Thiệu Tống

Lượt đọc: 2319 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 217
Bại tẩu

❊ ❊ ❊

Ngày hai mươi hai tháng giêng, Hàn Thế Trung suất bộ Ngự doanh tả quân hai vạn rưỡi đến Trường An.

Sở dĩ chậm hơn ngày dự tính một chút, không phải Hàn Thế Trung mải bắt nạt Tân Hưng Tông ở Vũ Quan, cũng không phải do mưa gió… đoạn đường từ Vũ Quan đi ra trời không mưa… mà là bởi vị đại tướng số một được triều đình công nhận này ra khỏi Vũ Quan không lâu, đã nhanh chóng thông qua thám báo kỵ binh, quan lại địa phương và lời cảnh báo của Vũ Văn Hư Trung, phát hiện ra điểm bất ổn của quân Kim:

Hai vạn kỵ binh tinh nhuệ, do con trai cả của Hoàn Nhan Lâu Thất là Hoạt Nữ lĩnh quân, đang đóng ở Hoa Châu, nằm giữa Thiểm Châu và phủ Kinh Triệu (Trường An), hoàn toàn không nhúc nhích, cứ như cố ý đợi ông vậy.

Cho nên, Hàn Thế Trung lập tức có ứng đối.

Một mặt ông lệnh chia quân, để một bộ phận binh mã lần lượt chiếm giữ các thành trì dọc đường làm điểm tựa chiến lược, mặt khác lại để chủ lực chậm bước, cẩn thận tiến lên, nhất thiết phải đảm bảo quân đội không lộ ra dưới uy hiếp trực tiếp của thiết kỵ quân Kim.

Đợi khi quân tiến đến Lam Điền, nơi trọng yếu cùng lúc nối với đường lớn ra Vũ Quan và đường nhỏ ven Lạc Thủy, quân Kim ở Hoa Châu vẫn không có ý chặn đánh trực diện, ông mới quyết tâm, để Hắc Long Vương Thắng đem năm nghìn người phối hợp với tướng phòng thủ do Vũ Văn Hư Trung phái tới trấn giữ Lam Điền, còn mình cùng chủ lực hơn hai vạn đột ngột tăng tốc, chạy gấp về Trường An.

Sau đó bình yên vô sự đến dưới chân thành Trường An.

Nói thế nào nhỉ, thành Trường An thời Tống tất nhiên không còn là Trường An đời Đường rộng gần trăm kilomet vuông khi xưa, nhưng vẫn là tòa thành lớn trong thiên hạ, nên Hàn Thế Trung ung dung dẫn quân vào thành, rồi lập tức ra lệnh cho các cổng lập doanh trại nhỏ để che chắn.

Nhưng cũng chỉ đến vậy thôi, khi đại quân Hàn Thế Trung vào Trường An xong, quân Kim nãy giờ im lìm như xử nữ bỗng nhiên xuất động, sức mạnh của kỵ binh trên đồng bằng phô bày rõ ràng, liên lạc giữa các thành trong chốc lát bị cắt đứt, thôn làng bị đốt phá, cầu cống cứ điểm bị chiếm cứ, toán quân nhỏ hễ lộ ra bên ngoài là gặp nạn diệt thân.

Hai vạn thiết kỵ quả thực như quét ngang hai bờ Vị Thủy, tiền phong lại càng tựa cuồng phong sậu vũ xông thẳng tới trước thành Trường An.

Suốt dọc đường, rất nhiều thành trì khiếp sợ trước sự mạnh mẽ của quân Kim và uy danh của cha con Hoàn Nhan Lâu Thất, sợ hãi trực tiếp mở cổng xin hàng, một vài nơi không chịu hàng thì rõ ràng là đang ngày xuân, vậy mà lại như lá khô cuối thu cứ thế run lẩy bẩy.

Và dường như một lần là xong, bản quân của Hoàn Nhan Hoạt Nữ trực tiếp tiến đến Bá Kiều, dựa vào nơi trọng yếu này mà lập doanh.

Nói thật, nếu Hàn Thế Trung không đến, gặp phải khí thế thế này, Trường An thành sớm đã lòng người hoang mang rồi, nhất là thủ phủ của Kinh Triệu rộng lớn, ngàn năm cổ đô, trong đó một phần vì lần động đất năm xưa mà sụp đổ nhiều, về sau tuy có bồi đắp nhưng vẫn có vẻ không được vững chắc cho lắm… thực khó mà nói thành có giữ nổi không.

