Những Ngày Thứ Ba Với Thầy Morrie

Lượt đọc: 53 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xiv - Gia Đình

❊ ❊ ❊

"Bấy giờ là tuần đầu tiên của tháng Chín, tuần-trở-lại-học-

đường, và sau ba mươi lăm mùa thu liên tiếp, ông giáo sư già của tôi không có lớp chờ đợi ông trong khung trường đại học. Thành phố Boston đông dày những sinh viên, các xe đậu song đôi trên đường phố, cùng các xe hàng đang đổ hành lý xuống. Còn tại đây là thầy Morrie trong phòng làm việc của ông. Có chút gì nao lòng, tỷ như các lực sĩ dã cầu cuối cùng cũng về hưu, để rồi vào ngày chủ nhật sau đó, ngồi nhà xem truyền hình, với ý nghĩ "Tôi vẫn có thể có mặt trong trận chơi này!" Đối với những người này, tôi được biết, điều tốt nhất là để mặc họ, một khi cái thời của họ qua. Đừng nên nói gì hết. Nhưng đối với thầy Morrie, thì tôi khỏi phải nhắc nhở đến cái thời suy tàn của ông.

Cho buổi nói chuyện thu thanh của chúng tôi, vì Thày Morrie không thể cầm một vật gì nặng trong thời gian lâu dài nữa, nên tôi đã thế cái micro cầm tay bằng loại micro thông dụng mà ngày nay các truyền hình hay sử dụng. Loại này có thể gắn được qua ve hay cổ áo. Thầy Morrie bận áo vải cotton mềm, cho nên áo thường rủ xuống trên tấm thân gầy guộc của ông, thành ra cái micro cứ tuột lên tuột xuống, và tôi cứ phải chồm tới sửa lại cho ngay ngắn. Cảm giác được săn sóc thật cần thiết cho ông trong lúc này, tôi nhận thấy ông rất vui thích mỗi khi tôi lại gần ông. Những lúc như thế, tôi nghe được tiếng thở và tiếng ho yếu ớt của ông, cùng tiếng bậm môi rất nhẹ trước khi ông nuốt nước bọt.

- "À anh bạn của tôi, hôm nay chúng ta nói về gì đây?" Ông bắt đầu.

- “Chúng ta nói về gia đình đi!"

- "Gia đình?" Ông ngẫm nghĩ một lát. "Như anh thấy đó, gia đình tôi thì ở chung quanh tôi cả đây. "

Ông đưa mắt chỉ những tấm ảnh la liệt trên các kệ sách, này tấm ông còn bé với bà nội, đây tấm lúc là chàng thanh niên cùng với người em trai, David, còn tấm nọ thì chụp với vợ Charlotte, tấm ảnh kia chụp cùng với hai con trai, Rob, một phóng viên báo chí hành nghề tại Tokyo, và Jon, một vi tính gia chuyên nghiệp, làm việc tại Boston.

- "Tôi nghĩ rằng, qua những vấn đề mà chúng ta bàn tới mấy tuần qua, gia đình lại càng quan trọng hơn hết." Ông nói.

-"Sự thật là chẳng có nền tảng nào, sự an toàn nào để con người có thể dựa vào và đứng vững cho tới ngày cuối cùng, bằng chính đơn vị gia đình. Tôi thấy điều đó rõ ràng hơn hết, khi tôi trở bệnh. Nếu ta không có sự hỗ trợ, tình yêu và lo lắng từ gia đình, thì ta chẳng có gì cả! Tình thương thật là tối quan trọng. Giống như nhà đại thi sĩ Audren đã nói: Yêu thương hay là tàn lụi".

- "Yêu thương hay là tàn lụi." Tôi chép xuống. "Audren nói thế à?"

- "Yêu thương hay là tàn lụi. " Morrie lập lại. "Hay quá chứ! Và đúng nữa. "Không có tình yêu, chúng ta tựa những con chim gẫy cánh."

"Tỷ như tôi là một người đàn ông ly dị, hay sống một mình, không con cái, thì với căn bệnh như thế này, tôi nghĩ có lẽ sẽ khó khăn hơn nhiều. Tôi không chắc là tôi có thể chịu đựng được. Tất nhiên có người sẽ tới viếng thăm, bạn bè, các bạn đồng sự, nhưng điều đó không giống như có người luôn bên ta, không bao giờ rời bỏ ta, để trông chừng và lo lắng cho ta .

