Truất Long

Lượt đọc: 2409 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 169
Phù Mã Hành (16)

❊ ❊ ❊

"Đi hết rồi sao?"

Sau bức bình phong nhỏ, Trương Hành không ngẩng đầu lên, hỏi.

"Đi hết rồi... Bọn họ nghe nói Tam ca chí ít sẽ tiếp tục dẫn đội đến đại doanh Đăng Châu rồi mới nhận chức mới, thế là đi hết... Chẳng phải thật lòng đến chúc mừng đâu, đều sợ lời cam đoan trước kia bỗng dưng mất hiệu lực."

Tần Bảo khoanh chân ngồi xuống trước bức bình phong nhỏ, rồi liếc nhìn đồ vật trên đó, đó là một phần văn thư, nửa tấm phù tiết... Có lẽ vì trước mặt hoàng đế có đến nửa triều đình đi theo, tối hôm đó Dư công công đã sai người đưa những thứ này đến.

Nhưng không có ấn thụ.

"Vì sao không có ấn thụ?" Tần Bảo ngồi yên rồi, có lẽ hơi lúng túng, nên kiếm chuyện hỏi.

"Bởi vì triều Đại Ngụy là một triều đại kỳ kỳ quái quái." Trương Hành vốn đang thất thần, mặt không cảm xúc ngẩng đầu lên, có một nói một. "Mấy trăm năm chia cắt và cát cứ trước đây, dẫn đến rất nhiều biến thiên và diễn hoá về chế độ, đến triều Đại Ngụy này, bỗng thấy có vẻ nhất thống, nhưng lại nhiều thay đổi, cho nên thường thấy những đặc điểm khác nhau của cùng một sự vật..."

Tần Bảo hơi mờ mịt, không biết Tam ca nhà mình bỗng dưng nói cái này làm gì, nhưng vẫn giữ kiên nhẫn: "Ví dụ như ấn thụ?"

"Đúng! Cụ thể đến ấn thụ, như hệ thống trị an, hệ thống ngự sử, và hệ thống tướng quân, bởi vì không thường thiết lập cố định, hoặc lấy tuần tra làm chính, điều này khiến ấn đi theo người, các loại chu thụ, hắc thụ, bạch thụ của Đài Tĩnh An chính là như thế mà có, bởi vì là ấn nhỏ thụ dài, chỉ nhìn dải thụ bên ngoài là đại khái hiểu được thân phận đối phương..."

Nói rồi, Trương Hành trước tiên chỉ chỉ vật đeo bên hông.

"Nhưng mà đến những cơ quan thường thiết lập như châu quận bộ tự giám, thì thường là người đến người đi, việc không thể ngừng, ấn thụ tương ứng thường được để ở đại đường, hơn nữa bình thường là đại ấn không thụ, đóng vai trò ký áp..."

Rồi lại chỉ chỉ đồ vật trên bức bình phong nhỏ.

"Cho nên, trước mắt thứ thực sự có thể biểu thị thân phận Thái thú Vũ An của ta, chính là tờ văn thư Nam Nha này, được ban hành nhân danh hoàng đế mỏng manh, trên có đại ấn của Nam Nha thay mặt nắm giữ và chữ ký áp của Ngu tướng công, chỉ cần ta cầm văn thư này cùng nửa khối phù tiết đến Vũ An Quận, là có thể được trong quận thừa nhận, đường đường chính chính trở thành quan thủ một quận."

Tần Bảo gật đầu, nhưng không nói thêm lời nào, bởi vì nếu hắn đoán không sai, từ khi phần văn thư có thể khiến Tam ca nhà mình một bước nhảy vọt lên làm Thái thú một quận này được đưa tới, đối phương vẫn chưa từng chạm vào nó một chút.

Nói cách khác, vị Tam ca trước mắt này chẳng hề làm gì cả... Từ lúc chạng vạng tối ở trước ngự trướng nhận được khẩu dụ ban thưởng, cho đến vừa rồi Dư công công đích thân đến đưa văn thư, rồi đến bây giờ bên ngoài có người đến chúc mừng bị hắn là Tần Bảo ngăn lại... Trương Tam Lang chỉ là ngồi ỳ trước bức bình phong nhỏ mà thôi.

Không bày tỏ niềm vui về tiền đồ cá nhân, không bày tỏ ưu sầu về vận mệnh đất nước, không tiếp nhận chúc mừng, cũng không tiếp nhận phúng điếu, không bàn bạc tiền đồ với người huynh đệ thân thiết nhất như mình, cũng không đi liên lạc với người quen, hỏi han có ai cùng hắn đi Vũ An hay không, thăng quan phát tài làm sự nghiệp.

Nói cách khác, đối phương không thực sự muốn nói gì về phù tiết, văn thư, ấn thụ.

"Tên của người ta cũng có thể thấy được một chút manh mối."

