Trật Tự Thời Gian

Lượt đọc: 402 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12 Mùi Của Bánh Madeleine

❊ ❊ ❊

Hạnh phúc thì thầm:

“Hôm nay ta đang sống;

và ngày mai

là trời mây u ám

hay bình minh rạng ngời,

Chúa chẳng hàn gắn quá khứ khổ đau

người sẽ chẳng đoái hoài

nếu chẳng có những phút phù du

trong ký ức của ta”. (III, 29)

Hãy nhìn vào chính bản thân ta và vai trò của ta trong mối quan hệ với bản chất thời gian. Rốt cuộc thì ta, con người này gì? Các thực thể? Nhưng thế giới chẳng được tạo nên bởi các thực thể, nó được cấu thành từ các sự kiện kết hợp với nhau... Rốt cuộc, “ta” là cái gì đây?

Trong một bài kinh Phật viết bằng tiếng Pali (Nam Phạn) vào thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên chúng ta,

Milinda Panha (Milinda vấn đạo), Ngài Nãgasena đã trả lời vua Milinda, phủ nhận sự tồn tại của Ngài như một thực thể:

Vua Milinda nói với hiền nhân Nãgasena: Tên của Ngài là gì, thưa sư thầy? Sư thầy trả lời: Người ta gọi ta là Nãgasena, thưa Đức vua đáng kính; Nãgasena chẳng là gì cả, chỉ là một tiếng gọi, một sự mệnh danh, một sự biểu thị, một từ đơn giản: chẳng có con người nào trong đó.

Đức vua sửng sốt trước lời khẳng định cực đoan đó:

Nếu không ai tồn tại, thì ai là người đang mặc áo quần kia, ai là người đang ăn uống kia? Ai là người noi theo đạo? Ai là kẻ sát nhân, ai trộm cắp, ai đeo đuổi dục lạc, ai dối trá? Nếu không có ai, thiện ác cũng chẳng tồn tại.

Và ông lập luận rằng thực thể hẳn phải là một thực thể tồn tại tự thân, không thể đơn giản hóa về từng thành phần của nó:

Phải chăng lông tóc kia của Ngài chính là Nãgasena, thưa sư thầy? Phải chăng là móng tay, hay là răng, hay là da thịt, hay là xương cốt? Hay là cái tên? Hay là xúc giác, cảm nhận và ý thức? Phải chăng chẳng gì trong số đó?

Hiền nhân trả lời rằng “Nãgasena” chẳng là gì trong số đó, và Đức vua có vẻ thắng thế trong cuộc tranh luận: nếu Nãgasena chẳng là gì trong số đó, thì Ngài hẳn phải là cái gì đó khác - và cái gì đó khác này sẽ chính là con người Nãgasena, và do đó Ngài tồn tại.

Nhưng hiền nhân đã quay ngược lập luận của chính Đức vua về phía Ngài, và hỏi rằng một cỗ xe được tạo nên bởi những gì:

Phải chăng những vòng bánh xe là cỗ xe? Hay là trục xe? Hay là khung xe? Phải chăng chiếc xe là tổng thể các phần của nó?

Đức vua cẩn trọng trả lời rằng hiển nhiên “cỗ xe” chỉ đến cái mối quan hệ giữa các bánh xe, trục xe, và khung xe, đến sự hài hòa của chúng và trong mối quan hệ với chúng ta - và rằng chẳng có “cỗ xe” nào hơn là những mối quan hệ và các sự kiện. Ngài Nãgasena đã chiến thắng: theo cùng cách mà “cỗ xe” được hình thành, cái tên “Nãgasena” chỉ đến chẳng gì hơn ngoài những mối quan hệ và những sự kiện.

Ta là những quá trình, những sự kiện, phức hợp và giới hạn trong không gian và thời gian. Nhưng nếu ta không phải là một thực thể độc lập, thì cái gì thiết lập nên bản thể của ta, và sự thống nhất của nó? Cái gì khiến cho - rằng tôi là Carlo - rằng tóc của tôi, móng tay của tôi, bàn chân tôi được xem là các phần của tôi, hay cơn tức giận, một giấc mơ, là của tôi, rằng tôi xem tôi chính là Carlo của ngày hôm qua, và của ngày mai nữa; cảm thụ, ưu tư, và đau khổ?

Có nhiều thành phần kết hợp làm nên bản thể của ta. Ba trong số đó rất quan trọng trong lập luận của cuốn sách này:

1. Điều đầu tiên là mỗi chúng ta được đồng nhất với một góc nhìn nhất định vào thế giới. Thế giới này được phản ánh trong mỗi chúng ta qua một phổ phong phú các mối tương quan mang tính nền tảng cho sự sống còn của chúng ta. Mỗi chúng ta là một quá trình phức tạp phản ánh thế giới, và tỉ mỉ chi tiết hóa các thông tin mà ta nhận vào theo một cách tích hợp chặt chẽ.

