O Sestius,
những ngày ngắn ngủi,
ta chẳng có thời gian,
mà mơ những giấc mộng dài. (I, 4)
Trong phần ba của bộ sử thi vĩ đại Ấn Độ Mahābhārata, Quỷ Dạ xoa (Yaska), một linh hồn đầy quyền lực, đã hỏi Yudhistira, người già nhất và thông thái nhất trong năm anh em nhà Pandava, rằng đâu là bí ẩn lớn nhất của mọi bí ẩn. Câu trả lời của Yudhistira từ đó đã vang vọng qua hàng thế hệ loài người: “Mỗi ngày vô số người đã chết, vậy mà những người còn lại vẫn sống như thể rằng họ là bất tử”.
Tôi chẳng mơ mộng rằng mình sẽ sống như mình sẽ bất tử. Tôi không sợ cái chết. Tôi sợ khổ đau. Tôi sợ già nua, nhưng giờ đây cũng đã ít hơn, khi tôi đang chứng kiến tuổi già thanh thản và hạnh phúc của cha tôi. Tôi sợ hãi sự yếu đuối nhu nhược, và sự thiếu vắng yêu thương. Nhưng cái chết chẳng đe dọa nổi tôi. Nó chẳng khiến tôi sợ hãi từ những ngày trai trẻ, và ngày đó tôi nghĩ rằng có lẽ đó là chuyện còn quá xa vời trong tương lai. Nhưng nay, ở tuổi sáu mươi, nỗi sợ hãi đó vẫn chưa tìm tới. Tôi yêu cuộc sống, nhưng cuộc sống cũng là trăn trở, phiền não, là khổ đau. Tôi nghĩ về cái chết như nghĩ về một sự yên nghỉ xứng đáng. Nhũ mẫu của giấc ngủ, Bach đã gọi như vậy trong bản cantata BWV 56 diệu kỳ của mình. Nhũ mẫu sẽ nhẹ nhàng đến nhắm mắt cho ta.
Job qua đời khi đã “đủ số ngày”. Thật là một từ hay. Tôi cũng muốn đạt đến cái cảm giác của “đủ số ngày”, mỉm cười đóng lại vòng đời ngắn ngủi này. Vâng, tôi vẫn tận hưởng nó; vẫn say mê bóng trăng trên mặt biển hay những nụ hôn của người phụ nữ ta yêu, say mê sự hiện diện của nàng vốn tỏa sáng ý nghĩa cho vạn vật; vẫn tận hưởng những chiều Chủ nhật mùa đông nằm dài trên ghế sofa điền chằng chịt những ký hiệu và công thức vào tờ giấy trắng, mơ mộng rằng ta đang nắm bắt được một bí mật nhỏ nhoi giữa hàng ngàn bí mật quanh ta... Tôi vẫn say mê nước từ chén thánh, từ cuộc sống đang trào dâng, vừa dịu dàng vừa thù địch, vừa rõ ràng vừa khó hiểu, đầy những bất ngờ... Nhưng tôi cũng đã uống đủ những cay đắng ngọt ngào của thứ nước diệu kỳ này, và nếu một thiên thần đến nói với tôi ngay lúc này, rằng “Carlo, đã đến lúc rồi”, tôi sẽ chẳng nài xin thêm thời gian dù chỉ để kết thúc câu văn dang dở này. Tôi sẽ chỉ mỉm cười đi theo người.
Sự sợ hãi cái chết của ta có vẻ như là một sai lầm của tiến hóa. Rất nhiều loài động vật phản xạ hoảng sợ một cách bản năng và chạy trốn trước kẻ thù đang đến. Đó là một phản xạ lành mạnh cho phép chúng thoát khỏi hiểm nguy. Nhưng đó chỉ là nỗi hoảng sợ chốc lát. Chọn lọc tự nhiên đã sinh ra cái loài linh trưởng với chứng đại phì não bộ này, với khả năng tiên đoán tương lai một cách vượt trội. Khả năng đặc biệt này quả nhiên vô cùng hữu ích, nhưng cũng chính nó treo trước mắt ta một cái chết không thể nào tránh khỏi, và điều này cũng gây nên nỗi hoảng sợ và mong muốn trốn chạy. Về cơ bản, tôi nghĩ rằng nỗi sợ hãi cái chết là kết quả của một sự giao thoa ngẫu nhiên và tùy tiện giữa hai áp lực chọn lọc ngẫu nhiên - kết quả của một sự kết nối tự động trong bộ não chúng ta, chứ chẳng phải cái gì đó hữu ích hay có ý nghĩa gì hơn. Mọi thứ đều có bắt đầu và kết thúc, kể cả bản thân loài người. (“Trái đất đã qua tuổi thanh xuân; đã mất rồi giấc mơ hạnh phúc. Và mỗi ngày ta lại gần với cát bụi hơn”, như Vyasa đã nói trong sử thi Mahãbhãrata.) Sợ sự thay đổi, sợ cái chết, giống như là sợ thực tế; giống như sợ ánh sáng Mặt trời. Tại sao chứ?