Trương Hành tiếp tục nghiêm túc nói. "Bất kể là thế tộc Quan Lũng hay danh gia Sơn Đông, lại hoặc sĩ nhân Giang Đông... trong những người đã trưởng thành, tên của rất nhiều người đều mang những chữ đệm như 'Thế', 'Đại', 'Thường'... Đây chính là một loại tâm thái khát vọng gia tộc tiếp tục, vừa là e sợ loạn lạc, vừa là hoan nghênh thời đại thường trị đại nhất thống sắp tới. Có thể thấy, thứ gọi là lòng người này, thực sự rất thú vị... Triều Đại Ngụy cũng rất thú vị."

Câu này thì lại giống Trương Tam Lang ngày thường rồi, cái gì cũng có thể vòng đến con người, con người cái gì cũng có thể thành, thậm chí như thể có thể thắng trời thắng đất vậy. Nhưng trên thực tế, chớ nói Chí Tôn, trên Chí Tôn còn có thiên ý.

Tần Bảo nghe vậy thở phào nhẹ nhõm, rồi nghiêm túc hỏi: "Vậy Tam ca có định nhận chức không?"

"Không có lý do gì để không đi." Trương Hành trả lời dứt khoát. "Nhưng thế nào cũng phải giữ lời hứa, đưa người tới doanh trại Đăng Châu trước đã. Thậm chí nếu tình hình thay đổi, e rằng còn phải đưa người tới cửa Đại Hà, tìm Lý Tứ Lang, để hắn đưa người về Đông Đô... gọi là hữu thủy hữu chung (có đầu có cuối)."

Tần Bảo gật đầu thật mạnh, nghĩ một lát rồi nói tiếp: "Lai Công cho người mang hai thanh thiết giản tới làm lễ tạ, còn bảo hậu quả ông ấy đã xử lý sạch sẽ rồi, nhưng Tiểu Chu không muốn ở lại chỗ ông ấy, nên dặn chúng ta phải trông nom nhiều hơn..."

"Vốn là đồng liêu, ông ấy không dặn ta cũng trông nom." Trương Hành thuận miệng đáp. "Võ nghệ của ta trước mắt chưa được, huynh cứ giữ lại đi... chỉ e phải vất vả cho huynh trông chừng hắn nhiều hơn."

"Được." Tần Bảo lập tức đáp lời.

Nhưng sau tiếng đáp, lại là im lặng.

Mấy ngày sau đó, đại khái là đã ý thức được tầm quan trọng của các doanh trại dọc đường, thêm vào đó cũng không có cái gọi là tin đồn 'binh bại như núi đổ', dưới sự khống chế của mấy vị túc tướng, trật tự của đội ngũ dường như khá hơn một chút.

Đương nhiên rồi, trước kia ngồi im không động thôi cũng không tránh khỏi đào tẩu liên miên, nay tiền tuyến đại bại, chuyện cũ tái diễn, cái gọi là trật tự khá hơn chút chỉ có thể nói là tốt hơn một chút so với dự liệu về một sự tan rã toàn diện.

Hễ bắt được cơ hội, dân phu, quân sĩ vẫn liều mạng chạy vào vùng núi phía bắc, mỗi lần hành quân, đều có bộ đội phía trước đi qua doanh trại mà không vào, trực tiếp chạy như điên về hướng tây sang Đăng Châu, rồi mất liên lạc với ngự giá phía sau... cũng không biết là tới Nghi Mông Sơn hay là về nhà nữa.

Cướp bóc, thanh toán lẫn nhau, cưỡng bức, theo tiết trời càng lúc càng oi bức, vẫn tiếp tục diễn ra trong những góc tối tăm.

Hơn nữa, lương thực rõ ràng cũng bắt đầu căng thẳng, đội kỵ mã của Vệ Phục Long đã phải dùng đến lương thảo dự trữ tự mang theo.

Nhưng cuối cùng, đầu tháng năm, có lẽ là lúc thời tiết nóng nhất, ngự giá cuối cùng cũng chạy tán loạn trở về đại doanh Đăng Châu... rồi, bỗng nhiên dừng lại.

Đám sĩ tốt, cung nhân phía dưới vì được tiếp tế, lại trở về nơi quen thuộc nên thở phào nhẹ nhõm; một bộ phận đáng kể quan lại trung hạ tầng cũng cho là đương nhiên, vì phải thu thập tàn binh, vì phải cứu viện bại sư, vì phải thưởng phạt... nhưng một số quan lại có tâm tư, bao gồm cả Trương Hành, thì rõ ràng cảm thấy có chút bất an.

Bởi vì không ai biết vị Thánh Nhân này lại sắp làm ra chuyện gì.

Ngay lúc này, Bạch Hữu Tư tìm tới Trương Hành.

Nói ra thì, Bạch Hữu Tư chấp chưởng Ấn Phục Long cùng Ngưu Đốc Công trước nay vẫn là đảm bảo an toàn lớn nhất trước mặt thánh giá, cũng là tầng bảo vệ bí ẩn nhất, điều này khiến cho trong lần đông chinh này Bạch Hữu Tư rất ít khi tiếp xúc với Trương Hành... Đương nhiên, không biết có phải ảo giác hay không, Trương Hành vẫn luôn cảm thấy, từ sau sự kiện 'song mã đồng tào' năm ngoái, Bạch Hữu Tư vẫn luôn duy trì một loại tư thái kỳ lạ.