2. Thành tố thứ hai làm cơ sở cho bản thể của ta xuất hiện tương tự như trong câu chuyện với chiếc xe ngựa. Trong quá trình phản ánh thế giới này, ta phân tích thế giới thành các thực thể: ta cảm nhận về thế giới bằng cách cố gắng nhóm và phân tách nó thành những quá trình liên tục tương đối đều đặn và ổn định, những quá trình ta có thể dễ dàng tương tác. Ta nhóm những tảng đá thành một thể thống nhất, và gọi nó là đỉnh Mont Blanc. Ta vạch ra những đường giới hạn trong thế giới này và phân chia chúng thành các phần khác nhau; ta thiết lập các biên giới, ta xấp xỉ thế giới bằng cách bẻ nó thành từng mảnh nhỏ. Đó là cách hệ thống thần kinh nhận thức của ta làm việc. Nó ghi nhận những kích thích cảm giác, liên tục phân tích thông tin và chỉ thị các phản ứng của cơ thể. Bộ não hoạt động dựa trên một mạng lưới các tế bào thần kinh chằng chịt, tạo nên một hệ động lực học mềm dẻo linh hoạt liên tục biến đổi để tìm cách tiên đoán dòng chảy vào của thông tin ở mức tốt nhất có thể. Để làm được điều này, mạng lưới thần kinh tiến hóa bằng cách liên kết những trạng thái tương đối ổn định trong vận động của nó với những hình mẫu quen thuộc xuất hiện trong các thông tin đi vào, hoặc là - một cách gián tiếp - những hình mẫu xuất hiện trong bản thân quá trình phân tích thông tin. Đây là bức tranh đang dần hình thành từ các nghiên cứu về hoạt động của não bộ. Nếu đúng như vậy thì “sự vật”, giống như “khái niệm”, là những trạng thái ổn định nhất trong vận động của hệ thần kinh, sinh ra từ những cấu trúc lặp đi lặp lại trong các thông tin đi vào và quá trình xử lý thông tin tiếp theo. Nó phản ánh sự kết hợp các khía cạnh khác nhau của thế giới, phụ thuộc vào các cấu trúc lặp lại và ảnh hưởng của chúng trong tương tác với chúng ta. Đó cũng là những gì hình thành nên chiếc xe ngựa. David Hume[1] hẳn sẽ vui mừng khi biết đến những tiến bộ này trong hiểu biết của chúng ta về não bộ.

Cụ thể, ta gộp toàn bộ quá trình hình thành nên những con người khác lại, và vì thế giới của chúng ta có tính xã hội, ta tương tác với chúng theo rất nhiều cách. Đó là những mối nối của nguyên nhân và hệ quả, vốn đặc biệt quan trọng với chúng ta. Ta hình thành một ý niệm về “con người” bằng cách tương tác với đồng loại của chúng ta.

Tôi tin rằng ý niệm của chúng ta về bản thể bắt nguồn từ đó, chứ không phải từ sự soi xét nội tâm. Khi ta nghĩ về ta với tư cách một con người, tôi tin rằng ta đang áp dụng cho bản thân ta cái mạng lưới vô hình mà ta tạo nên để kết nối đồng loại.

Hình ảnh đầu tiên tôi có về bản thân là một cậu bé trong mắt của mẹ tôi. Bản thân ta về cơ bản là những gì ta đã và đang thấy của chính ta qua con mắt của bạn bè, người thân và kẻ thù.

Tôi chẳng bao giờ thấy thuyết phục bởi ý tưởng, vốn được cho là của Descartes, rằng cái thành tố cơ bản nhất trong cảm nhận của chúng ta là sự tự giác về ý thức, và do đó là sự tồn tại. (Tôi nhận thấy thậm chí sự quy kết ý tưởng này cho Descartes cũng có vẻ sai lầm: cogito ergo sum (Ta tư duy, vậy ta tồn tại) không phải là bước đầu tiên trong kiến trúc tái thiết luận theo thuyết Descartes, mà là bước thứ hai. Bước đầu tiên là Dubito ergo cogito (Ta nghi ngờ, vậy ta suy nghĩ). Xuất phát điểm của quá trinh tái thiết không phải là một giả lập tiên nghiệm, ngay lập tức gắn kết với thể nghiệm về sự tồn tại của chủ thể. Nó là một suy luận hậu nghiệm từ bước thứ nhất của toàn bộ quá trình, khi mà Descartes đã đi đến trạng thái nghi vấn: lập luận logic chỉ ra rằng nếu ai đó nghi ngờ điều gì, thì hẳn họ phải nghĩ về nó. Và rằng nếu họ có thể suy nghĩ, hẳn là họ tồn tại. Đó về cơ bản là sự phân tích từ ngôi thứ ba, chứ không phải từ ngôi thứ nhất, bất kể quá trình đó có là quá trình nội tại đến đâu đi nữa. Xuất phát điểm của Descartes là một phương pháp luận nghi vấn, xuất hiện trong quá trình phân tích lý trí, chứ không phải cảm nhận sơ khai về đối tượng.)