Đó là những lý lẽ. Nhưng cuộc sống của ta lại chẳng được chi phối bởi các lý lẽ. Lý lẽ giúp ta làm sáng tỏ những ý tưởng, tìm ra những sai lầm. Nhưng cùng những lý lẽ đó cũng cho ta thấy những mô hình hành động của ta được khảm sâu bởi bản chất động vật, của kẻ đi săn, của tính bầy đàn: lập luận làm sáng tỏ điều này, nó chẳng tự tạo ra điều đó. Ta, ở mức bản năng sơ cấp, không phải là sinh vật lý trí. Ta có thể nhiều hay ít trở nên lý trí ở mức độ thứ cấp. Nhưng ở bản năng sơ cấp, ta hành động theo khát khao được sống, theo bản năng kiếm mồi, theo bản năng tìm đến tình yêu, và bản năng tìm vị trí của ta trong cộng đồng... Mức độ thứ cấp chẳng hề tồn tại nếu không có mức độ sơ cấp này. Lý trí phân xử bản năng, nhưng cũng sử dụng cùng những bản năng đó làm tiêu chí phân xử. Nó đặt tên cho vạn vật, và cho cả cái khát khao kia, nó cho phép ta vượt qua những chướng ngại, nhìn thấu những điều ẩn giấu. Nó cho phép ta nhận ra vô vàn những cách sống không hiệu quả, những niềm tin sai lầm, và những định kiến của ta. Nó đã phát triển để giúp ta hiểu được rằng những con đường mà ta đeo đuổi, cho rằng chúng dẫn đến con mồi mà ta đang săn đuổi, thực ra là các con đường sai lầm. Nhưng cái dẫn lái cho ta chẳng phải là những suy tư về cuộc sống: mà chính là cuộc sống.
Vậy cái gì là cái thực sự dẫn lối cho ta? Đây là điều khó có thể nói rõ. Có lẽ chúng ta cũng không hoàn toàn biết được. Ta nhận ra được những động lực trong ta. Ta đặt tên cho những động lực đó, và ta có rất nhiều những động lực như vậy. Ta tin rằng ta cũng có một vài động lực như các loài động vật khác; vài cái khác chỉ có ở con người - và một vài cái thì chỉ có ở một nhóm nhỏ những người mà ta tự cho mình thuộc về đó. Đói khát, tò mò, mong muốn sẻ chia, đam mê yêu thương, yêu thương, theo đuổi hạnh phúc, tranh giành địa vị, khát vọng được thừa nhận, được coi trọng và yêu thương; sự trung thành, danh tiếng, lòng kính Chúa, khát vọng với sự công bằng và tự do, đam mê tri thức...
Tất cả những điều này đến từ đâu? Từ cái cách mà ta được tạo thành, từ cái mà tình cờ lại là bản thể của ta. Ta là sản phẩm của một quá trình chọn lọc lâu dài của các cấu trúc hóa học, sinh học, văn hóa vốn đã tương tác với nhau ở nhiều mức độ và trong thời gian dài lâu để hình thành nên cái quá trình nực cười chính là chúng ta. Cái quá trình mà ta chẳng có bao nhiêu hiểu biết qua việc suy tư về chính bản thân ta, soi lại chính mình. Ta phức tạp hơn là những gì mà các nhà thần kinh học của chúng ta có thể hình dung. Sự phát triển thùy trán vượt trội kia là rất đáng kể, nó đã đưa ta lên Mặt trăng, cho phép ta khám phá các hố đen, và giúp ta nhận ra rằng ta cũng là họ hàng với loài bọ rùa. Nhưng nó vẫn không đủ để cho phép ta giải thích về chính bản thân ta.