Nhưng đây chẳng phải là gã Bát Hàn Ngũ nổi danh là yêu đởm của Quan Gia, dám làm điều thiên hạ chưa làm, đã quay lại Quan Tây sao? Chẳng phải hai vạn rưỡi Ngự doanh tả quân đã vào thành Trường An sao?

Hàn Thế Trung vừa mới hạ trại dưới chân thành, nhân lúc đại quân Kim chưa hoàn toàn đổ tới trước thành, sau khi tìm hiểu sơ qua kết cấu phòng thủ của thành, thế mà lại ỷ vào lợi thế thành trì doanh trại và ưu thế binh lực, chủ động xuất thành nghênh chiến:

Ngày hôm đó, trước tiên ông sai Thành Mẫn, người đã được thăng làm Thống chế quan, dẫn chỉ ba nghìn kỵ binh Bối Ngôi xuất thành tập kích, gọi là dựa vào thành trì và yểm trợ của những doanh trại nhỏ trước các cổng thành mà qua lại đánh nhau không ngừng với kỵ binh Kim; tiếp đó, lại nhân lúc lực chú ý của quân Kim bị phân tán, bỗng sai Giải Nguyên dẫn Thôi Thiên quân xuất kích…

Bốn nghìn Thôi Thiên quân, từ trong những doanh trại nhỏ trước mặt nhiều cổng thành cùng lúc tràn ra, lại có một bộ phận thậm chí từ một bức tường thành nào đó buông mình xuống, cốt sao trong thời gian ngắn nhất, toàn bộ tập hợp thành thế trận chồng lớp tại vị trí đặc định, tạo thành quy mô.

Đợi khi quân Kim tỉnh ngộ, tới ứng phó, thì thế trận cường nỏ đã thành hình tựa lưng vào thành công, quân Kim sợ thương vong, nhất thời do dự không quyết.

Bấy giờ, phó tướng của Thống chế quan là Vương Quyền dẫn mấy ngàn người từ trong thành tràn ra, mỗi người vác một bao đất, cứ thế tới thẳng trước trận cường nỏ của Thôi Thiên quân, ném bao đất xuống rồi đi… Lúc này, mấy viên Mãnh An hành quân dẫn trận của quân Kim không dám chần chừ thêm nữa, lập tức hội ý ra kết quả, sau đó, năm ngàn kỵ binh bắt đầu chủ động thúc ngựa xông vào đánh, thế nhưng đã có phần hơi muộn.

Nỗ thủ quân Tống nấp sau công sự đơn sơ, bình tĩnh tác chiến với quân Kim. Hàn Thế Trung cũng thình lình đích thân dẫn quân đột kích, từ bên sườn đến tiếp viện. Song phương gần vạn quân giao chiến ác liệt trong phạm vi hẹp từ một đến ba dặm trước thành. Chỉ trong hai khắc đã vứt lại mấy trăm xác, nhưng dù thế nào quân Kim vẫn không tài nào đánh đuổi được cánh cung nỏ tinh nhuệ dàn trận trước thành này, trơ mắt nhìn công sự khu vực này càng lúc càng phức tạp, kỵ binh càng thêm bất lực.

Cuối cùng, vì thiếu đại tướng trấn giữ, mấy mãnh an không chịu nổi thương vong lại tụ tập rồi dứt khoát rút lui. Quân Tống nhân đó lập trại thành công.

Sang ngày thứ hai, quân Kim mới chợt nhận ra mục đích thực sự của Hàn Thế Trung trong lần xuất kích này – bức tường thành phía sau tân trại của Thôi Thiên Quân, chính là đoạn tường thành Trường An ngày trước bị sập vì động đất rồi được trùng tu, trước khi thành bị Hoàn Nhan Lâu Thất phá.

Nói cách khác, Hàn Thế Trung vừa đến nơi đã chủ động xuất kích, nhanh chóng vá lại mối họa phòng thủ thành trì lớn nhất này.

Chiều hôm ấy, Hoàn Nhan Hoạt Nữ vừa từ phía bắc sông Vị quay về đại doanh Bá Kiều, không nghỉ chút nào lại tức tốc đến Trường An. Gã đi một vòng quanh thành, chỉ thấy tường thành Trường An cao lớn, sĩ khí quân Tống dâng cao, trang bị tinh lương. Gã cũng như mấy mãnh an hành quân kia, đau đầu nhức óc. Bất đắc dĩ, viên đô thống quân Kim này dứt khoát hạ lệnh cho toàn bộ binh lực tiền tuyến theo gã quay về đại doanh Bá Kiều, rồi viết thư cho cha kể khổ.