Cứ như thể vẫn luôn quan sát, vẫn luôn bảo vệ, nhưng lại vẫn luôn giữ một khoảng cách nhất định.

Quan hệ cá nhân của hai bên, cũng vẫn dừng lại ở một lần hỏi đáp mập mờ trong rừng dương liễu hôm ấy.

Ước định về 'công vụ' của hai bên, cũng vẫn dừng ở chỗ Trương Hành đi tới địa phương, còn Bạch Hữu Tư dễ gây chú ý hơn thì đợi một thời gian ngắn, rồi sau đó cũng đi theo, như ước định.

Ngoài những điều đó ra, hết thảy đều có vẻ hơi cẩn thận.

Về chuyện này, Trương lão tam cũng không phải không hiểu... Trước hết, chín phần mười là có nhân tố quán tưởng ở kỳ Thành Đan này tác quái, quán tưởng, quán tưởng, khẳng định là lấy quan sát và lý giải làm chính, tương tác quá nhiều sẽ ảnh hưởng tới quán tưởng, cho nên hắn cũng lười để ý; tiếp đến, hai nam nữ trưởng thành sớm đã ý thức được, gia thế của song phương là một trở ngại cực lớn, trở ngại này không chỉ tới từ địa vị cách biệt của hai bên, mà còn tới từ sự khác biệt về giá trị quan cá nhân tương ứng của hai bên, không chỉ tác động tới tình cảm riêng tư của hai người, mà còn tác động tới lý tưởng và sự nghiệp của hai người.

Vào lúc này, Trương Hành bỗng nhiên đạt thành tâm nguyện trước thời hạn, Bạch Hữu Tư đương nhiên phải tới hỏi một chút.

"Huynh định tới Vũ An sao?" Bạch Hữu Tư vào trong trướng liền đi thẳng vào vấn đề.

"Có chút chần chừ, cảm thấy cái chức Quận thú này sao mà hoang đường, nhưng không tìm ra lý do để không đi." Trương Hành ngồi phía sau bàn gỗ nghiêm túc đáp lại, phòng ốc trong doanh trại Đăng Châu đều là kiên cố, phòng xá Thái thú họ Trương được phân cũng rất rộng rãi.

"Cái này ngược lại hợp với tính nết cổ quái của chàng." Bạch Hữu Tư trầm ngâm, rồi ôm trường kiếm ngồi xuống. "Ta đến đây thật ra là để khuyên chàng sớm quyết định…"

"Nàng phát giác Thánh Nhân quả nhiên lại sắp giở trò gì sao?" Trương Hành vực dậy tinh thần hỏi.

"Không có tin tức cụ thể, nhưng ông ta dừng lại, nhất định là sắp gây chuyện." Nói đoạn, Bạch Hữu Tư bĩu môi ra hiệu. "Thanh kiếm sau lưng chàng là Kinh Long Kiếm phải không? Là Tề Vương cho chàng? Tuy không biết giữa hai người có giao hẹn gì… nhưng cũng có thể đoán được, có liên quan đến chuyện động đất sau cuộc chinh phạt Đông Di lần thứ hai… giờ ông ta cũng vẫn còn trong quân, hơn nữa chiều nay vừa được triệu kiến."

Những lời trước thì cũng thường thôi, Trương Hành không trông mong mấy chuyện vặt vãnh giữa mình và Tào Minh có thể giấu được Bạch Hữu Tư, người vẫn luôn quán tưởng về mình, cũng chẳng đáng giấu, nhưng trong căn phòng đầy hàn khí, Trương Hành vẫn như bị dội một gáo nước đá giữa tiết tam phục mà bừng tỉnh: "Cục diện thế này còn định dùng Kinh Long Kiếm ư? Ngay với người Đông Di còn chưa dùng cơ mà! Rồng mà động đậy, nhẹ nhất cũng là thiên tai."

Bạch Hữu Tư không lên tiếng.

Trương Hành chợt hiểu ra: "Cho nên, chỉ là để phòng vạn nhất, ta cũng nên mang Kinh Long Kiếm đi trước? Ở đây không có Đại Tông Sư, không kịp tế luyện nhanh một món mới, chỉ cần kéo dài được ít lâu, ông ta liền hết cách, phải không?"

Bạch Hữu Tư khẽ gật đầu: "Có chút giống như ép chàng nhậm chức vậy… nhưng thực sự cần chàng đi trước một bước, để phòng vạn nhất."

"Đêm nay ta đi ngay." Trương Hành gật đầu. "Có việc này, trái lại đỡ cho ta khỏi phải khó xử ở đây."

Bạch Hữu Tư gật đầu, không nói thêm nữa.

Trương Hành cũng thế… hoài bão gia quốc và tình cảm nhi nữ, con đường dài phía trước và lựa chọn trước mắt… cả hai dường như đều muốn nói gì đó, nhưng chẳng biết bắt đầu từ đâu, chỉ đăm đăm nhìn ngọn nến trên án thư mà thất thần, căn phòng nhất thời chìm vào im lặng.