Ta còn chẳng rõ “hiểu” có nghĩa là gì. Ta xem xét thế giới này và mô tả nó: ta đưa nó vào trật tự. Ta chẳng có bao nhiêu hiểu biết về mối quan hệ giữa những gì ta thấy về thế giới và bản thân thế giới. Ta biết rằng chúng ta rất thiển cận. Ta chỉ nhìn thấy một cửa sổ bé xíu của cái phố điện từ rộng lớn mà vạn vật đang phát xạ. Ta không thấy cấu trúc nguyên tử của vật chất, chẳng thấy độ cong của không gian. Ta thấy một thế giới mạch lạc mà ta ngoại suy từ tương tác của ta với vũ trụ, tổ chức qua những thuật ngữ đơn giản mà cái bộ óc vô cùng ngốc nghếch của ta có thể suy luận. Ta nghĩ về thế giới qua những tảng đá, những rặng núi, những đám mây, con người, và đó là “thế giới quanh ta”. Về cái thế giới độc lập với ta, ta nghĩ là ta biết khá nhiều, nhưng chẳng biết cái khá nhiều đó thực sự là bao nhiêu.
Tư duy của ta là con mồi của chính điểm yếu của nó, nhưng hơn thế, còn là con mồi của chính quy luật của nó. Chỉ mất vài thập niên để thế giới có thể thay đổi từ ác quỷ, thiên thần, và những mụ phù thủy, đến nguyên tử và sóng điện từ. Chỉ vài gam nấm độc là đủ để xóa tan mọi thực tại trong mắt của ta và biến chúng thành đủ loại hình thù kỳ dị. Bạn chỉ cần dành ít tuần lễ với một người bạn mắc chứng tâm thần phân liệt đang trăn trở để giao tiếp để nhận ra rằng tâm thần là một thứ công cụ sân khấu khổng lồ có thể dàn dựng nên cả thế giới này; và bạn khó có thể tìm được những lý lẽ để phân biệt nó với tình trạng tâm thần tập thể của chúng ta, vốn là cái nền tảng cho cuộc sống xã hội, tâm linh, và tri thức. Có lẽ là trừ ra sự cô đơn và mong manh dễ tổn thương của những người tự tách mình khỏi trật tự chung của vạn vật... Thị chứng về thực tại và tình trạng tâm thần tập thể đã tiến hóa hóa ra là rất hữu hiệu, chính chúng đã đưa ta đến hiểu biết ngày nay. Ta đã tìm ra công cụ để đối phó với tình trạng tâm thần tập thể này, và để tham gia vào trong đó; và trong số đó, lý trí là một công cụ vô cùng hữu hiệu. Một công cụ quý giá.
Nhưng nó chỉ là một thứ công cụ, một cái kìm càng cua. Ta dùng nó để làm việc với cái thứ vật chất làm từ băng và lửa: những cảm xúc sống động và bùng cháy. Đó là thứ vật chất mà ta được tạo thành. Chúng lôi kéo, xô đẩy ta, và ta thì khoác lên chúng những lời lẽ bóng bẩy. Chúng là động lực hành động của ta. Và có gì đó trong chúng vuột khỏi cái trật tự của những cuộc đàm luận của ta, vì ta biết rằng, suy cho cùng, mọi cố gắng sắp xếp trật tự đều để sót lại cái gì đó là ngoại lệ.
Và có vẻ đối với tôi, cái cuộc sống ngắn ngủi này chẳng có gì hơn thế: tiếng gầm thét của những xúc cảm chi phối chúng ta, mà đôi khi chúng ta cố gắng nhân danh một thượng đế, một đức tin chính trị, một thứ nghi lễ để trấn an ta rằng, ở mức độ cơ bản, vận vạt đều có trật tự, trong một tình yêu vĩ đại vô biên - một tiếng gầm thét đẹp đẽ. Đôi khi là tiếng kêu đau thương. Đôi khi là một khúc ca.
Và những bài ca,như Augustine đã chỉ ra, là một cảm nhận về thời gian. Nó là thời gian. Nó là bài thánh ca Vedas mà bản thân nó là sự đơm hoa của thời gian. Đó là tiếng violin trong phần Benedictus của bản Missa Solernnis của Beethoven, vẻ đẹp tinh khiết, nỗi tuyệt vọng tinh khiết, và niềm vui tinh khiết. Ta lặng người, ta nín thở, ta mơ màng trong nỗi huyền bí rằng đây hẳn là cội nguồn của ý nghĩa. Hẳn là cội nguồn của thời gian.
Và bài ca lặng dần và dừng lại. “Sợi chỉ bạc đứt mối, chiếc bát vàng vụn tan, chiếc vò ở đài phun vỡ nát, gầu kia rơi xuống giếng sâu, và Trái đất trở về với cát bụi”. Mọi điều đều tốt đẹp. Ta có thể nhắm mắt nghỉ ngơi. Tất cả đều công bằng và đẹp đẽ trong mắt tôi. Đó là thời gian.