Thể nghiệm suy tư về bản thân như một thực thể không phải là một cảm nhận sơ khai: nó là một quá trình suy luận văn hóa phức tạp, được thực hiện dựa trên rất nhiều các ý tưởng khác nhau. Cảm nhận sơ khai của tôi - nếu ta cho rằng nó tồn tại - là cái nhìn của tôi vào thế giới xung quanh, chứ không phải vào bản thân tôi. Tôi tin rằng chúng ta đi đến khái niệm “bản thân” chỉ vì một lúc nào đó chúng ta đã học được cách quán chiếu khái niệm con người vào chính mình, vốn là khái niệm phụ thêm, cái hình thành nên từ quá trình tiến hóa qua hàng thiên niên kỷ cho phép chúng ta gắn bó với các thành viên khác của bầy đàn: ta là sự phản ánh của ý niệm về chính mình trong con mắt đồng loại.

3. Còn một yếu tố thứ ba thiết lập nên bản thể của ta, và có lẽ là yếu tố cốt yếu nhất - là nguyên nhân khởi thủy một cuộc thảo luận tinh tế trong một cuốn sách về thời gian: ký ức. Ta không đơn thuần là một tập hợp các quá trình độc lập ở những thời điểm nối tiếp nhau. Mọi thời khắc tồn tại của ta được kết nối bằng một sợi chỉ ba thành phần đến quá khứ của ta - đến những thời khắc gần đây nhất và những thời khắc xa xôi nhất - bằng ký ức. Hiện tại của ta mang đầy những dấu vết của quá khứ. Ta là câu chuyện tường thuật lịch sử của chính mình. Tôi không chỉ là một hình hài xương thịt ngay lúc này đang lúi cúi trên ghế sofa để gõ một chữ a trên máy tính xách tay; tôi là những ý tưởng của tôi mang đầy dấu vết những câu văn đang viết đây; tôi là sự chăm bẵm của mẹ, là sự hiền từ dưỡng dục của cha; là những cuộc du hành thời trai trẻ; tôi là phần học vấn đã đọng lại trong những lớp lang của trí tuệ; tôi là tình yêu, là những khoảnh khắc tuyệt vọng, tình bạn, những điều tôi viết, những điều tôi nghe; những khuôn mặt khắc sâu trong ký ức. Cuối cùng, tôi là người cách đây vài phút đã nhâm nhi một tách trà. Là người vừa mới sáng tác câu văn còn đang dang dở. Nếu tất cả những điều này biến mất, tôi có còn tồn tại hay không? Tôi là một cuốn sách dài đang viết. Cuộc sống của tôi làm nên từ đó.

Chính ký ức đã hàn gắn các quá trình hình thành nên chúng ta, vốn tản mạn trong thời gian. Theo nghĩa này, ta tồn tại trong thời gian. Theo nghĩa đó, tôi ngày hôm nay cũng chính là tôi của ngày hôm qua. Suy tư về bản thân ta nghĩa là chiêm nghiệm về thời gian. Và để thấu hiểu thời gian, ta cần chiêm nghiệm về chính ta.