Dĩ nhiên, nói là kể khổ e không chính xác, bởi Hoạt Nữ không sợ khổ chiến.

Nhưng vấn đề ở chỗ, trước mắt thế này mà đánh thành rõ ràng là bất trí, nhất là mấy vạn kỵ binh không tìm dã chiến, lại chia quân hai mặt đánh thành, thì càng là quyết sách chiến thuật chỉ kẻ ngu mới làm… Hoạt Nữ không cho rằng chỗ Lý Ngạn Tiên dễ đối phó hơn.

Thế nhưng, vấn đề duy nhất là, kẻ ngu này chính là vị danh tướng đánh khắp Đông Á không địch thủ, là cha đẻ mà Hoạt Nữ kính phục và tôn trọng nhất, nên người này sẽ không ngu xuẩn như vậy!

Thế nên, Hoạt Nữ dần nhận ra rằng phụ thân hắn có toan tính khác, và hắn phải hỏi cho rõ rốt cuộc là toan tính gì.

Liều mạng thì được, ném quân đội không tiếc thương vong vào dưới tường thành cũng được, thậm chí muốn mạng của Hoàn Nhan Hoạt Nữ hắn cũng được, nhưng hắn cần cha hắn nói ra rành mạch.

Chỉ cần nói ra, hắn sẵn lòng vì cha mà vào nơi nước sôi lửa bỏng, hơn nữa hắn dám cam đoan, mười vạn quân Tây Lộ Quân trên dưới cũng nguyện theo mà vào nơi nước sôi lửa bỏng!

Cuối tháng giêng, ngay khi Hoàn Nhan Hoạt Nữ sai người đưa thư tay và đã chuẩn bị tâm lý dứt khoát nào đó, thì chỉ hai ngày sau, Hoàn Nhan Lâu Thất đã đích thân đến Bá Kiều… Suy cho cùng, với con trai mình, nhất là đứa con cả đã làm đến đô thống này, Hoàn Nhan Lâu Thất cũng chẳng cần cố lộng huyền hư quá.

“Trước đây ta sai con đến phía bắc sông Vị thăm dò binh mã hai lộ Kính Nguyên, Duyên Phu, tức là bọn Hồ Dần và Ngô Giới hiện đang ở đâu? Có bao nhiêu binh mã?”

Trời trong nắng đẹp, Hoàn Nhan Lâu Thất đã khôi phục vẻ nhanh nhẹn thường ngày, ruổi ngựa đến Bá Kiều. Thấy liễu dọc sông đâm chồi xanh mơn mởn, lão cũng bất giác lòng dạ khoan khoái, không còn chịu đựng như mấy hôm mưa dầm trước nữa, bèn thẳng thừng không vào quân doanh, mà dừng dưới gốc liễu bên bờ Bá Thủy, gọi con trai từ trong doanh ra, rồi hỏi han qua loa.

“Thưa cha.” Hoạt Nữ vội vàng ra khỏi doanh, thấy cha thần thái tươi tỉnh, trong lòng cũng nhẹ nhõm hơn, bèn xuống ngựa, bước lên ôm một chân đối phương rồi trực tiếp đáp lời bên bờ sông. “Chỗ Hồ Dần, con đã tự thám thính rõ… Sau khi ta xuống phía nam Đồng Quan, bọn họ liền trực tiếp chia binh. Em trai của Ngô thị huynh đệ, Diên Phu lộ binh mã đô giám Ngô Lân, vẫn đóng ở Lạc Giao đề phòng hướng Diên An. Còn Hồ Dần đích thân mang theo Ngô Giới, dẫn hơn vạn người Kính Nguyên lộ xuống phía nam, chừng bốn năm hôm trước đã đến vùng Phú Bình. Có lẽ vì lúc ấy Hàn Thế Trung đã vào Quan, Trường An truyền tin, nên mới dừng lại.”

