33 Chiến Lược Của Chiến Tranh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

SỰ CÔNG KÍCH NGỤY TRANG

Tháng 9/1805, Napoleon Bonaparte đối diện với cuộc khủng hoảng lớn nhất cho tới lúc đó trong sự nghiệp của ông: Áo và Nga đã liên minh chống lại ông. Ở phía nam, các đạo quân Áo đang tấn công các đội quân Pháp chiếm đóng ở miền bắc nước Ý; ở phía đông, tướng Áo Karl Mack đang dẫn một lực lượng lớn tiến vào Bavaria (hiện nay là một bang miền nam nước Đức). Một đội quân Nga có lực lượng đáng kể dưới quyền chỉ huy của Tướng Mikhail Kutusov đang trên đường tới hợp quân với lực lượng của Mack, và lực lượng liên minh này, khi đã hợp nhất và mở rộng, sẽ tiến vào Pháp. Ở hướng đông thành phố Vienna, có nhiều quân Áo và quân Nga hơn đang chờ triển khai ở bất kỳ nơi nào cần đến. Lực lượng của Napoleon ít hơn phân nửa.

Kế hoạch của Napoleon là cố đánh bại lần lượt từng quân đội đồng minh một, sử dụng các đạo quân nhỏ hơn nhưng cơ động hơn để đánh họ trước khi họ hợp nhất lại. Khi tập hợp đủ quân để tạo nên một thế bí ở Ý, ông di chuyển vào Bavaria trước khi Kutusov có thể tới đó và buộc Mack phải đầu hàng một cách nhục nhã ở Ulm, với hầu như không một phát súng nổ (xem chương 6). Chiến thắng không đổ máu này là một kỳ tích, nhưng để khai thác nó tối đa, Napoleon cần đuổi kịp Kutusov trước khi ông ta được chi viện thêm các đạo quân Nga hoặc Áo. Với mục đích này, Napoleon điều phần lớn quân đội của ông về phía đông, hướng tới Vienna, hy vọng sẽ giăng bẫy chờ các lực lượng Nga đang rút lui. Nhưng cuộc truy đuổi bị sa lầy: thời tiết quá xấu, các đạo quân Pháp đã mệt mỏi, các viên thống chế phạm sai lầm, và quan trọng nhất, viên tướng cáo già Kutusov thông minh trong việc rút lui hơn là tấn công. Xoay sở tìm cách lảng tránh quân Pháp, ông ta tới thị trấn Olmutz, ở hướng đông bắc Vienna, nơi các lực lượng liên quân Áo-Nga còn lại đang đồn trú.

 

 

         Hoàn cảnh lúc này đã đảo ngược: đột nhiên chính Napoleon là người đang trong cơn nguy khốn. Sức mạnh của các đạo quân của ông là tính cơ động; tương đối nhỏ, họ dễ tấn công cá nhân và hoạt động tốt nhất khi hành quân đủ gần với nhau để đến nhanh khi cần hỗ trợ lẫn nhau. Lúc này họ bị phân tán trong một tuyến trải dài từ Munich tới Vienna, nơi mà Napoleon đã chiếm sau chiến thắng với Mack tại Ulm. Những đạo quân này đói mệt và thiếu nguồn tiếp tế. Quân Áo đánh nhau với quân Pháp ở Bắc Ý đã từ bỏ chiến trường đó và đang rút lui – nhưng việc này buộc họ phải tiến về hướng đông bắc, ở vào thế đe dọa sườn phía nam của Napoleon. Ở hướng bắc, quân Phổ thấy rằng Napoleon đang gặp khó khăn, đang cân nhắc việc liên kết với quân đồng minh. Nếu điều này xảy ra, họ có thể tiến hành tàn phá các tuyến mở rộng về thông tin và tiếp tế của Napoleon – và hai quân đội đang di chuyển tới từ hướng bắc và hướng nam có thể nghiền nát lực lượng của ông.

Các lựa chọn của Napoleon quá mông lung. Để tiếp tục truy đuổi Kutusov, Napoleon sẽ phải mở rộng hơn nữa các tuyến quân của ông. Ngoài ra, quân Nga và quân Áo lúc này đã lên tới 90.000 người và đang ở một vị trí đầy lợi thế ở Olmutz. Mặt khác, nếu ở lại, là nguy cơ bị nuốt dần bởi các cánh quân từ mọi phía. Rút lui dường như là giải pháp duy nhất, và đó là điều mà các tướng lĩnh của ông đề xuất, nhưng với thời tiết đang xấu đi (lúc đó là giữa tháng 11) và kẻ thù chắc chắn sẽ quấy nhiễu ông, điều đó cũng gây tổn thất nhiều. Và rút lui có nghĩa là chiến thắng ở Ulm của ông đã bị lãng phí - một cú đấm kinh khủng vào tinh thần binh sĩ của ông. Điều đó hiển nhiên sẽ mời gọi quân Phổ bước vào cuộc chiến, và những kẻ thù người Anh, nhìn thấy tình thế dễ tổn thương này của ông, có thể đi xa tới mức xâm lăng nước Pháp. Bất cứ con đường nào ông chọn dường như đều dẫn tới tai ương. Suốt nhiều ngày ông chìm vào suy tính, làm ngơ những lời khuyên can và miệt mài trên những tấm bản đồ.

