Trật Tự Thời Gian

Lượt đọc: 402 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
13 Suối Nguồn Thời Gian

❊ ❊ ❊

Chúa có lẽ còn cho ta

nhiều mùa nữa -

hay chỉ mùa đông tới đây

những ngọn sóng đại dương

sẽ bẻ tan những mỏm đá chênh vênh.

Hãy tỉnh đi. Nâng chén rượu nồng

sưởi ấm khát khao

trong vòng quay ngắn ngủi. (I, 11)

Ta bắt đầu với hình ảnh thời gian quen thuộc: cái gì đó chảy trôi đều đặn và đồng nhất trong khắp vũ trụ, mà trong nó vạn sự xảy ra. Với ý niệm rằng có một hiện tại tồn tại trong khắp vũ trụ, một cái “ngay lúc này” cấu thành nên thực tại. Quá khứ với tất cả mọi người đều xác định, đã qua, đã xảy ra. Tương lai thì mở và bất định. Thực tại chảy trôi từ quá khứ, qua hiện tại, và hướng tới tương lai - và sự tiến hóa của vạn vật từ quá khứ tới tương lai là bất đối xứng nội tại. Ta đã cho rằng, đây là cấu trúc cơ bản của thế giới này.

Bức tranh quen thuộc này đã vỡ tan, đã tự thể hiện mình chỉ là một xấp xỉ của một hiện thực phức tạp hơn rất nhiều.

Một hiện tại chung cho cả vũ trụ vốn không tồn tại (Chương 3). Các sự kiện vốn không được sắp thứ tự theo quá khứ, hiện tại và tương lai; chúng chỉ được sắp thứ tự không hoàn toàn. Có một hiện tại xung quanh ta, nhưng chẳng có “hiện tại” nào đối với một thiên hà xa xôi. Hiện tại là một hiện tượng cục bộ, chứ không phải một hiện tượng phổ biến toàn phần.

Sự khác biệt giữa quá khứ và tương lai không tồn tại trong các phương trình cơ bản diễn tả các sự kiện của thế giới (Chương 2). Sự khác biệt xuất hiện vì vũ trụ trong quá khứ rơi vào một trạng thái có thể coi là đặc biệt khi xét tới nhận thức mơ hồ của ta về vạn vật.

Một cách cục bộ, thời gian trôi đi với tốc độ khác nhau phụ thuộc vào vị trí và tốc độ của ta. Khi ta ở gần một vật nặng (Chương 1), hoặc khi ta chuyển động nhanh (Chương 3), thời gian sẽ trôi chậm lại: giữa hai sự kiện không có khoảng thời gian với giá trị duy nhất; nó có nhiều giá trị đo khác nhau.

Nhịp thời gian trôi đi được quyết định bởi trường hấp dẫn, một thực thể với động lực vận động riêng được mô tả bởi các phương trình Einstein. Nếu ta bỏ qua những hiệu ứng lượng tử, thời gian và không gian sẽ là những mặt khác nhau của một thứ keo gắn kết vạn vật mà chúng ta được nhúng chìm trong đó (Chương 4).

Nhưng thế giới có bản chất lượng tử, chất keo không thời gian cũng chỉ là một xấp xỉ. Trong quy luật cơ bản của thế giới này, chẳng có không gian, cũng chẳng có thời gian - chỉ có những quá trình chuyển biến các đại lượng vật lý này thành các đại lượng vật lý khác, mà từ đó ta có thể tính toán các xác suất và các mối quan hệ khác nhau (Chương 5).

Ớ mức độ cơ bản nhất mà ta biết đến ngày nay, chẳng có gì mang đặc tính của thời gian giống như ta hằng biết. Chẳng có biến số đặc biệt nào là “thời gian”, chẳng có sự khác biệt nào giữa quá khứ và tương lai, và chẳng có không thời gian (Phần II). Ta vẫn biết cách viết các phương trình mô tả thế giới. Trong các phương trình này, các biến số tiến hóa là tương đối với nhau (Chương 8). Nó chẳng phải một thế giới “tĩnh tại”, hay một “vũ trụ khối” trong đó mọi sự thay đổi đều là ảo giác (Chương 7): trái lại, thế giới của ta là một thế giới của các sự kiện, thay vì của các sự vật (Chương 6).

Đây là cuộc hành trình đến với một vũ trụ không có thời gian.