Dean Buonomano đã đặt tiêu đề cho một cuốn sách gần đây của ông là Your Brain Is a Machine Time (Bộ não chúng ta là một cỗ máy thời gian). Cuốn sách kể về các nghiên cứu về chức năng của não bộ; thảo luận rất nhiều cách khác nhau mà bộ não tương tác với sự trôi đi của thời gian, và thiết lập một cầu nối quá khứ, hiện tại, và tương lai. Về cơ bản, não bộ là một cơ chế thu nhận ký ức về quá khứ để liên tục tiên đoán về tương lai. Điều này xảy ra trên một thang thời gian rộng lớn, từ rất ngắn ngủi cho đến xa xôi. Nếu ai đó ném chuyền cho ta một vật gì đó, ta sẽ đón bắt bằng cách điều khiển khéo léo bàn tay đến vị trí rơi của nó trong ít giây sắp tới: bộ não, sử dụng những dấu vết của quá khứ, đã nhanh chóng tính toán vị trí tương lai của vật thể đang bay về phía chúng ta. Đi xa hơn theo thang độ thời gian, ta gieo mầm để thu lại lúa mì. Ta đầu tư vào nghiên cứu khoa học để ngày mai ta có hiểu biết và công nghệ mới. Khả năng tiên đoán tương lai hiển nhiên nâng cao cơ hội sinh tồn của ta, và do đó, tiến hóa đã chọn lọc những cấu trúc thần kinh cho phép khả năng đó. Ta là kết quả của sự chọn lọc này. Sự tồn tại giữa các sự kiện của quá khứ và tương lai là trung tâm của kiến trúc tinh thần của ta. Với chúng ta, đó chính là “dòng chảy” thời gian.

Có những cấu trúc cơ bản trong sự kết nối hệ thần kinh của chúng ta cho phép ghi nhận tức khắc các chuyển động: một vật thể xuất hiện ở vị trí này và ngay lập tức sau đó hiện ra ở vị trí khác không sinh ra hai tín hiệu truyền độc lập đến não bộ, mà sinh ra một tín hiệu duy nhất, tương ứng với thực tế là ta đang nhìn vào một vật thể chuyển động. Nói cách khác, những gì ta thể nghiệm chẳng phải hiện tại, vốn là vô nghĩa khi nói về các quá trình vật lý diễn ra trong khoảng thời gian hữu hạn. Cái ta thể nghiệm là cái gì đó xảy ra, và trải rộng trong thời gian. Chính là trong bộ não của chúng ta, sự trải rộng theo thời gian đã được kết tụ thành cảm nhận về trường tính thời gian.

Đây là một trực giác cổ xưa. Những suy tư của thánh Augustine vẫn còn lưu lại đến ngày nay.

Trong quyển XI của bộ confessions (Bộc bạch), Augustine đã tự vấn bản thân về bản chất của thời gian. Mặc dù gián đoạn bởi những câu cảm thán buồn tẻ theo phong cách của một giáo sĩ truyền giáo, ông đã trình bày một phân tích sáng suốt về khả năng cảm nhận thời gian của chúng ta. Ông nhận thấy rằng chúng ta luôn tồn tại trong hiện tại, quá khứ là dĩ vãng và tương lai thì chưa tới, nên cũng chẳng có thật. Ông đã tự hỏi rằng làm thế nào mà ta cảm nhận được về thời khoảng - hay thậm chí là có được khả năng đo đạc chúng - khi mà chúng ta chỉ có mặt trong hiện tại, theo định nghĩa, vốn chỉ là một thời điểm nhất thời. Làm thế nào ta biết rõ ràng về quá khứ đến vậy, về thời gian, khi mà chúng ta chỉ tồn tại trong hiện tại? Ở đây và bây giờ, chẳng có quá khứ, chẳng có tương tai. Chúng ở đâu? Augustine kết luận rằng chúng ở trong chúng ta:

Chính là trong tâm trí của ta, ta đo thời gian. Tôi không thể nào chấp nhận rằng thời gian là một thực thể tồn tại độc lập. Khi tôi đo thời gian, tôi đo cái gì đó trong hiện tại của tâm trí. Hoặc đây chính là thời gian, hoặc tôi chẳng biết thời gian là cái gì.

Ý tưởng đó trở nên thuyết phục hơn rất nhiều sau những lần đọc đầu tiên. Ta có thể nói rằng ta đo đạc thời khoảng bằng một chiếc đồng hồ. Nhưng để làm điều đó ta phải đọc nó ở hai thời điểm khác nhau: và điều này là không thể, bởi vì chúng ta luôn tồn tại chỉ trong một thời điểm, chứ không phải hai. Trong hiện tại, ta chỉ thấy hiện tại; ta có thể thấy những thứ ta có thể lý giải là dấu vết của quá khứ, nhưng có một sự khác biệt mang tính phạm trù giữa việc nhìn thấy các dấu vết của quá khứ và cảm nhận về sự trôi đi của thời gian - và Augustine đã nhận ra cội rễ của sự khác biệt này, sự nhận diện của dòng thời gian, vốn là nội tại. Nó là phần cố kết của ý thức. Nó là dấu vết của quá khứ tồn dư trong não bộ.