"Vốn định nói bảo trọng, nhưng bản lĩnh của chàng thế nào ta rõ, cũng không cần ta phải lo. Vũ An cũng chẳng phải nơi thiên nam địa bắc gì, thậm chí là Ngu tướng công đã ngầm chiếu cố, nói nhiều lại thành ra khách sáo." Trương Hành nghĩ một lúc, cuối cùng mở lời trước. "Vả lại ta chỉ là đi trước một bước, mang Kinh Long Kiếm đi tránh một chút… biết đâu đến cửa Đại Hà sẽ hội ngộ với Lý Tứ Lang rồi quan sát tình hình một chút, đợi đại quân đến rồi mới đi tiếp."

Bạch Hữu Tư lại trầm ngâm, nhưng vẫn không lên tiếng, chỉ khẽ gật đầu, rồi đứng dậy.

Trương Hành cũng đứng dậy theo, tiễn đối phương ra ngoài.

Bước ra khỏi cửa, chỉ thấy hai vầng trăng cong cong treo cao hai bên, sao trời lấm tấm soi tỏ trời đất, rồi bốn bề sóng nhiệt cuồn cuộn, ồn ào không dứt, xen lẫn tiếng la hét, tiếng khóc lóc, tiếng gào thét, tiếng thì thầm, khiến người ta như lạc vào một thế giới khác vậy.

Hơn nữa, gần như có thể hình dung, những ngày sau, theo sự xuất hiện của bại binh và ngày càng nhiều tin bại trận được truyền về, tình trạng hỗn loạn trong đại doanh sẽ ngày một xấu đi.

Tần Bảo, Tiền Đường, Vương Chấn và Tiểu Chu cùng các Phục Long Vệ thấy hai người Bạch, Trương đi ra, đều lần lượt đứng dậy.

Trong hoàn cảnh này, càng khó nói được những lời tâm tình riêng tư.

Hai người bước vài bước, Bạch Hữu Tư bèn quay đầu lại: "Xin chàng cứ về đi. Chúng ta làm việc, chỉ cần hỏi lòng không hổ thẹn là được, không cần nghĩ ngợi nhiều."

Trương Hành gật đầu, cũng dừng chân, nhìn theo đối phương trở về.

Bạch Hữu Tư đã đi, Trương Tam Lang biết nguy cơ lớn có thể xảy ra, không thể trì hoãn thêm nữa, bèn nhanh chóng gọi Tần Bảo đến, dặn dò qua loa, rồi vội vàng cuốn Kinh Long Kiếm lại, cất kỹ kim chùy và la bàn, thu thập văn thư, phù tiết, lại đeo thêm loan đao, đội mũ nhỏ, rồi bước ra ngoài… Lúc này Tần Nhị Lang đã sớm dắt Hoàng Phiêu Mã và con la cùng tới, ngựa để người cưỡi, trên lưng la chở một ít lương khô, bùi nhùi, lương thực các thứ… Trương Hành trực tiếp dắt lấy, rồi rảo bước ra ngoài.

Tiền Đường, Vương Chấn cùng các Phục Long Vệ đều đã biết Trương Phó Thường Kiểm được bổ nhiệm làm Quận thú, chỉ cho rằng lúc này đưa mọi người về đại doanh Đăng Châu rồi không còn vướng bận gì, liền vội vã lên đường làm Quận thú lão gia, tuy trong lòng có chút suy nghĩ riêng, nhưng trước đó đã tận mắt thấy Bạch Hữu Tư tới, cũng chỉ coi là được dặn dò gì đó, không tiện nói nhiều, đành ngậm ngùi thở dài.

Nhưng phần đông hơn lại như gã Tiểu Chu kia, mang tâm sự cùng nỗi lo âu trước thời cuộc, chẳng còn mấy bụng dạ đặt lên người khác.

Dưới sự hộ tống của Tần Bảo, Trương Hành đi theo khu vực phòng thủ của Tư Mã Chính, cầm văn thư điều nhiệm hẳn hoi, thản nhiên ra khỏi doanh trại, rồi dặn lại Tần Bảo, chỉ nói vạn nhất không gặp được ở Đại Hà Khẩu, thì chờ về Đông Đô sẽ liên lạc vân vân, kế đó vội vàng quất ngựa rời doanh.

Suốt một đêm ruổi ngựa, vội vàng rời khỏi đại doanh Đăng Châu, cũng chẳng có gì đáng nói.

Vậy mà hai ba hôm sau đó, Trương Hành đi càng lúc càng chậm, càng đi càng thấy nhạt nhẽo; tối ngày thứ ba sau khi rời đại doanh Đăng Châu, y tá túc trong một đồn nhỏ ven đường, lại càng trằn trọc mãi, khó lòng chợp mắt.

Một thứ phiền muộn khó gọi tên đè nặng trong lồng ngực, y muốn gào, muốn thét, muốn làm một điều gì đó, song lại bị lý trí và logic trói buộc; muốn nén xuống, quay về với lý trí, làm việc theo logic và thiệt hơn, thế mà vẫn không sao dập tắt nổi ngọn lửa âm ỉ đang cháy.