"Đấy, gia đình là như thế đấy, không phải chỉ có tình thương mà thôi, mà còn là có người luôn trông lo cho mình nữa. Chính điều đó là tôi tiếc nuối nhất khi mất mẹ, điều mà tôi gọi là niềm an ninh về tinh thần – được biết rằng có gia đình sẽ luôn lo lắng cho mình. Không có gì đem lại cho ta điều đó cả, không phải tiền bạc. Không phải danh vọng.”

Ông ném về phía tôi một cái nhìn.

- "Không phải công việc." Ông nói tiếp.

Xây dựng gia đình, một trong những vấn đề nằm trong bản liệt kê của tôi - những điều ta phải làm trước khi mọi việc quá trễ. Tôi nói với Thày Morrie về vấn đề khó xử của thế hệ chúng tôi trong việc có con cái, với ý nghĩ rằng có con sẽ cản trở con đường chúng tôi đi, bỗng dưng trở thành cha mẹ, một điều nhiều người chẳng muốn. Tôi cũng thú thật đôi khi mình cũng có những cảm tưởng này.

Tôi nhìn thày Morrie và thắc mắc, nếu tôi ở trong trường hợp sắp chết như ông, mà tôi chẳng có gia đình, con cái, thì tôi có chịu đựng được sự trống vắng đó không? Ông đã nuôi và dạy hai người con trai biết yêu thương, và có tính quan tâm, chăm sóc cho gia đình. Cũng như ông cả hai không rụt rè khi phải biểu lộ tình cảm. Nếu ông tỏ ý muốn, cả hai đã ngưng công việc của họ để về với cha họ trong những giây phút cuối cùng của đời ông. Nhưng đấy không phải là điều mà thày Morrie muốn.

- “Đừng ngưng cuộc đời các con.” Ông nói với hai con. “Như vậy, không những căn bệnh này phá hoại một đời, mà hủy hoại tới ba đời sống.”

Thế đó, dù Thày Morrie sắp mất, ông đã chứng tỏ ông tôn trọng thế giới của hai con mình. Thành ra không có gì lạ mỗi khi hai người này ở bên cha họ, có một sự triìu mến hiển hiện, qua nhiều nụ hôn, tay cầm tay, câu bông đùa bên giường bệnh.

Morrie nhìn tấm hình của người con trai lớn nhất của ông và nói: "Khi người ta hỏi tôi có nên có con hay không, thì tôi không bao giờ bảo họ là phải làm như thế nào hết. Tôi chỉ nói giản dị như thế này. Không có kinh nghiệm nào như kinh nghiệm có con hết. Chỉ thế thôi. Không có gì thay thế điều đó cả. Ta không thể có với một người bạn. Không thể có với một người tình. Nếu ta muốn có kinh nghiệm là chịu trách nhiệm hoàn toàn với một con người khác, biết thế nào là yêu thương và sự liên hệ mật thiết thật sâu xa, thì ta phải có con cái."

"Như vậy có nghĩa là thầy sẽ làm lại điều đó?" Tôi hỏi ông. Tôi đưa mắt nhìn tấm ảnh Rob hôn cha trên trán, và ông đang cười, hai mắt nhắm lại.

- “Nếu cho tôi chọn lựa thì tôi có con lại không à?” Ông hỏi lại tôi, có vẻ hơi ngạc nhiên, “tôi không để lỡ cơ hội đó với bất cứ thứ gì thế giới này. Dù rằng... ”

Ông nuốt nước bọt và đặt tấm ảnh lên đùi ông.

“Dù rằng tôi phải trả một giá rất đắt. Giờ tôi sắp phải rời xa chúng rồi.”

“Giờ tôi sắp phải rời xa chúng rồi.”

Ông cắn môi, nhắm mắt lại, và lần đầu tôi trông thấy giọt nước mắt rơi xuống má ông.

*

* *

- "Và bây giờ, tới phiên anh nói." ông nhẹ nhàng lên tiếng.

- "Em ấy à?”

- “Nói về gia đình của anh. Tôi có gặp cha mẹ anh mấy năm về trước, lúc anh ra trường. Anh cũng có một người em hay chị gái phải không?”