Hành trình trở lại của ta là sự cố gắng nắm bắt cách thức cảm nhận thời gian từ một thế giới không có thời gian (Chương 9). Điều đáng ngạc nhiên là, bản thân chúng ta hóa ra đóng vai trò nhất định trong sự xuất hiện trở lại của thời gian. Từ góc nhìn của chúng ta - góc nhìn của những sinh vật ở một góc nhỏ bé của thế giới này - ta nhìn thấy thế giới đang trôi đi trong thời gian. Ta chỉ tương tác với phần nhỏ của thế giới, ta nhìn thế giới một cách mờ nhạt. Sự mờ nhạt này có cả đóng góp của tính bất định lượng tử. Sự thiếu hụt thông tin từ đó kéo theo sự tồn tại của một biến số đặc biệt - thời gian nhiệt động (Chương 9) - và sự tồn tại của entropy vốn là số đo của sự bất định.

Có lẽ ta vốn thuộc về một phần nhỏ bé của thế giới này, cái phần tương tác với phần còn lại của thế giới theo cách mà đại lượng entropy trên kia nhỏ hơn ở một phía của thời gian nhiệt động. Sự định hướng của thời gian do đó là có thực, nhưng phụ thuộc vào góc nhìn (Chương 10): entropy của thế giới tương đối với chúng ta tăng theo thời gian nhiệt động. Ta thấy sự xuất hiện của vạn vật theo trình tự của biến số này, cái mà ta gọi một cách đơn giản là “thời gian”, và sự tăng trưởng của entropy cho phép ta phân biệt quá khứ với tương lai, dần khơi mở vũ trụ ra trước ta. Nó quyết định sự tồn tại của các dấu vết, tàn dư, và ký ức về quá khứ (Chương 11). Con người là một hệ quả của tiến trình lịch sử vĩ đại của quá trình tăng entropy, gắn kết bởi ký ức dựa trên các dấu vết. Mỗi người chúng ta là một thể thống nhất, bởi vì chúng ta suy tưởng về thế giới này, bởi vì chúng ta đã hình thành nên một hình ảnh của một thực thể độc lập qua sự tương tác với đồng loại, và bởi vì nó là diện mạo thế giới từ một góc nhìn thống nhất nhờ ký ức (Chương 12). Từ đó xuất hiện cái mà ta gọi là “dòng chảy” của thời gian. Đây tiếng thời gian.

Biến số “thời gian” là một trong rất nhiều biến số mô tả thế giới này. Nó là một trong các biến số của trường hấp dẫn (Chương 4): ở thang độ lớn thường nhật, ta không ghi nhận những thăng giáng lượng tử (Chương 5), do đó có thể xem thời gian như cái thực thể mềm mại của Einstein; ở thang độ lớn của ta, những vận động của thực thể đó là nhỏ bé và có thể bỏ qua. Do đó ta có thể xem không thời gian đông cứng như một mặt bàn. Mặt bàn này có các chiều khác nhau: có chiều mà ta gọi là không gian, và có chiều mà theo đó entropy tăng trưởng, ta gọi là thời gian. Trong cuộc sống hằng ngày, ta chuyển động với tốc độ chậm chạp khi so với tốc độ ánh sáng, và do đó ta chẳng cảm nhận thấy sự khác biệt về thời gian riêng của những đồng hồ khác nhau, và sự khác biệt về tốc độ trôi của thời gian ở những khoảng cách khác nhau đối với một vật thể nặng cũng quá nhỏ bé để ta có thể nhận biết.

Kết quả là, thay vì rất nhiều thời gian khác nhau, ta có thể nói về một thời gian duy nhất: cái thời gian mà ta cảm nhận - đều đặn, phổ biến, và có trình tự. Đây là một sự xấp xỉ của một sự xấp xỉ của một sự xấp xỉ của thế giới thực mô tả từ góc nhìn của nhân loại vốn lệ thuộc vào sự tăng trưởng của entropy, hay là sự phản ánh của dòng chảy thời gian. Ta, như trong Ecclesiastes đã viết, có thời gian để sinh ra và có thời gian để chết.

Đây thời gian của chúng ta: một khái niệm đa lớp, phức hợp, với nhiều tính chất khác biệt rút ra từ những xấp xỉ khác nhau.

Rất nhiều thảo luận về thời gian hoàn toàn rối rắm bởi vì người ta đơn giản không nhận ra khía cạnh phức hợp và đa lớp của nó. Người ta đã phạm sai lầm khi không nhìn vào sự độc lập của các lớp lang khác nhau.

Đây là cấu trúc vật lý của thời gian trong hiểu biết của tôi, sau suốt một cuộc đời rong ruổi với nó.

Nhiều phần của câu chuyện này có cơ sở vững vàng, nhiều phần khác có vẻ đáng tin cậy, và cũng có những phần chỉ là những phán đoán may rủi trong một nỗ lực nắm bắt bức tranh toàn thể.