Tình trạng này không phải tối nay mới có, cũng chẳng phải sau khi lấy được chức thái thú một quận theo cách hoang đường kia mới có, mà sớm hơn, từ trước chuyến đông chinh lần này, thậm chí sớm hơn nữa, từ hai năm trước khi vừa hòa nhập vào thế giới này, y đã mang một tâm thái kỳ quái như vậy... Chỉ có điều, lúc đó y cho rằng tâm thái ấy là sai, là không nên có, hơn nữa mỗi lần thử suy nghĩ, thử suy luận rồi biến thành hành động, y lại thường phát hiện mình sẽ bước vào một con đường hợp lý và ổn thỏa hơn, và điều đó lại càng nuôi dưỡng thêm nỗi bứt rứt này.

Xét ở một góc độ nào đó, trong lòng y có một ngọn lửa, muốn thiêu rụi cả thế gian, nhưng cái phát ra bên ngoài lại là hàn băng chân khí lạnh nhất.

Hàn băng chân khí thực sự đã được phóng xuất, chính giữa lúc nóng nhất trong năm, chẳng phóng chút chân khí ra thì căn bản không sao ngủ nổi, cũng chẳng có lý do gì để không phóng... Giữa đêm hè, Trương Hành trở mình ngồi dậy, chỉ lặng nhìn trời sao ngoài khung cửa mà lòng rối như tơ vò.

Đây là một doanh trại nhỏ trên tuyến tiếp tế, coi như một trạm tiếp vận; kẻ coi sóc ở chỗ này là một tiểu lại không phẩm hàm ở bản địa Đăng Châu, căn bản không sao trốn được việc sai... Nhưng cũng cùng một cái lẽ, trước vô số tàn binh, đào binh, đoàn phu phen tụ tập lại cùng các sai quan và sứ giả lớn nhỏ đi về, bọn họ cũng hết cách, đành làm ngơ.

Thế là cái trạm binh nhỏ xíu này đầy ắp đủ mọi tam giáo cửu lưu, trong đó có cả đám người anh tuyệt đối không sao nói rõ là tàn binh hay phản tặc, chúng đánh nhau, chửi rủa om sòm suốt đêm.

Tiếng động của những kẻ ấy khiến Trương Hành theo bản năng nhớ lại chuyện mình gặp Đô Mông hai năm trước; lúc ấy không ai ngờ rằng gã đàn ông bên lề đường lại chính là vị Tề Vương điện hạ — một gã khổng lồ tuyệt vọng bị phụ thân vắt kiệt.

Và rồi cũng không ai ngờ, chỉ vài ngày sau, Đô Mông đã đột ngột chết vì cuộc đấu đá nội bộ của đám tàn binh.

Cú sốc và ảnh hưởng mà chuyện ấy để lại cho mình, kéo dài mãi đến tận bây giờ, không nỡ mở lòng sát khí, không dùng việc giết người để trắng trợn đoạt lấy lượng chân khí tích trữ, phần nhiều là bởi vì lẽ ấy.

Tiếng ồn ào càng lúc càng lớn, Trương Hành càng thêm nóng ruột. Y có lòng đi quát tháo ngăn cản, nhưng lại nghĩ chuyện thế này e rằng trải mấy nghìn dặm từ Lạc Khẩu Thương đến tận chỗ này đều như vậy, huống chi ở mạn tây nam Đăng Châu còn có Nghi Mông Sơn cùng Cự Dã Trạch, cùng với vô số kẻ đã rõ ràng làm phản, rồi bên kia Lạc Long Than còn có đến hơn mười vạn tàn binh bại tướng bị bỏ rơi... Tính cả Nam lộ quân đã định trước sẽ bị vây kẹt vì tiến sâu vào đất địch, e rằng phải đến hơn hai mươi vạn người là ít.

Lại thêm hơn hai mươi vạn quân sĩ bị ném lại nơi tiền tuyến.

Bao nhiêu người ấy, bấy nhiêu sự việc, một mình mình làm sao quản được, lại chẳng có đội ngũ tâm phúc của riêng mình, chi bằng sớm ngày đến nhậm chức, dốc sức ở địa phương làm đầu thôi.

Nghĩ đến đây, Trương Hành dứt khoát đứng dậy, thu dọn đồ đạc, thắng ngựa dắt la đi ngay trong đêm.

Hơi dùng chân khí hù dọa mấy tên lính tan tác đang chặn đường, đi thêm một hồi, nửa đêm đầu sao sáng ánh trăng, cứ men theo đường cái cũng ổn thỏa. Nhưng đến nửa đêm sau, gần như mắt thường cũng thấy, hình như dậy lên một lớp sương mỏng, mà còn đang dày thêm… Cuối đêm hè đầu sáng nổi sương, mặt trời lên là tan, vốn là chuyện bình thường, cùng lắm dừng lại nghỉ một chút là được, thật ra cũng chưa đến mức ấy, con đường rộng rãi đông tây vẫn ở ngay trước mắt, thắp đuốc tiếp tục ruổi ngựa cũng chẳng sao.

