng nghìn nhân viên truyền thông bảo nó đẹp mà thôi,” Larry đáp lại. “Tôi từng học ở Học viện Thiết kế trong hai năm, cho đến khi nhận ra mình chẳng bao giờ có thể vẽ được. Nhưng tôi biết nhìn tranh.”

“Và cậu nghĩ tranh của tôi đẹp ư?”

“Không theo kiểu thị hiếu phổ thông — chúng quá độc đáo. Nhưng chúng tuyệt vời. Và anh là một họa sĩ vĩ đại. Và tôi muốn biết—”

“Hoan hô!” Hunt hét lên, vòng một cánh tay đầy nhiệt huyết qua cổ Larry và bắt đầu đấm thình thịch vào lưng anh. “Ôi chao! Ôi chao!”

Larry giật mình vùng ra. “Thôi ngay cái trò đó đi. Thế là anh thừa nhận mình là một họa sĩ vĩ đại rồi nhé?”

“Đương nhiên tôi là một họa sĩ vĩ đại rồi!” Hunt lớn tiếng. “Còn ai hiểu rõ điều đó hơn tôi nữa cơ chứ?”

“Thế thì một họa sĩ vĩ đại lại làm cái quái gì ở dưới cái xó này? Trò bịp bợm mà anh đang cố giở ra khi đóng giả làm—”

“Nghe này, chàng trai,” Hunt cười toe toét. “Cậu đã bắt tẩy được tôi rồi và tôi đành phải ngửa bài thôi. Chỉ có điều cậu không bao giờ được phép kể lại — Maggie cũng vậy; dẫu sao thì Nữ Công tước cũng chẳng bao giờ hé răng nửa lời. Chẳng có lý do gì phải phiền cậu lúc này bằng một đống chi tiết về bản thân tôi cả. Chỉ cần nói thế này cho vuông: thiên hạ sẽ chẳng thèm trả tiền cho tôi trừ khi tôi vẽ mấy thứ rác rưởi nịnh mắt quen thuộc; chẳng ai tin vào mớ phong cách khác mà tôi muốn làm cả. Tôi muốn rời xa cái lũ đó; tôi muốn thực hiện những bức nghiên cứu thực sự về con người, với bản chất thật sự của họ được bộc lộ rõ ràng. Thế nên tôi cao chạy xa bay. Cậu hiểu đến đây chưa?”

“Nhưng tại sao lại phải đóng vai một kẻ đần độn ở dưới này?”

“Tôi chưa bao giờ phao cái tin rằng mình là một kẻ đần cả. Chính những kẻ ngắm tranh của tôi rồi cười cợt đã khơi mào cái trò đời đó. Tôi chẳng dại gì mà tru tréo lên rằng mình là một họa sĩ vĩ đại, vì một lý do vô cùng chính đáng là nếu tôi làm thế, và nếu người ta tin thật, thì những kẻ làm mẫu cho tôi hoặc sẽ từ chối, hoặc sẽ trở nên ngượng ngùng đến mức cố gồng mình trông giống một ai đó khác, và sẽ chẳng bao giờ bộc lộ con người thật của họ cho tôi thấy nữa. Cứ đinh ninh tôi chỉ là một trò hề, họ cứ thế hành xử một cách tự nhiên. Mà điều đó, chàng trai trẻ ạ, lại là tất cả những gì cậu cần phải biết.”

Maggie nín thở dõi theo hai người đàn ông, bàng hoàng trước khía cạnh hoàn toàn mới mẻ này của Hunt và bị mê hoặc bởi sự tập trung sắc bén của người hùng Larry trong mắt cô.

Sự căng thẳng trong người Larry dần dịu xuống. “Tôi không biết về những mặt khác trong vỏ bọc của anh,” anh chậm rãi nói, “nhưng xét về tư cách họa sĩ thì anh đúng là một quái kiệt.”

“Mấy mặt khác của nó cũng ngon lành cả thôi,” giọng nói khô khốc, vô cảm của Nữ Công tước vang lên cắt ngang. “Bữa tối dọn xong rồi đấy. Ra ăn đi.”

Khi họ bước về phía bàn ăn, Hunt vỗ mạnh một bàn tay to lớn lên vai Larry. “Và thử nghĩ mà xem,” hắn cười khúc khích, “lại phải nhờ đến một tên tội phạm vừa mới ra tù ở Sing Sing mới phát hiện ra tôi là một nghệ sĩ lớn đấy! Cậu thật tinh ranh, Larry — tinh ranh thật đấy! Maggie, khui nắp chai ra và rót đầy những ly rượu hảo hạng nhất mang nhãn hiệu H2O nào. Cạn ly nào. Nâng ly vì Larry nào!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.