“Cũng như ta nghĩ. Sau khi đổi Khúc Đoan đi, Tây Quân ít nhất không còn kẻ nào dám cậy binh tự trọng nữa… Lần trước đến đây lại chẳng thấy mỹ cảnh thế này.” Lâu Thất ngoái nhìn bốn phía, liên tục gật gù, lời lẽ thư thái. “Thế viện quân từ Ba Thục và phần còn lại của Tây Quân thì sao?”

“Ba Thục thì quả thật không rõ, nhưng binh mã Tần Phượng lộ bảy tám hôm trước đã tập trung về khu vực Vũ Công, My Huyện rồi, cũng chừng vạn người, hẳn là Vũ Văn Hư Trung biết đại quân Hàn Thế Trung sắp tới, nên để họ ở phía sau làm viện hộ… Nhưng con đoán, cũng có thể là định đợi Trương Tuấn dẫn binh mã Ba Thục và Hi Hà lộ hội quân lại đó, để làm hậu bị tổng, chỉ là trước mắt chưa có tình báo cụ thể, chưa dám quả quyết.” Hoạt Nữ cố đè nỗi nghi trong lòng, vẫn kiên nhẫn đáp.

Dù thế nào, đây cũng là chức trách cơ bản của một kẻ làm thuộc hạ.

“Nói cách khác.” Lâu Thất nghe lời ấy, liền trầm ngâm trên ngựa. “Chúng ta một đường nam hạ thế này, Kính Nguyên lộ, Diên Phu lộ, Tần Phượng lộ đều chẳng chậm trễ chút nào, cũng giống phía đông, đều đến ứng cứu trong thời gian ngắn nhất sao?”

“Đúng vậy.” Hoạt Nữ nghiêm giọng đáp. “Dưỡng sức một năm, quân Tống ít nhiều cũng đã có chút tinh thần.”

“Chưa tính Hi Hà lộ, chỉ riêng ba lộ này cùng quân Tây của Kinh Triệu, ước chừng bao nhiêu người? Chiến lực thế nào?”

“Số lượng không rõ, khoảng ba bốn vạn chưa đủ.” Hoạt Nữ đưa ra câu trả lời chắc chắn. “Bàn về chiến lực, ngoại trừ Kính Nguyên lộ, cũng tức là độ vạn người lính dưới trướng Khúc Đoan trước đây, nay là Ngô Giới, Ngô Lân thống lĩnh, được coi là tinh nhuệ ra, thì đám binh mã còn lại đều kém xa binh mã Ngự doanh tinh nhuệ, về quân khí trang bị lại càng kém xa…”

“Mấy hôm nay ta cũng đã hỏi han tỉ mỉ bọn quan lại hàng phục ở bản địa rồi.” Lâu Thất liên tục gật đầu. “Quân Tây dùng tiền lương của Ba Thục, nhưng mới trùng kiến được nửa năm, thành ra mới lộ vẻ yếu kém… Có điều, nếu tiền lương được tiếp tế đều đặn, với sức chịu đánh của dân Tống vùng Thiểm Tây, cùng sự trông nom của vị hoàng đế Tống ở Đông Kinh kia, thì đám binh mã này sớm muộn cũng sẽ tinh nhuệ lên, số lượng ta ước chừng cũng phải đến năm vạn… Ngươi nói xem có đúng chăng?”

“Đúng ạ.” Hoạt Nữ dứt khoát đáp lời, nhưng trong lòng lại tính toán nên nói thực với cha mình.

“Vậy thì hãy đợi thêm.” Lâu Thất trầm ngâm một lúc rồi lại mở miệng. “Ta muốn xem Trương Tuấn có tới không, lại có thể dẫn theo bao nhiêu người?”

Hoạt Nữ toan nói lại thôi.

“Ta biết rồi.” Lâu Thất trên ngựa liếc mắt nhìn con trai mình, ung dung căn dặn. “Lấy tháng này làm hạn, Trương Tuấn vừa tới, chúng ta liền triệt binh; Trương Tuấn không tới, chúng ta cũng triệt binh!”

Thế nhưng, nghe thấy hai tiếng triệt binh, Hoạt Nữ đã sớm trợn mắt há mồm.

Lâu Thất thấy vậy trái lại bật cười: “Ngươi gửi thư tìm ta đòi thuyết pháp, hôm nay ta đặc biệt tới đây cho ngươi thuyết pháp, sao trái lại còn kinh ngạc?”