Nhưng cũng chính lúc thắp cây đuốc dự phòng lên, Trương Tam Lang hơi động lòng, một tay cầm lửa, tay kia thuận thế sờ ra sau lưng lấy chiếc la bàn của mình.

Hắn đã rất lâu không đụng tới thứ đồ chơi này.

Nghĩ đến chuyện phúc hề họa chi sở ỷ, họa hề phúc chi sở phục (phúc là chỗ nương của họa, họa là chỗ tựa của phúc) của cái thứ đồ chơi này, dường như lúc này cũng chẳng có lý do gì để dùng đến nó, nhưng không hiểu sao, đang ruổi ngựa giữa đường, sau một thoáng do dự, Trương Hành gần như mang theo một nỗi chờ mong mà buột miệng nói ra câu ấy:

"Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật lệnh."

Dù là trong đêm tối, dù là sương bắt đầu dày lên, nhưng Trương Hành vẫn mượn cây đuốc trong tay thấy rõ ràng, kim la bàn trong tay gần như giật bắn lên ngay lập tức, rồi chỉ khăng khăng về một hướng.

Con đường theo đúng hướng chính đông chính tây, mà kim chỉ hướng tây lệch bắc, một sự thật rất rành rành rằng Vũ An Quận, trọng trấn ở vùng Hà Bắc nối với Thái Nguyên, chính là ở chỗ đó.

Một tay giơ cao đuốc, Trương Hành hơi nghi hoặc… Dường như hắn có chút không vừa ý và bất an trước kết quả này, nhưng mà, la bàn cho tới nay chưa từng lừa hắn, ít nhất là về công hiệu thì chưa bao giờ.

Liệu có phải trỏ về Đại Hà Khẩu không? Chỗ đó cũng ở vị trí tây lệch bắc.

Vậy lúc này chỗ mà lòng mình muốn đi, điều mà mình khao khát lúc này, là đi hỏi ý kiến của Lý Định, người đáng tin nhất ư?

Đáp án này khiến Trương Hành tạm vững lòng đôi chút.

Mà lòng đã có ham muốn, thì ngược lại thành ra dứt khoát hẳn, Trương Hành bắt đầu men theo đường cái thúc ngựa nhẹ nhàng tiến lên trước… nhưng, rong ngựa đi một hồi, Trương Hành lại nâng la bàn lên xem, lại ngoài ý muốn phát hiện, kim la bàn dường như đã hơi chếch đi một chút.

Thế này thì chẳng ổn rồi, vì Vũ An Quận quá xa, một chặng đường bằng này không nên có sự chếch hướng rõ rệt, cho dù là Đại Hà Khẩu chỗ Lý Định, thì cũng cách ít nhất vài trăm dặm, không đến nỗi thế… nhưng đến lúc này, la bàn đã khởi động, Trương Hành ngược lại hết ngần ngại, hắn lại muốn xem thử, chỗ lòng mình muốn đến rốt cuộc ở nơi nào.

Cứ thế, lại rong ngựa tiến lên trước một hồi, sương mù càng rõ hơn, Trương Hành thuận theo sự chỉ dẫn rành mạch của la bàn, trước hết rẽ vào một ngã rẽ ven phía đông bắc Đăng Châu, tức là vùng núi phía tây bắc Lạc Long Than, rồi lúc rạng sáng lại đột ngột tiến vào đường núi.

Từ sau lần đầu chuyển hướng, Trương Tam Lang dường như đã ý thức được điều gì đó, nhưng như vô số lần xưa nay, chỉ dồn nén sóng lòng vào trong, rồi lại tăng tốc độ.

Lần thứ hai vào trong núi, dứt khoát chẳng nghĩ gì nữa, chỉ một mực men theo đường núi cố sức tiến lên mà thôi.

Chuyến đi vội vã đột ngột này kéo dài từ đêm hôm cho đến tận sáng, Hoàng Phiêu Mã đã khá mệt mỏi, mà lúc này ngay cả sương mù trong núi cũng đã tan từ sớm.

Còn Trương Hành, sau khi vòng qua một khoảnh thung lũng, đột nhiên ghì ngựa.

Bởi vì hắn đã nhìn thấy điểm đến của mình — đó là một thôn trang đổ nát, không một chút động tĩnh, toàn cảnh một mảng chết lặng.

Dù nơi nào cũng đã là cỏ hoang, nhưng Trương Tam Lang vẫn chỉ một cái liếc mắt đã nhận ra sơn thôn này, đây là nơi đầu tiên hắn bước vào xã hội văn minh, là nơi hắn nghe tiếng chim kêu giữa đêm bừng tỉnh rồi giết người, cũng là nơi Đô Mông chết, là nơi quả phụ nhiều đến mức một người tùy tiện cưới hai người, thậm chí nhiều hơn cũng được.

Trương Hành thúc ngựa bước đi, chậm rãi xuyên qua sơn thôn, dù chỗ nào cũng là cỏ dại dây leo, nhưng hắn vẫn tìm được bãi đất trống nơi đã chôn hai tên lính tan tác họ Hàn và họ Vương, tìm được căn nhà đất từng ở cũng từng giết người, phía trên thậm chí còn có dấu vết mình từng sửa chữa.