Trong lúc đó, ở Olmutz, các chỉ huy quân Áo và Nga – trong số đó có Hoàng đế Áo Francis I và Sa hoàng trẻ tuổi Alexander I – theo dõi sự chuyển quân của Napoleon với sự hiếu kỳ và kích thích cực độ. Họ đã buộc ông vào nơi mà họ muốn; chắc chắn họ có thể bù đắp lại tai họa ở Ulm và trả đũa thêm vài trận. Ngày 25/11, quân trinh sát đồng minh báo cáo rằng Napoleon đã dời một phần lớn lực lượng tới Austerlitz, nằm giữa Vienna và Olmutz. Có vẻ như các lực lượng của ông đang chiếm Cao điểm Pratzen, một vị trí có thể chuẩn bị cho trận chiến. Nhưng Napoleon chỉ có 50.000 quân; làm thế nào ông có thể hy vọng đối đầu với hơn 100.000 quân đồng minh? Ngay cả như thế, vào ngày 27/11, Francis I vẫn đề nghị ông đình chiến. Napoleon rất kinh hoảng, và ngay trong hoàn cảnh đó, đánh nhau đối với ông là một việc liều lĩnh. Thật ra, Francis đang cố kiếm thêm thời gian để hoàn toàn bao vây quân Pháp, nhưng không một viên tướng nào của quân đồng minh nghĩ rằng Napoleon có thể rơi vào cái mẹo lừa bịp ấy. Tuy nhiên, với sự kinh ngạc của họ, dường như Napoleon nôn nóng đi đến việc thỏa thuận. Đột nhiên Sa hoàng và các tướng lĩnh của ông ta có một ý nghĩ mới: ông ta đang sợ hãi, đang cố bám vào một cái phao bất kỳ nào đó. Nghi vấn này dường như phát sinh ngay lập tức khi, vào ngày 29/11, Napoleon từ bỏ cao điểm Pratzen gần như ngay khi ông vừa chiếm được nó, để chiếm một vị trí ở phía tây của nó, và bố trí lại liên tục kỵ binh của ông. Có vẻ như ông cực kỳ lúng túng. Ngày hôm sau, ông đề nghị một cuộc hội đàm với chính Sa hoàng. Thay vì thế, Sa hoàng cử tới một sứ thần. Người này báo cáo lại rằng Napoleon đã không thể che giấu sự sợ hãi và ngờ vực của ông. Ông ta có vẻ cáu kỉnh, xúc động, thậm chí quẫn trí. Các điều kiện cho việc đình chiến rất nghiêm ngặt, và dù Napoleon không đồng ý, ông lắng nghe một cách lặng lẽ, dường như đang kiềm chế, thậm chí có vẻ đe dọa. Điều này nghe hay như âm nhạc đối với đôi tai của vị Sa hoàng trẻ tuổi, người đang bốc lửa vì cuộc giao chiến đầu tiên của mình với Napoleon. Ông ta đã mệt mỏi vì chờ đợi.