Đầu óc Hoạt Nữ rối như tơ vò, một lúc lâu sau mới sắp xếp được đầu đuôi của trận chiến này — vừa mới giao thừa liền đột tập, thế rồi toàn quân lại bị trì trệ ở Đồng Quan chừng hơn mười ngày, mãi đến khi quân Tống kéo đến cứu viện rồi, mới từ hai mặt xuất kích, xuất kích không thành công, giờ đây lại muốn đợi toàn bộ viện quân của Tống đến đông đủ là sẽ triệt binh.

Xét về tình thế thì điều này chẳng sai… Đã không công hạ được Trường An, Thiểm Châu, vậy cứ triệt binh là được, nhưng vấn đề ở chỗ, cớ sự như vậy thì lần này năm sáu vạn tinh nhuệ nam hạ là để làm cái gì?

Sớm biết thế này, hà tất phải làm lúc đầu?

“Cha.” Hoạt Nữ gượng gạo thu xếp tâm trạng, tiếp tục ôm đùi phụ thân mình mà hỏi. “Nếu cứ thế này quay về, há chẳng phải chúng ta sẽ bị Bạt Ly Tốc chê cười ư?”

“Hắn dám cười ngay trước mặt ta thử xem?” Lâu Thất không khỏi cười vang trên ngựa. “Trước đó ta bảo hắn cứ đợi viện binh đến hãy đánh Thiểm Châu, hắn đến cả cái can đảm nói thẳng mặt ta cũng không có, chỉ dám để lão Nhị qua nói, bây giờ thì có rồi sao?”

Hoạt Nữ lại càng thêm mờ mịt.

“Đều là ruộng đất tốt cả.” Lâu Thất bỗng quay đầu, ở ngay trên ngựa lấy roi ngựa chỉ ra vùng đồng quê chung quanh. “Bảo dân Hán trong các làng quanh đây, đừng có lỡ mất thời vụ, nên ra đồng gieo hạt thì cứ gieo hạt… Mấy hôm cuối cùng này, ngươi cũng phải ràng buộc bộ chúng, không được tư lược, không được tùy tiện giết người, không được giẫm đạp ruộng tốt.”

“Vì sao?”

Hoạt Nữ căn bản chẳng nghe rõ mấy câu sau cùng, chàng vẫn mang tâm trạng không hiểu về việc triệt binh, về lần xuất kích này mà hỏi như vậy.

“Bởi vì ruộng tốt thế này, đến mùa thu là thuộc về chúng ta rồi!” Lâu Thất ngửa đầu cười vang, cười đến nỗi mũ giáp lắc lư trước sau làm bung cả cành liễu. “Còn ngươi, nếu cảm thấy trận này mất mặt, thì lúc rút lui hãy đảm đương việc đoạn hậu đi, thử xem có đánh Tây quân một trận được không, để chúng nó nếm chút khổ sở.”

Nói đến đó, Lâu Thất duỗi thẳng chân khẽ đá con trai sang một bên, rồi nắm dây cương men theo sông Bá vừa cưỡi ngựa vừa ngắm liễu, không đoái hoài gì đến quân vụ nữa.

Cuối tháng giêng, Trương Tuấn vẫn bặt vô âm tín, Hoàn Nhan Lâu Thất không chần chừ nữa, hạ lệnh toàn quân theo đường cũ rút về. Mấy vạn kỵ binh tinh nhuệ, ngoan ngoãn tựa cánh tay vung ngón tay chỉ, trong chớp mắt đã hợp lại giữa khoảng Đồng Quan và Hoa Âm, rồi trật tự tiến lên phía bắc.

Thấy thế trận này, Lý Ngạn Tiên lập tức xuất binh, thận trọng thu phục những vùng đất đã mất, đồng thời chia quân cho Lịch Quỳnh vượt sông sang Bình Lục. Còn Hàn Thế Trung lại càng không chút do dự, tức khắc đốc suất mấy vạn quân trật tự tiến lên phía trước. Nhìn thấy vậy, Ngô Giới cũng thuyết phục được Hồ Dần, lấy thân phận đô thống đích thân dẫn năm nghìn quân Kính Nguyên và năm nghìn viện quân Tần Phượng lộ, tổng cộng vạn người tiến về phía đông truy kích.

Thế nhưng, lòng lập công sốt sắng, đô thống Kính Nguyên lộ là Ngô Giới dẫn bộ thuộc từ trấn Thường Lạc thuộc Hoa Châu vượt qua Bắc Lạc Thủy, lại đụng độ ngay Hoàn Nhan Hoạt Nữ cùng một vạn thiết kỵ dưới quyền.