Augustine lột tả ý tưởng này hết sức đẹp đẽ. Ông đã dựa trên cảm nhận của chúng ta về âm nhạc. Khi chúng ta lắng nghe một lời thánh ca, ý nghĩa của từng âm tiết thật ra đến cả từ những âm tiết đến trước và sau nó. Âm nhạc hiện ra trong thời gian, nhưng chúng ta chỉ có mặt trong hiện tại, làm thế nào mà ta có thể nghe được nó? Augustine nhận ra rằng ta làm được điều đó bởi vì ý thức của ta dựa trên nền tảng là ký ức quá khứ và kỳ vọng tương lai. Một khúc thánh ca, một bài hát, bằng cách nào đó tồn tại trong bộ não của chúng ta dưới một thể thống nhất, kết hợp với nhau bằng thứ gì đó - bằng thứ cho phép chúng ta nhận biết thời gian. Và vậy, đó chính là thời gian: nó hoàn toàn nằm trong hiện tại, trong tâm trí của ta, dưới dạng ký ức và kỳ vọng.

Ý tưởng thời gian có thể chỉ tồn tại trong tâm trí hiển nhiên đã không trở nên phổ biến trong các quan điểm của Thiên Chúa giáo. Nó thậm chí đã bị một thầy tu ở Paris, Etienne Tempier, chính thức kết tội tà giáo vào năm 1277. Trong danh mục những niềm tin bị kết tội, ta có thể tìm thấy những dòng sau:

Quod evum et tempus nichil sunt in re,

Sedsolum in apprehensione.

Dịch là: “[Duy trì ý niệm] tuổi tác và thời gian không tồn tại thực tế mà chỉ có trong tâm trí [là tà giáo]”. Có lẽ cuốn sách của tôi sẽ bị quy là tà thuyết... Nhưng dựa vào thực tế Augustine vẫn được coi là thánh, tôi có lẽ không phải quá lo lắng về nó. Thiên Chúa giáo, suy cho cùng, vốn khá linh hoạt...

Dường như ta có thể dễ dàng bác bỏ ý tưởng của Augustine bằng cách lập luận rằng những dấu vết của quá khứ trong bản thân ta vốn chỉ phản ánh một cấu trúc thực tế của thế giới bên ngoài. Chẳng hạn William xứ Ockham, thế kỷ 14, trong cuốn Philosophiae Naturalis (Triết học tự nhiên) đã cho rằng ta quan sát thấy cả luân chuyển của bầu trời và cả vận động nội tại của bản thân, và do đó cảm nhận về thời gian qua sự tồn tại đồng thời của mình với thế giới. Nhiều thế kỷ sau, Edmund Husserl[2] đã phải nhấn mạnh - một cách hết sức đúng đắn - rằng cần phải phân biệt giữa thời gian vật lý và “cảm nhận nội tại về thời gian”: đối với một nhà khoa học tự nhiên lành mạnh hy vọng tránh khỏi đắm chìm trong những vòng xoáy vô nghĩa của sự tuyệt đối hóa, cái khái niệm ban đầu (thế giới vật lý) phải xuất hiện trước, trong khi đó cái khái niệm phụ thuộc (ý thức) - một cách độc lập với mức độ hiểu biết của ta về nó - sẽ bị quyết định bởi cái ban đầu. Theo đó, lập luận mà ta đưa ra, cũng như của William, chỉ hợp lý khi vật lý học chứng tỏ rằng dòng chảy khách quan của thời gian là hiện thực, phổ biến, và tương thích với trực giác của ta. Nhưng vật lý đã chỉ ra rằng ý niệm thời gian đó không phải là một thành tố cơ bản của thực tại, liệu ta có thể cứ tiếp tục phớt lờ nhận định của Augustine mà cho rằng nó chẳng có quan hệ gì với bản chất thực sự của thời gian?

Nghi vấn về sự cảm nhận bản chất nội tại của thời gian thay vì bản chất khách quan của nó thường xuất hiện trở lại trong triết học phương Tây. Kant[3] đã thảo luận bản chất của không gian và thời gian trong cuốn Critique of pure reason[4], và diễn giải cả không gian và thời gian như một dạng thức sơ khai của tri thức - nghĩa là, những thứ không chỉ liên hệ với thế giới khách quan, mà còn cả cách thức mà chủ thể cảm nhận chúng. Nhưng ông cũng nhận ra rằng trong khi thời gian được hình thành bởi cảm nhận hướng ngoại, nghĩa là, bằng cách chúng ta sắp xếp các sự vật ta thấy bên ngoài ta, thời gian được hình thành nội tại trong ta, nghĩa là, theo cách mà ta sắp xếp những trạng thái bên trong ta. Một lần nữa: cái nền tảng cơ bản của cấu trúc thời gian của thế giới được tìm thấy ở cái gì đó có quan hệ gần gũi với cách thức suy nghĩ và cảm nhận của ta, với ý thức của ta. Điều này vẫn đúng ngay cả khi ta không phải thả mình lạc vào thuyết tiên nghiệm kiểu Kant.