- “Vâng. " Tôi trả lời.

- “Chị, lớn tuổi hơn phải không?” Tôi gật đầu.

- “Và một người anh hay em trai, phải không?"

- “Em trai. Nhỏ hơn.”

- “Giống tôi vậy. “ Ông nói. “Tôi cũng có người em trai”.

- "Vâng, giống như thày.”

- “Anh ta cũng có đến nhân ngày lễ ra trường của anh phải không?”

Tôi chớp mắt, và trong trí tôi hiện ra hình ảnh của tất cả chúng tôi, mười sáu năm về trước, dưới ánh nắng mặt trời, trong cái áo chùng màu xanh dương, đứng sát vào với nhau, rồi nheo mắt trong tư thế chụp hình, trong khi ai đó đếm: “Một, hai, ba... ”

“Có chuyện gì không?" Thày Morrie lên tiếng hỏi, vì ông bỗng nhận thấy tôi tự dưng im lặng.

Đúng thế, tôi có một người em trai, tóc vàng, mắt màu nâu hạt dẻ, nhỏ thua tôi hai tuổi. Anh chàng không giống chị tôi và tôi, hai chúng tôi đều tóc đen. Chúng tôi thường trêu hắn là có mấy người lạ đã đặt hắn trên thềm nhà, khi hắn còn là đứa bé. “Và một ngày nào đó, họ sẽ trở lại đem mày đi. “Thằng nhỏ khóc khi chúng tôi nói như vậy, nhưng chúng tôi vẫn cứ tiếp tục ghẹo nó”.

Hắn lớn lên như phần đông mấy đứa nhỏ nhất trong các gia đình khác, hắn được chiều chuộng, yêu thương và chòng ghẹo. Hắn ước mơ sẽ trở thành tài tử màn ảnh hay là ca sĩ. Hắn bắt chước hầu hết các chương trình trên truyền hình, và nói huyên thuyên, tía lía miệng mồm. Tôi là một đứa trẻ ngoan, hắn thì ngược lại. Tôi ngoan ngoãn vâng lời, trong khi hắn chẳng tuân theo luât lệ trong trường. Tôi tránh xa ma túy và rượu chè, hắn thì thử hết mọi thứ. Sau đó chàng ta dời qua Âu Châu, vì đời sống tà tà bên ấy thích hợp với bản tính của anh chàng hơn. Tuy thế, hắn vẫn là người được yêu thích nhất trong nhà. Khi nào có mặt hắn tại nhà, với cái tính vui tươi, lang bạt của hắn, tôi có cảm giác mình vụng về và bảo thủ.

Khác hẳn nhau như thế, tôi nghĩ rằng số phận của chúng tôi, khi trưởng thành sẽ đi về hai phía khác nhau. Tôi đoán đúng cả, chỉ trừ một điều. Từ ngày cậu tôi mất, tôi đinh ninh rằng mình sẽ có cùng số phận, sẽ bị cùng căn bệnh để rồi chết như thế. Một mặt, tôi làm việc hăng hái, mặt kia, chuẩn bị tinh thần cho căn bệnh ung thư. Tôi có thể ngửi thấy hơi thở của nó, tôi biết rằng nó sẽ tới. Tôi chờ đợi nó như một người bị án chờ đợi đao phủ thủ.

Và tôi đoán đúng. Nó tới.

Nhưng nó không đánh trúng tôi.

Nó đánh trúng em trai tôi.

Cùng một loại ung thư mà ông cậu tôi mắc phải. Ung thư lá lách. Một căn bệnh hiểm nghèo. Thế là đứa nhỏ nhất trong gia đình chúng tôi, đứa có tóc vàng, mắt nâu hạt dẻ phải trải qua những kỳ hóa chất trị liệu, và chiếu quang tuyến. Tóc hắn rụng, mặt hóp háp, xương xẩu. Đáng nhẽ người bị bệnh, phải là mình. Tôi nghĩ thầm. Nhưng em trai tôi không phải là tôi, và nó cũng không phải là cậu tôi. Hắn là người chiến đấu, nó đã từng như thế từ ngày còn bé. Khi chúng tôi vật với nhau trên sàn nhà, có khi nó cắn qua đôi giày của tôi cho đến khi tôi la lên vì đau và khi đó nó phải nhả ra.