Song phương một vạn đấu một vạn, nhưng lại là bộ binh đấu với kỵ binh, không phòng bị đấu với có phòng bị. Một trận giao chiến, Tây quân đại bại, tan tác không sao ngăn nổi, đợi đến khi Ngô Giới chạy về bờ tây Bắc Lạc Thủy, kiểm tra lại bộ ngũ, toàn quân tổn thất gần một nửa.

Đương nhiên cũng có tin tốt, Hoàn Nhan Tát Bát ở phương hướng Thiểm Châu khi định rút lui đã gặp phải truy kích của Lịch Quỳnh và phục binh của Triệu Thành ở Trung Điều Sơn chặn đánh, đại bại một trận dưới chân núi, gã Vạn hộ quân Kim này suýt nữa chỉ còn một mình trốn thoát.

Nhưng bất luận thế nào đi nữa.

Gió xuân tháng hai tựa kéo cắt, gió xuân chẳng những đưa đến cho vùng bình nguyên Quan Trung một màu xanh ngút mắt, mà còn quả thật tiễn đi mấy vạn thiết kỵ của Tây Lộ Quân quân Kim. Dưới muôn ngàn ánh mắt, không thể ngụy tạo, chủ lực quân Kim đã trực tiếp qua cầu phao Bồ Tân, tiến vào địa giới Hà Trung phủ, vùng lãnh thổ hạch tâm của nước Kim.

Và vào lúc này, vì mưa xuân lầy lội, Trương Tuấn và đám viện binh từ Hưng Nguyên phủ (Hán Trung), Hi Hà lộ do ông ta thống lĩnh, vừa mới đến được Phượng Tường.

Đủ thứ tin tức lung tung hỗn độn hội tụ về Lạc Dương, rồi lại truyền tới Đông Kinh.

Trong đó, trên dưới Đông Kinh, tự nhiên là một mảnh tưng bừng, bởi lẽ bất luận những chi tiết kia nói thế nào, bất luận trong đó thắng bại ra sao, thì kết quả chung cuộc chính là chủ lực quân Kim đã vô công trở về, và điều này đồng nghĩa với việc khu vực Hà Nam vững như thành đồng nước sắt, đồng nghĩa với việc triều đình Đại Tống ngày càng đứng vững ở lưu vực Hoàng Hà.

Vậy thì, tòa thành Đông Kinh càng ngày càng náo nhiệt này vì thế phấn chấn lên hẳn là không có vấn đề gì.

Nhưng ở chỗ Lạc Dương kia, có lẽ bởi tòa thành này một năm trước vẫn còn là một tòa tử thành, nên chẳng hề dậy lên mấy gợn sóng.

Thậm chí ngược lại, cụ thể mà nói, trên người vị Triệu Quan Gia đã ở trong thành gần suốt một tháng này, vào lúc này, con người đó lại có một cảm giác bất an và bối rối chưa từng có.

Nên biết rằng, trước khi 'trận chiến' này bắt đầu, Triệu Quan Gia từng phán đoán Tống Kim sẽ có một đại chiến quyết định vận mệnh hai bên. Với Đại Tống, thành bại của trận này liên quan tới việc có thể triệt để đứng vững ở lưu vực Hoàng Hà hay không, bởi vậy sau khi Hoàn Nhan Lâu Thất nam hạ, trong lòng ông ta khá có mấy phần thoải mái.

Hơn nữa, đã hạ quyết tâm dù có phải bán nồi đập sắt cũng ném tất cả ra để đánh thắng trận này.

Thế nhưng, theo diễn tiến của chiến dịch, sự chần chừ, án binh bất động của Hoàn Nhan Lâu Thất khiến tất cả mọi người kể cả Triệu Cửu đều nghi thần nghi quỷ. Cơ mà sau khi các lộ viện quân đã vào vị trí, sau khi Triệu Cửu hành tiến tới Lạc Dương, tận mắt thấy và phán đoán ra ưu thế chiến lược tuyệt đối của phe mình, thì lòng dần dần lại có tự tin và cảm giác vững chãi.

Bất quá, cảm giác vững chãi này sau khi Hoàn Nhan Lâu Thất đột nhiên rút quân, liền im bặt.