Husserl đã nhắc lại điệp khúc của Augustine khi ông mô tả sự hình thành của kinh nghiệm qua khái niệm “tồn lưu”[5] - bằng cách sử dụng ẩn dụ về quá trình cảm nhận một giai điệu âm nhạc giống như Augustine (thế giới trong thời gian đó đã bị tư sản hóa, những giai điệu đã thay thế cho các bài thánh ca): ở thời điểm mà ta nghe một nốt nhạc, âm vang của những nốt trước còn “tồn lưu”, và nốt nhạc đó cũng trở thành một phần của quá trình “tồn lưu” - và mọi thứ cứ tiếp diễn như vậy, chúng được diễu chạy cùng nhau sao cho thực tại chứa đựng một dấu vết liên tục của sự tồn lưu, ngày một mờ đi. Theo Husserl, chính nhờ quá trình tồn lưu này mà các hiện tượng xảy ra “thiết lập nên sự tồn tại của thời gian”. Hình vẽ dưới đây được vẽ bởi Husserl: trục nằm ngang từ A đến E biểu diễn thời gian trôi qua; trục thẳng đứng từ E đến A’ biểu diễn sự “tồn lưu” của thời điểm E, khi mà quá trình sụt lún liên tục diễn tiến từ A đến A'. Những hiện tượng xảy ra gây dựng nên thời gian bởi vì, ở thời điểm đó, E, P’, và A' đều tồn tại. Điểm thú vị ở đây là Husserl không đồng nhất nguồn gốc của hiện tượng luận thời gian này vào với giả định về tiến trình khách quan của hiện tượng (trục nằm ngang) mà vào ký ức (cũng như kỳ vọng mà Husserl gọi là “dự tiến”[6]), nghĩa là theo đường thẳng đứng trong biểu đồ.

Ý của tôi ở đây là, điều này sẽ vẫn cứ đúng (trong triết học tự nhiên) ngay cả khi trong thế giới vật lý vốn không có thời gian vật lý tồn tại một cách toàn cục sắp đặt mọi thứ theo một đường thẳng tuyến tính, mà chỉ là những dấu vết của sự biến đổi entropy.

Với sự dâng lên của trào lưu Husserl, Martin Heidegge r đã viết - ở mức mà tình yêu đối với những trang viết sáng rõ và trong trẻo của Galileo cho phép tôi giải mã thứ ngôn ngữ mơ hồ đầy dụng ý của Heidegger - rằng “thời gian chỉ có tính tuần tự đối với con người”. Đối với ông, thời gian là thời gian của nhân loại, thời gian để hành động, thời gian để nhân loại gắn kết. Vì quan tâm đến bản chất sự tồn tại của con người (của “thực thể đặt ra câu hỏi về vấn đề tồn tại”), sau này Heidegger thậm chí rốt cuộc đồng nhất ý thức nội tại về thời gian với trục nằm ngang của bản thân sự tồn tại của nó.

Những trực giác về mức độ mà thời gian được coi là khách quan này vẫn giữ nguyên ý nghĩa của chúng đối với mọi thuyết duy tự nhiên vốn coi chủ thể là một phần của tự nhiên, không hề ngần ngại nói về “thực tại” và phân tích nó - trong khi cũng thừa nhận rằng sự hiểu biết trực giác của chúng ta được chắt lọc kỹ lưỡng thông qua cách mà công cụ giới hạn của ta - não bộ - hoạt động. Não bộ là một phần của thực tại, do đó phụ thuộc vào những tương tác với thế giới bên ngoài và những cấu trúc nhờ đó tâm trí hoạt động.

Nhưng tâm trí chính là hoạt động của não bộ. Những hiểu biết (ít ỏi) mà chúng ta đang đạt được về những hoạt động này chỉ ra rằng toàn bộ não bộ của chúng ta hoạt động trên cơ sở một tập thể các dấu vết của quá khứ ghi lại trong các kết nối thần kinh (synapses). Hàng ngàn các kết nối liên tục được hình thành và xóa bỏ (nhất là trong giấc ngủ), để lại một phản ánh mờ ảo của những thứ đã ảnh hưởng lên hệ thống thần kinh của ta trong quá khứ. Một hình ảnh mơ hồ, chẳng nghi ngờ gì cả - hãy nghĩ xem có bao nhiêu triệu những chi tiết mà đôi mắt của ta nhìn thấy mà không lưu lại trong ký ức của ta - nhưng là một hình ảnh chứa đựng những thế giới.