Thực tế là hầu hết các vấn đề được điểm lại ở Phần I của cuốn sách đều được kiểm nghiệm bởi vô số các thí nghiệm khác nhau: sự chậm lại của thời gian theo độ cao; sự không tồn tại của hiện tại; mối liên hệ giữa thời gian và trường hấp dẫn; bản chất động lực học của mối quan hệ giữa các thời gian khác nhau, và rằng những phương trình cơ bản không phân biệt phương hướng của thời gian; mối liên hệ giữa entropy và sự làm nhòe. Tất cả những điều này đều được kiểm chứng rõ ràng.

Rằng trường hấp dẫn có các tính chất lượng tử được xem là một kết luận mà mọi người đồng ý, mặc dầu kết luận đó chỉ được rút ra từ những lập luận lý thuyết thay vì những bằng chứng thực nghiệm.

Sự thiếu vắng biến số thời gian trong những phương trình cơ bản, như thảo luận ở Phần II, là hợp lý - nhưng thảo luận về dạng của những phương trình này vẫn còn tranh luận. Nguồn gốc của thời gian dựa trên tính không giao hoán lượng tử, thời gian nhiệt động, và thực tế rằng sự tăng entropy mà ta quan sát thấy phụ thuộc vào tương tác của ta với vũ trụ là những ý tưởng tôi say mê, nhưng chẳng có bằng chứng khẳng định nào, và cũng không hẳn được chấp nhận rộng rãi.

Điều hoàn toàn đáng tin cậy, trong mọi trường hợp, là sự thật rằng cấu trúc tuần tự thời gian của thế giới khác xa so với cái hình ảnh ngây thơ mà ta hằng có về nó. Hình ảnh ngây thơ này phù hợp với cuộc sống hằng ngày của ta, nhưng không đủ để ta nắm bắt thấu hiểu thế giới này ở những nếp gấp nhỏ bé tinh tế, hay ở sự rộng lớn bao la của nó. Và chắc chắn rằng, nó cũng không đủ để ta có thể hiểu được bản thể của chính ta, bởi vì bí mật của thời gian giao hòa với bí mật của bản chất cá nhân ta, với bí mật của ý thức.

Bí mật của thời gian đã luôn khiến ta bối rối, khuấy động những cảm xúc sâu xa nhất. Sâu xa đến độ nảy sinh ấp ủ những triết lý và tôn giáo khác nhau.

Tôi tin rằng, như Hans Reichenbach[1] đã từng viết trong một trong những cuốn sách sáng rõ nhất của ông về bản chất của thời gian, The direction of time (Hướng của thời gian), rằng để thoát khỏi nỗi lo âu mà thời gian gây ra cho chúng ta, Parmenides[2] đã chối bỏ sự tồn tại của nó, Plato đã tưởng tượng một thế giới của những ý tưởng tồn tại ngoài thời gian, và Hegel[3] nói về những khoảnh khắc Tinh thần siêu vượt thời gian và biết đầy đủ về chính nó. Để thoát khỏi nỗi lo âu này, ta đã tưởng tượng ra cõi “vĩnh hằng”, một thế giới tồn tại bên ngoài thời gian, là chốn của các thiên thần, của Thượng đế, và của những linh hồn bất tử.[4] Cảm xúc sâu xa của ta về thời gian đã cống hiến vào kiến trúc của thánh đài triết học nhiều hơn cả cống hiến của logic và luận lý. Cảm xúc ngược lại, sự tôn thờ thời gian - Heraclitus[5] hay Bergson[6] - cũng đã sinh ra bấy nhiêu triết lý, và cũng chẳng đưa ta đi đến đâu trong hiểu biết về bản chất thời gian.

Vật lý học cho phép chúng ta thẩm thấu qua các lớp lang của bí ẩn này. Nó làm sáng tỏ sự khác biệt giữa cấu trúc tuần tự của thời gian với những gì ta cảm nhận. Nó cho ta niềm hy vọng có thể thấu hiểu bản chất của thời gian sau lớp sương dày đặc của cảm xúc.

Nhưng trong cuộc truy tìm thời gian, dần đi xa với cảm nhận của chính mình, ta rốt cuộc lại khám phá ra bản thân ta - hệt như Copernicus say mê nghiên cứu chuyển động của bầu trời, rốt cuộc đã thấu hiểu chuyển động của Trái đất dưới chân mình. Có lẽ, suy cho cùng, khía cạnh cảm xúc về thời gian chẳng phải một lớp sương ngăn cách ta với bản chất thời gian một cách khách quan.

Có lẽ cảm xúc về thời gian chính thời gian của chúng ta.