Đây không phải một mình Triệu Cửu thấy phi lý, tất cả mọi người đều cảm thấy khó tin… nói một câu thô tục, quần đều cởi ra rồi, ngươi Lâu Thất đường đường đệ nhất danh tướng nước Kim lại cho Đại Tống cái trò này à?

Thế nhưng, sau khi xác nhận Hoàn Nhan Lâu Thất rút quân là không còn nghi ngờ gì nữa, các quan viên của Khu Mật Viện, các cấp quân quan đi theo cũng không thể không chủ động tìm lý do cho đối phương.

Có người cho rằng trong nước Kim xảy ra đại loạn, Lâu Thất phải quay về tranh quyền; cũng có người cho là Hoàn Nhan Lâu Thất tuổi cao sức yếu, không còn dũng mãnh như xưa, thậm chí tình trạng thân thể đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực chỉ huy của ông ta; lại có người cho rằng lần nam hạ này vốn chỉ là quân Kim phô trương vũ lực, không có ý đồ chiến lược thực sự, nên đợi khi quân Tống tập kết toàn diện, bọn họ tự nhiên sẽ rút lui.

Đương nhiên, với thân phận một kẻ xuyên việt, một người từng quen nhìn bản đồ thế giới, hơn nữa còn tin chắc sẽ có một trận đại chiến, Triệu Quan Gia cũng từng có một suy đoán riêng thuộc về mình… Đôi lúc ngài nghĩ, lần 'đại xâm công' không đầu không đuôi mà chẳng thu được gì này của Hoàn Nhan Lâu Thất, liệu có giống như đang làm trinh sát chiến lược quy mô lớn cho một cuộc đại xâm công thực sự?

Mà nếu đúng, giả sử là đúng.

Vậy thì, một kế hoạch quân sự cần điều động năm sáu vạn kỵ binh bỏ ra cả tháng trời để trinh sát, rốt cuộc có tồn tại hay không? Nếu có, quy mô lớn đến đâu? Khi nào thì phát động?

Hơn nữa, Hoàn Nhan Lâu Thất rốt cuộc đã trinh sát được những gì?

Nhưng cuối cùng, tinh thần lý trí dồi dào của một gã công trình và một tia hoảng sợ từ tận đáy lòng, đã khiến Triệu Cửu đè nén ý nghĩ này… Sau nửa buổi chiều do dự, ngài rốt cuộc vẫn hạ lệnh cho Hàn Thế Trung nhân lúc đại quân áp sát, phá hủy cầu phao nghìn năm ở Bồ Tân, rồi trực tiếp đuổi theo ngài, cùng ngài và Lý Ngạn Tiên 'khải hoàn' về Đông Kinh.

Ngày Triệu Cửu về đến Đông Kinh là mười ba tháng Hai, còn cùng ngày hôm đó, Hoàn Nhan Lâu Thất cũng tới thành Thái Nguyên.

Ngày hôm đó, Triệu Cửu 'khải hoàn trở về' tạm quên đi mối nghi sợ và hoảng hốt trong lòng. Dưới sự dẫn đường của hai tên tâm phúc Dương Nghi Trung và Lưu Yến, ngài mặc toàn thân trát giáp tinh cương, cưỡi con Thiết Tượng mà Khúc Đoan tạm cho mượn, dưới cờ Kim Ngô đạo tiêu, cùng với công thần trận này là Hàn Thế Trung và Lý Ngạn Tiên, đeo cung cầm đao, vòng qua phía nam thành, dẫn hơn một vạn tinh binh Ngự doanh theo đường Ngự đạo tiến vào thành.

Còn bách tính dọc đường nhiều tới mấy chục vạn, đều đứng hai bên đường nghênh đón.

Ngày hôm đó, chủ soái thực tế của quân Tây lộ nước Kim 'vô công nhi phản' là Hoàn Nhan Lâu Thất, dọc đường đã giải tán các bộ, để bọn họ ai về chỗ nấy. Khi tiến vào thành Thái Nguyên, bên cạnh chỉ có hơn trăm kỵ thân vệ và hai người con trai tháp tùng.

Ngày hôm đó, Triệu Cửu mở tiệc khoản đãi công thần. Đến chiều tối, ngài say khướt về hậu cung, Ngô phu nhân tốn bao công sức mới giúp ngài tháo được bộ trát giáp trên người.