Và thế là hắn chiến đấu với căn bệnh tận ở xứ Tây Ban Nha, nơi anh chàng sinh sống, với một loại thuốc còn đang trong thời kỳ thử nghiệm, thuốc này lúc đó và tới bây giờ vẫn chưa được công nhận tại Hoa Kỳ. Anh chàng bay khắp Âu Châu để chữa trị. Sau năm năm trị liệu, có dấu hiệu cho thấy căn bệnh thuyên giảm.

Đó là điều tốt. Điều đáng buồn là em tôi không muốn tôi có mặt bên cạnh hắn, hắn không muốn bất cứ ai trong gia đình cả. Dù chúng tôi đã tìm mọi cách liên lạc và thăm viếng, hắn để chúng tôi lơ lửng, bảo rằng đây là căn bệnh mà hắn phải tự chống đỡ một mình. Có nhiều tháng trôi qua, chúng tôi chẳng nhận được tin tức gì của hắn hết. Những lời nhắn nhủ trên máy điện thoại không được trả lời. Tôi cứ bị dằn vặt, ray rứt mãi về những gì tôi có thể làm được cho hắn, đôi khi đâm giận dữ hắn vì đã từ chối cho chúng tôi cái quyền làm điều đó.

Thế là thêm lần nữa tôi chỉ biết vùi đầu vào công việc, vì chỉ có điều này là tôi có thể kiểm soát được. Chỉ có công việc là đáp ứng với tôi mà thôi. Mỗi lần tôi kêu em tôi tại nhà, và lại nhận câu chào hỏi trên máy nhắn bằng tiếng Tây Ban Nha, một chứng cớ thấy em mình cách xa với mình quá - tôi lại cúp máy và càng làm việc thêm nữa.

Có lẽ chính đó là một lý do tại sao tôi lại thấy mình gần gũi với thầy Morrie. Ông cho phép tôi đến gần ông, mà em trai tôi thì lại không.

Nhìn lại mọi việc, có lẽ thầy Morrie đã biết hết mọi sự từ đầu.

*

* *

Mùa đông ấy chúng tôi còn bé, chúng tôi đang ở trên một ngọn đồi phủ đầy tuyết trong khu nhà nằm trong một tỉnh ngoại ô gần thành phố. Hai anh em chúng tôi đang chơi trượt băng, em trai tôi ngồi ở trên, tôi đàng sau đuôi. Cằm tôi đụng vai nó và chân nó chuồi tới đầu gối tôi.

Cái băng trượt trườn trên những mảnh tuyết đông đá. Tốc độ càng lúc càng nhanh khi chúng tôi đi xuống đồi.

“XE HƠI” có tiếng ai la lên.

Từ đàng xa, chúng tôi thấy một chiếc xe phóng đến từ con đường phía dưới, bên tay trái. Hai đứa tôi la lên và cố lái cái băng trượt qua một bên, nhưng nó cũng cứ lao tiếp về phía trước. Người lái xe bấm còi, và đạp thắng, và như phản ứng của bất cứ các đứa trẻ khác, chúng tôi nhảy ra khỏi băng trượt. Trong chiếc áo choàng đầu, chúng tôi lăn như khúc gỗ trên tuyết lạnh, ẩm ướt, với ý nghĩ mình sẽ bị đụng vào bánh xe hơi. Chúng tôi la “AHHHHH”, cùng với cơn sợ hãi, quay vòng vòng, thế giới ngả nghiêng, nghiêng ngả, lộn tùng phèo.

Và rồi, chẳng có gì cả. Chúng tôi ngừng quay, thở hổn hễn, dùng tay lau khuôn mặt ướt tuyết. Chiếc xe hơi quẹo qua đường dưới đồi, người lái xe đưa ngón tay ra mắng. Chúng tôi được bình an. Cái băng trượt thì rơi vào một đống tuyết, và các bạn chúng tôi chạy lại vỗ vai và nói: “Chì ” hay “Tụi mày có thể chết được”.

Tôi nhe răng cười với em trai tôi, cùng hòa nhập với niềm hãnh diện trẻ thơ. Ôi, chẳng có gì khó khăn cả, và chúng tôi sẵn sàng đương đầu với tử thần lần nữa.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.