Đi suốt cả sơn thôn, trống không một bóng người.

Có mấy cái xác, nhưng đã bị côn trùng kiến gặm đến chỉ còn trơ xương, mà trên xương cũng chẳng có ngoại thương gì, thế này chẳng nói lên được điều gì.

Thứ duy nhất có thể đưa vào suy luận, chỉ có cỏ dại và dây leo mọc tràn lan khắp hang cùng ngõ hẻm trong thôn, cùng với đám hoa màu còn lờ mờ thấy được ở khe núi sau làng, điều đó có nghĩa rất có thể sau khi vụ cày cấy mùa xuân năm nay kết thúc, bọn họ đột nhiên chọn rời bỏ hoặc từ bỏ thôn làng này.

Chuyện này gần như chắc chắn có liên quan đến lần Đông chinh thứ ba.

Trương Hành có chút tâm tình muốn biểu đạt, nhưng lại không biết nên biểu đạt ra sao.

Hắn xoay người xuống ngựa, cầm loan đao chém vào đám cỏ dại ven rìa mảnh hoa màu đó, việc này đối với kẻ đã là cao thủ Kỳ Kinh mà trân khí lại dồi dào như hắn thì chẳng tốn chút sức nào... Đến xế trưa, hắn đã dọn sạch vòng ngoài mảnh hoa màu nhỏ hẹp ấy, rồi thử đi dọn dẹp chính cái thôn làng bị bỏ hoang này.

Hắn cứ làm mãi đến tối, trời tối đen như mực mới đốt một đống lửa.

Trưa hôm sau, sau khi dọn sạch một con đường xuyên suốt làng, Trương Hành bèn buông bỏ cái việc vô ích này, rồi thậm chí chẳng buồn nhìn la bàn, trực tiếp lên ngựa quay về theo đường cũ.

Chẳng lấy làm ngoài ý muốn cho lắm, vài ngày sau, lúc còn chưa quay về đến Đại doanh Đăng Châu, trên đường hắn đã nghe được một loạt tin tức.

Người Đông Di đã trả lại đầu lâu của Tư Mã Trường Anh, và thuận thế xin hàng y như trước.

Lần này, Thánh nhân chủ động đáp ứng, nhân đó tuyên bố trận chiến này đã thắng, và yêu cầu Vương thị, quốc chủ Đông Di tiến thêm bước nữa là theo Nam Lộ quân quay về... Sứ giả Đông Di dạ dạ vâng vâng mà lui, không tỏ rõ ý kiến gì... Rất nhiều người phỏng đoán, Đông Di không thể nào thả cho đám đại quân này đi, chỉ có nuốt trọn Nam Lộ quân, người Đông Di mới có thể ngủ yên ổn, vả lại, bọn họ hiện giờ đang có cái thực lực và không gian chiến lược để làm chuyện đó.

Tiếp theo, chư tướng phía đông Lạc Long Than cũng dần có tin tức, ngoại trừ Tiết Thường Hùng hội quân thành công với quân phương diện Hà Bắc, rồi trực tiếp xuống thuyền rời đi hướng về Hà Gian thì xem như là toàn quân rút lui, còn đâu tám đạo quân Trung Lộ xuất kích lần này đều tổn thất thảm trọng, rất nhiều tướng lĩnh chỉ mang theo thân binh tư tướng, chật vật tháo chạy trở về.

Trong số đó, Vu Thúc Văn lúc quay về, còn chưa vào đến Đại doanh Đăng Châu thì đã bị bọn Lai Chiến Nhi, Ngưu Đốc công, Kim Ngô Vệ, Phục Long Vệ vây kín vòng trong vòng ngoài, rồi lấy tội lâm trận bất cứu, khiến Tư Mã tướng công tử trận làm danh nghĩa, xử tử ngay tại chỗ.

Bọn Triệu Quang cùng đám người theo y quay về thì lại được xá miễn, thậm chí đãi ngộ và bổ nhiệm vẫn y như cũ.

Nhưng không hiểu vì sao, Thánh nhân vẫn không có ý rút quân.

Trong tình huống ấy, Trương Phó Thường Kiểm vẻ mặt đầy ôn hòa đã trở về Đại doanh Đăng Châu.

Nhiều người thoáng ngạc nhiên, nhưng Trương Phó Thường Kiểm thì khẳng định chắc như đinh đóng cột... Đại quân một ngày chưa giải tán, chuyện Đông chinh một ngày chưa kết thúc, lẽ nào y lại vứt bỏ huynh đệ một mình sang Hà Bắc hưởng phúc hay sao... Phải thiện thủy thiện chung mới được.

Lời này được rất nhiều người tán thành và cảm kích.

Thú vị là, Bạch Hữu Tư, người đã tiễn Trương Hành rời đi, lại không hề đến hỏi riêng gì cả.

Ở Đại doanh Đăng Châu khoảng hai ba hôm, thì có chuyện quả nhiên đến — Thánh nhân đột nhiên triệu tập tất cả đại thần từ chính ngũ phẩm trở lên, ngay trước triều đường hạ lệnh tất cả cung nhân, sĩ tốt trong đại doanh lập tức chuyển xuống phía nam, theo Cô thủy xuôi về nam, chuyển tới Lang Nha rồi đi tuần thú Giang Đô.