Những thế giới vô biên.

Chúng là những thế giới mà chàng trai trẻ đầy hoang mang Marcel[7] đã tìm lại được vào mỗi buổi sáng, trong những trang đầu tiên của bộ tiểu thuyết À la recherche du temps perdu, trong cơn chóng mặt ở khoảnh khắc khi ý thức như một bóng bóng nổi lên từ sâu thăm thẳm. Thế giới đó mênh mang mở ra trước anh khi miếng bánh madeleine trong miệng gợi lại cho anh hương vị của Combray. Bản đồ của một thế giới rộng lớn mà Proust đã dần mở ra qua ba ngàn trang giấy trong tiểu thuyết vĩ đại của mình. Cần phải nhớ rằng, một cuốn tiểu thuyết không phải là một sự tường thuật của các sự kiện diễn ra trong thế giới, mà là chuỗi ký ức của một con người. Từ hương vị ngọt ngào của miếng bánh madeleine mở đầu câu chuyện, cho đến từ cuối cùng - “thời gian” - của phần cuối, “Thời gian tìm thấy”, cuốn sách chính là những mối nối thần kinh hỗn độn, tiểu tiết ngoằn ngoèo uốn khúc trong bộ não của Marcel.

Proust đã tìm thấy một không gian vô hạn với vô vàn những chi tiết, hương vị, suy xét, cảm giác, suy tư, tái thiết, màu sắc, đồ vật, tên gọi, ngoại hình, xúc cảm... tất cả gói gọn giữa những nếp gấp của khối não nằm giữa hai tai của Marcel. Đây là dòng chảy thời gian quen thuộc với kinh nghiệm của chúng ta: đó là nơi nó ẩn náu, bên trong chúng ta, bên trong sự hiện diện tuyệt đối cần thiết của những dấu vết trong hệ thần kinh chúng ta.

Proust đã thể hiện rất rõ ràng điều đó khi viết trong tập sách đầu tiên: “Thực tại chỉ là kiến tạo của ký ức”. Và ký ức, về phần nó, là một tập hợp các dấu vết, là một sản phẩm gián tiếp của sự diễn tiến đến dần mất trật tự của thế giới, của phương trình nhỏ bé mà ta đã viết, ΔS ≥ 0, phương trình đã nói với chúng ta rằng thế giới vốn ở một cấu hình “đặc biệt” trong quá khứ và do đó nó đã (và đang) để lại các dấu vết. “Đặc biệt”, có lẽ chỉ là tương đối với một vài hệ thống hiếm hoi - trong đó có chúng ta.

Ta là những câu chuyện, chứa trọn trong vòng hai mươi phân phía sau đôi mắt, những nét phác của những dấu vết còn lại do sự hòa trộn vạn vật trong thế giới này, hướng đến những dự đoán về những sự kiện trong tương lai theo xu hướng tăng trưởng của entropy, trong một góc nhỏ đặc biệt của cái vũ trụ mênh mông hỗn loạn.

Không gian này - ký ức - kết hợp với quá trình liên tục dự toán là cội nguồn của cảm giác chúng ta về thời gian như là thời gian, và bản thân chúng ta như là bản thân chúng ta. Hãy suy ngẫm: nội tâm chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng về nó thoát khỏi không gian và vật chất, nhưng liệu nó có thể hình dung ra nó tồn tại bên ngoài thời gian hay không?

Chính đối với cái hệ vật lý mà ta thuộc về đó, do cách thức kỳ lạ mà nó tương tác với phần còn lại của thế giới, do khả năng cho phép các dấu vết được lưu lại, và do chúng ta, những thực thể vật lý, được làm nên từ ký ức và kỳ vọng, mà viễn cảnh của thời gian đã mở ra trước mắt chúng ta như một lối mòn nhỏ bé. Thời gian cho ta một cách tiếp cận giới hạn đến thế giới. Thời gian, do đó, là dạng thức mà chúng ta, những thực thể mà bộ óc về cơ bản làm nên bởi ký ức và tầm nhìn vào tương lai, tương tác với thế giới: nó là cội nguồn bản thể của chúng ta.

Và của cả khổ đau.