Cũng ngày hôm đó, Hoàn Nhan Lâu Thất chỉ dùng tạm một bữa cơm đơn giản ở trong thành vào buổi trưa, rồi lại gọi con trai thứ là Mưu Diễn và thân vệ bên cạnh, tiếp tục mặc giáp trụ chỉnh tề, trực tiếp ra khỏi thành đi về phía đông.

Lại đi mất sáu bảy ngày, đến khoảng cuối tháng Hai, Hoàn Nhan Lâu Thất đã tới dưới chân thành Yên Kinh.

Người này không đi thăm người đồng đội cũ vừa thăng từ Lưu thủ Thái Nguyên lên Lưu thủ Yên Kinh là Hoàn Nhan Ngân Thuật Khả, cũng không đi thăm vị lãnh đạo cũ của mình, kẻ đã quyền khuynh triều dã là Hoàn Nhan Niêm Hãn, lại càng không đi bái kiến mấy vị thái tử… Hắn chỉ nghỉ lại một đêm trong trạch viện lớn của một vị vạn hộ quen biết nào đó ngoài thành, ăn một bữa thịt bò. Hôm sau, liền công khai thân phận, đi thẳng tới tòa Thượng Thư tỉnh còn sót lại từ thời Liêu trong thành Yên Kinh.

Lâu Thất đã dò hỏi rất rõ ràng, từ năm ngoái, sau khi Hoàng thái đệ Hoàn Nhan Tà Dã bệnh mất, dẫn đến bao hỗn loạn ở trung khu, thì nơi này và hoàng cung ở phủ Hội Ninh trên thực tế đã trở thành nơi mà các quý nhân trung khu tranh quyền đoạt lợi.

Khi trời nóng, bọn họ ở phủ Hội Ninh, khi trời lạnh thì lại đến Yên Kinh… Có điều, phần lớn thời gian vẫn là ở Yên Kinh, bởi vì nơi này quá phồn hoa.

Còn vào lúc này, vì thời tiết còn chưa chuyển hẳn sang ấm áp, Quốc chủ Ngô Khất Mãi, Quốc tướng Hoàn Nhan Niêm Hãn, cùng cốt nhục của mấy vị Thái Tổ hoàng đế, tức là mấy vị thái tử kia, đều đang ở chỗ này.

Đến muộn vài ngày nữa thì bọn họ lại đi lên phía bắc rồi.

Trong Thượng Thư tỉnh, mấy vị quý nhân trung khu nghe tin Lâu Thất một mình tới nơi, Niêm Hãn cũng ở trong số đó, tất cả đều ngạc nhiên, nhưng lại vội vàng mở toang cửa lớn, ra đón vị danh tướng đương triều lẽ ra vừa mới rút quân về đóng ở Sơn Tây.

Lâu Thất mặc giáp trụ toàn thân, trực tiếp lên chính đường. Trước tiên, hắn đại lễ bái kiến Quốc chủ Ngô Khất Mãi ở giữa sảnh đường.

Một thân áo lụa mỏng, trán đầy nếp nhăn, Ngô Khất Mãi vội vàng bước xuống, tự tay đỡ Lâu Thất dậy, ngay trong sảnh nắm chặt hai tay đối phương, chân thành nói: “Oát Lý Diễn (tên cũ, tên nhỏ của Lâu Thất), ngươi ở Sơn Tây lao khổ công cao, có việc gì trực tiếp sai người đến nói là được, chúng ta tuyệt đối không thể không chuẩn, cho dù chuyến nam hạ lần này không thu được kết quả rồi trở về, chúng ta cũng không ai trách tội, rốt cuộc là vì chuyện gì mà còn phải tự mình tới một chuyến?”

Lâu Thất hai tay bị Ngô Khất Mãi nắm lấy, trước hết đưa mắt nhìn khắp các vị quý nhân nơi trung khu trong sảnh, cố gắng nhận rõ tất cả mọi người xong, lúc này mới thở dài một tiếng, nói lớn với vị Quốc Chủ nước Kim trước mặt:

“Oát Lý Diễn nghe nói Quốc Chủ sắp chết, cho nên chuyên từ Sơn Tây chạy tới, chính là muốn gặp Quốc Chủ lần cuối cùng... đến muộn rồi, e rằng đời này khó mà gặp lại được nữa.”

Ngô Khất Mãi nhất thời không biết nên đáp lại thế nào, bởi vì chính mình cũng không biết mình sắp chết.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.