Lời vừa thốt ra, rất nhiều quan viên văn võ thất kinh biến sắc, dồn dập tiến can.

Trong số đó, người có sức nặng nhất, và cũng là kẻ đứng đầu phái phản đối trên thực tế, đó chính là Giang Đô Lưu Thủ Lai Chiến Nhi Lai công.

Nghe nói, can ngôn của bản thân Lai Chiến Nhi rất là thỏa đáng, ông ta chỉ ra một cách rõ ràng rằng, trước mắt sức dân đã kiệt quệ, hơn nữa vì ba lần viễn chinh Đông Di, đến đâu cũng thấy trộm cướp, thánh giá đến Giang Đô, rất dễ khiến cục thế không thể cứu vãn, cho nên ông ta thỉnh cầu Thánh nhân trở về Đông Đô, còn bản thân mình dù phải bỏ mạng, cũng sẽ lãnh binh quét sạch hết thảy trộm cướp, rồi sau đó nếu Thánh nhân vẫn có hứng thú, đi Giang Đô cũng chưa muộn.

Lời can ngăn này, cơ bản đã nói hết những lời có thể nói, hơn nữa trong cả Đại doanh Đăng Châu, trừ Thánh nhân ra thì chỉ có hai vị tướng công xem như có địa vị hơi cao hơn Lai công, thêm nữa bản thân Lai Chiến Nhi lại chính là Thống soái thực tế của hậu quân lúc trước, bản thân ông ta có thể khống chế cục diện.

Cho nên nhất thời, trên dưới đều gửi gắm hy vọng cực lớn vào lần tiến can này.

Sự thực là, sau khi nghe lời can gián, Thánh Nhân tuy giận đến mức phất tay áo bỏ đi, nhưng ngự giá vẫn không sao khởi hành được.

Cục diện trở nên giằng co, lúc này trong đại doanh rối ren, tin tức tiết lộ ra ngoài, một mặt rất nhiều người lại bắt đầu tìm cách đào tẩu, thậm chí bao gồm cả đám quan lại, mặt khác ai nấy cũng đều mong hai vị tướng công cũng nói lời nào đó… Nhưng hai vị tướng công cuối cùng cũng lên tiếng, thì lại là vào một ngày cuối tháng Năm, công khai dâng thư, thỉnh cầu Thánh Nhân dời giá đến Giang Đô, lấy danh nghĩa tuần thú.

Nhân cơ hội ấy, Hoàng Đế lại triệu kiến Lai Chiến Nhi, rồi hỏi ngay trước mặt mọi người, nhưng chỉ hỏi đúng một câu: "Đến cả ngươi cũng như vậy, trẫm còn trông mong gì nữa?"

Lai Chiến Nhi thân hình hùng tráng, tựa như cự nhân, lại là đường đường tông sư chi cảnh, hơn nữa còn thực tế nắm giữ quân vụ trong đại doanh, thế nhưng nghe xong chỉ biết nước mắt nước mũi giàn giụa, rồi cuối cùng dập đầu ngay giữa đại đường, đích thân cung thỉnh thánh giá nam tuần Giang Đô.

Ngày hai mươi tám tháng Năm, thánh giá chính thức nam tuần.

Mà cũng chính ngày hôm ấy, bên trong thành Đông Đô, tại nghị sự đường của Nam Nha, đại tông sư Tào Lâm bỗng nhiên ngừng lời, kinh ngạc quay đầu nhìn về hướng đông.

Cái gọi là Đông Đô Bát Quý, bảy người còn lại đều ngạc nhiên khó hiểu.

Nhưng rất nhanh, bọn họ dường như đã tỉnh ngộ, bởi mặt đất bỗng bắt đầu rung chuyển, rồi liền nghe thấy phía bắc nghị sự đường truyền đến những tiếng chấn động lớn và tiếng kêu cứu.

"Là động đất sao?" Thủ tướng Tô Nguy kinh ngạc hỏi, nhưng ánh mắt chỉ chăm chăm nhìn Tào Hoàng Thúc… Dù sao, có vị này ở đây, thì dù là động đất cũng không khiến họ gặp nguy hiểm.

"Không phải." Một vị tướng công khác là Ngưu Hoành sững người một lát, dường như có chút kinh nghiệm, nhưng sắc mặt lại càng tái nhợt. "Là tháp lại sập rồi!"

Trong đường nhất thời im phăng phắc như tờ.

"Mặc kệ nó." Tào Lâm hít sâu mấy hơi, chân khí quanh người cuồn cuộn dậy sóng, gió nổi ngay trên mặt đất, nhưng cuối cùng cũng lắng yên trở lại. "Chúng ta tiếp tục nghị sự."

Người xung quanh hoặc do dự chần chừ, hoặc run như cầy sấy, thảy đều không nói nên lời.

Dịch giả: Mike Ung
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lưu Đạn Phạ Thủy

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.