Tôi không nghĩ rằng còn có gì khác nhiều hơn thế. Ta có thể đặt ra những câu hỏi mới, nhưng ta phải cẩn thận với những câu hỏi mà bản thân nó khó có thể được đặt ra rõ ràng. Khi ta tìm được tất cả những khía cạnh về thời gian mà ta có thể mô tả, ta sẽ tìm được thời gian. Ta có thể phác một câu hỏi tùy tiện về bản chất thời gian vượt ngoài khả năng lập luận của ta (“Tốt thôi, thế tại sao nó “trôi”?”), nhưng tôi tin rằng ở mức độ đó ta sẽ chỉ là những cá thể luôn lẫn lộn, cố gắng biến những từ ngữ xấp xỉ không hợp lý thành thực tế. Khi ta không thể phác thảo vấn đề một cách chính xác, thường đó không phải là do sự sâu sắc của câu hỏi: mà bởi vì nó là một câu hỏi sai lầm.

Trong tương lai, ta sẽ hiểu biết sâu sắc hơn? Tôi nghĩ vậy. Tri thức của nhân loại đã tiến triển chóng mặt trong các thế kỷ vừa qua, và ta vẫn còn tiếp tục khám phá ra những điều mới mẻ. Ta đang mơ hồ nắm được bí mật của thời gian. Ta có thể nhìn thấy thế giới không có thời gian: với tuệ nhãn, ta có thể cảm nhận được cấu trúc sâu xa của thế giới này khi mà thời gian ta hằng quen thuộc chẳng còn tồn tại - như thằng khờ trên đỉnh dốc thấy được Trái đất đang quay khi Mặt trời lặn xuống. Và ta đang dần nhận ra ta chính là thời gian. Ta là khoảng không gian mở ra bởi những lối mòn ký ức giữa những kết nối chằng chịt của tế bào thần kinh. Ta là ký ức. Ta là niềm hoài niệm. Ta mải miết ngóng chờ một tương lai chẳng bao giờ tới. Cái không gian mở ra theo cách đó, bởi ký ức và kỳ vọng, chính là thời gian: đôi khi là cội nguồn của khổ đau, nhưng suy cho cùng là một khả năng thiên phú diệu kỳ.

Một phép màu quý giá từ vô số sự kết hợp khác nhau đã mở ra với chúng ta, cho phép chúng ta tồn tại. Bây giờ ta có thể mỉm cười. Ta có thể quay trở lại thanh thản thả mình đắm chìm trong thời gian - trong thời gian hữu hạn của ta - để tận hưởng nâng niu từng khoảnh khắc phù du của vòng đời ngắn ngủi này.

❀ ❀ ❀

[1] Hans Reichenbach (1891 - 1953): nhà vật lý học, triết học và logic học lớn thế kỷ 20. (ND)

[2] Parmenides thành Elea (đầu thế kỷ 5 TCN): nhà triết học Hy Lạp cổ đại, người có ảnh hưởng xuyên suốt đến triết học phương Tây. (ND)

[3] Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770- 1831): nhà triết học vĩ đại người Đức. (ND)

[4] Điều vô cùng lý thú về quan sát trên này, vốn chỉ ra bởi Reichenbach (1891 - 1953) và được trình bày trong một cuốn sách cơ bản phân tích thời gian bằng lý tính triết học của ông, là nó có vẻ rất gần gũi với nguồn gốc ý tưởng của Heidegger. Sự phân kỳ sau đó cũng rất rõ ràng mạnh mẽ: Reichenbach tìm kiếm những điều ta đã biết về thời gian ở thế giới mà ta vốn là một phần trong đó từ phía vật lý học, trong khi bản thân Heidegger quan tâm đến bản chất thời gian trong tương quan với sự tồn tại của con người. Hai hình ảnh của thời gian từ đó rất khác biệt với nhau. Phải chăng chúng thực sự không tương thích? Nhưng tại sao chúng phải tương thích? Họ suy ngẫm về các vấn đề khác nhau: một phía, là cấu trúc thời gian hiệu dụng của thế giới này, ngày càng trở nên bị bào mòn khi ta mở rộng hơn tầm nhìn của mình; phía kia, cái bản chất cơ bản của thời gian đối với chúng ta, đối với ý nghĩa cụ thể của “sự tồn tại trong thế giới này”.

[5] Heraclitus thành Ephesus (khoảng 535 - 475 TCN): nhà triết học Hy Lạp cổ đại tiền Socrates, nổi tiếng với quan điểm nhấn mạnh rằng sự biến dịch là bản chất của vũ trụ qua câu nói “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. (ND)

[6] Henri-Louis Bergson (1859- 1941): nhà triết học người Pháp gốc Do Thái có ảnh hưởng quan trọng đến triết học đầu thế kỷ 20 đến trước Thế chiến II. (ND)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.