Đức Phật đã đúc kết điều này vào một vài câu châm ngôn mà hàng triệu con người đã nhận làm nền tảng triết lý cuộc sống của mình: sinh ra là đau khổ, già nua là đau khổ, bệnh tật là đau khổ, chết chóc là đau khổ, chung sống với người ta căm ghét là đau khổ, xa cách người ta yêu thương là đau khổ, những dục vọng không đạt được là đau khổ. Đó là đau khổ vì chúng ta sẽ phải mất đi những gì chúng ta có và gắn bó. Bởi vì mọi thứ bắt đầu đều phải kết thúc. Điều khiến chúng ta đau khổ không nằm trong quá khứ hay tương lai: nó ở đây, bây giờ, trong ký ức của chúng ta, trong những kỳ vọng của chúng ta. Chúng ta khao khát thoát khỏi thời gian, chúng ta cam chịu dòng chảy thời gian: ta chịu đựng thời gian. Thời gian là đau khổ.

Đó là thời gian, và vì nó, ta bị quyến rũ và cũng đồng thời gặp nhiều rắc rối - và có lẽ cũng vì nó, bạn đọc thân mến, anh trai tôi, em gái tôi, bạn đọc nữa, đang cầm cuốn sách này trong tay. Bởi vì nó chẳng là gì cả, nó chỉ là một cấu trúc thoáng qua của thế giới, một biến động phù du trong sự diễn tiến của thế giới, một thứ có khả năng tạo nên chính chúng ta: những hiện hữu của thời gian. Một thứ mà sự hiện hữu của chúng ta đã phải mắc nợ, một thứ cho chúng ta món quà quý giá chính là sự tồn tại của ta, và là thứ tạo ra cho chúng ta ảo tưởng phù du về sự trường tồn vốn là nguồn gốc của mọi khổ đau.

Âm nhạc của Strauss, và lời của Hofmannsthal đã hát lên điều đó với sự tinh tế tàn khốc:

Ta nhớ ta thuở thiếu thời...

sao mà xa xôi...

khi ta là Resi bé nhỏ

nay ta là bà lão già nua?

... Đó hẳn là ý Chúa?

Nhưng sao Người chẳng giấu nó giùm ta?

Vạn điều bí ẩn

mong manh trong thời gian

sao ta còn níu giữ?

Vạn thứ trượt qua tay

tan vào vô vọng như sương buổi sớm...

Thời gian thật lạ kỳ

khi ta chẳng muốn, nó chẳng là gì.

Rồi bất chợt biến đi.

Thời gian ở khắp nơi khắp chốn.

Thấm đẫm trong ta.

Phảng phất trên vầng trán,

mơ màng trong đôi mắt,

lặng lẽ giữa đôi ta.

Ôi nàng tiên bé nhỏ.

Lúc vội vã thổi qua ta,

khi đóng băng bất động giữa đêm khuya…

❀ ❀ ❀

[1] David Hume (1711 - 1776): nhà triết học, lịch sử, kinh tế học Thời kỳ Khai sáng (Enlightenment) người Scotland. (ND)

[2] Edmund Gustav Albrecht Husserl (1859 - 1938), nhà triết học người Đức, được coi là người sáng lập hiện tượng luận. (ND)

[3] Immanuel Kant (1724 - 1804): nhà triết học người Đức Thời kỳ Khai sáng. (ND)

[4] Ấn bản tiếng Việt: Phê phán lý tính thuần túy. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Công ty Sách Thời đại và NXB Văn học, 2014. (BT)

[5] Từ tiếng Anh “retention”. Bạn đọc có thể tham khảo thêm trong ấn bản tiếng Việt cuốn Ý niệm hiện tượng học của Edmund Husserl, do Bùi Văn Nam Sơn chuyển ngữ (Nxb Trẻ, 2016), khái niệm này được dịch là "lưu giữ". (BT)

[6] Từ tiếng Anh “protention”. Bạn đọc có thế đọc thêm về khái niệm này và khái niệm “retention” trong “Logic biện chứng như là động lực phổ biến của thời gian hóa”, một bài viết của Giáo sư Trần Đức Thảo, do Định Hồng Phúc dịch từ tiếng Pháp, http://triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/tran-duc-thao/logic-bien-chung-nhu-la-dong- luc-pho-bien-cua-thoi-gian-hoa_90.html. Hoặc trong bài viết “Martin Heidegger, ‘sự thật của hiện hữu’”, https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&actíon=detaíl&id=22689, Võ Công Liêm có nhắc đến “protention and retention” với nghĩa “tạm giữ và cầm giữ”. (BT)

[7] Valentin Louis Georges Eugène Marcel Proust (1871 - 1922): tiểu thuyết gia vĩ đại người Pháp đầu thế kỷ 20. Ông nổi tiếng với bộ tiểu thuyết bảy tập A la recherche du temps perdu, được biết đến ở Việt Nam với tên dịch Đi tìm thời gian đã mất viết từ năm 1913 đến 1927. (ND)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.