Bằng cách từ bỏ Cao điểm Pratzen, Napoleon dường như đã đặt mình vào một vị trí dễ bị thương tổn; các tuyến phía nam của ông yếu ớt; và lộ trình rút lui của ông, về hướng tây nam tới Vienna, đã bị lộ. Một quân đội đồng minh có thể chiếm Cao điểm Pratzen, xoay trục về hướng nam để phá vỡ yếu điểm trong các tuyến quân của ông và chặn đứng đường rút lui, rồi di chuyển lên hướng bắc để bao vây quân đội của ông và tiêu diệt ông. Vì sao phải chờ đợi? Một cơ hội tốt hơn sẽ không bao giờ đến. Sa hoàng Alexander I và các tướng lĩnh trẻ của ông ta thuyết phục được vị Hoàng đế Áo do dự và tiến hành cuộc tấn công. Nó bắt đầu vào rạng sáng ngày 2/12. Trong khi hai sư đoàn nhỏ hơn đương đầu với quân Pháp từ hướng bắc, ghìm chân họ lại, một đoàn quân Nga và Áo tiến tới Cao điểm Pratzen, chiếm nó, rồi chuyển xuống hướng nam, hướng vào điểm yếu của quân Pháp. Dù gặp sự kháng cự của kẻ thù ít quân hơn, họ nhanh chóng xuyên thủng qua chẳng bao lâu sau đã có thể chiếm những vị trí cơ bản cho phép họ quay lên hướng bắc để bao vây Napoleon. Nhưng vào 9 giờ sáng, khi các cánh quân đồng minh cuối cùng (tất cả khoảng 60.000 quân) đang tiến tới Cao điểm và hướng về phía nam, có tin đưa tới các viên chỉ huy quân đồng minh rằng một điều bất ngờ đã xảy ra: một lực lượng lớn quân Pháp mà họ đã không nhìn thấy ở bên ngoài Cao điểm Platzen đột ngột tiến về hướng đông, thẳng tới chính thị trấn Platzen và trung tâm của các tuyến quân đồng minh.

Kutusov nhìn thấy mối nguy: quân đồng minh đã tiến quá nhiều vào các khoảng trống giữa các tuyến quân của Pháp đến nỗi họ đã để lộ trung tâm của chính họ. Ông ta cố gắng chuyển các cánh quân cuối cùng quay về hướng nam, nhưng đã quá muộn. Trước 11 giờ sáng, quân Pháp đã chiếm lại Cao điểm. Tệ hơn, các cánh quân Pháp đã tiến lên từ hướng tây nam để chi viện cho vị trí phía nam và ngăn cản không cho quân đồng minh bao vây quân Pháp. Mọi sự đã xoay ngược lại. Xuyên qua thị trấn Platzen, quân Pháp lúc này đang đổ vào trung tâm quân đồng minh và nhanh chóng vận động để cắt đứt đường rút lui của họ xuống hướng nam. Mỗi bộ phận của quân đội đồng minh - hướng bắc, trung tâm và hướng nam – lúc này hoàn toàn bị cô lập với các bộ phận khác. Quân Nga ở vị trí xa nhất về phía nam cố rút lui xa hơn nữa về phía nam, nhưng hàng ngàn người đã bỏ mạng trong những hồ nước đóng băng và những đầm lầy trên đường rút. Tới 5 giờ chiều, sự thảm bại hoàn toàn kết thúc, và có lệnh ngừng bắn. Quân liên minh Áo-Nga đã chịu những thương vong khủng khiếp, hơn rất nhiều so với quân Pháp. Sự bại trận lớn đến mức quân đồng minh hoàn toàn sụp đổ; chiến dịch đã kết thúc. Bằng cách nào đó Napoleon đã chuyển bại thành thắng. Austerlitz là chiến thắng lớn nhất trong sự nghiệp của ông.

Diễn dịch

Trong cơn khủng hoảng đưa tới trận đánh Austerlitz, những nhà cố vấn cho Napoleon và các viên thống chế chỉ nghĩ đến việc rút lui. Đôi khi tốt hơn, họ tin như thế, nên chấp nhận việc thất bại một cách sẵn lòng và tiếp tục ở thế phòng vệ. Ở phía bên kia là Sa hoàng và các đồng minh của ông ta, kẻ đã làm cho Napoleon suy yếu. Dù họ có chờ đợi để bao vây hay tấn công ngay lập tức, quân Pháp cũng chỉ ở thế phòng vệ mà thôi. Ở giữa là Napoleon. Với tư cách là một chiến lược gia, một mặt ông đứng cao bên trên các cố vấn và thống chế của mình, và mặt khác, cao bên trên Sa hoàng và các tướng lĩnh đồng minh của ông ta. Sự ưu việt của ông nằm trong suy nghĩ rất linh động: ông không nhận thức chiến tranh trong phạm vi qua lại riêng biệt của sự phòng vệ hay tấn công. Trong tâm trí ông, chúng nối kết với nhau một cách chặt chẽ: một vị trí phòng ngự là cách tốt nhất để ngụy trang một đội hình tấn công, một công cuộc phản công; một đội hình tấn công thường là cách tốt nhất để bảo vệ một vị trí yếu. Cái mà Napoleon đã thực hiện ở Austerlitz không phải là thoái lui hay tấn công mà là một cái gì đó tinh vi và sáng tạo hơn rất nhiều: ông hòa lẫn phòng ngự và tấn công để đặt một cái bẫy hoàn hảo. Đầu tiên, khi đã chiếm Vienna, Napoleon tiến tới Austerlitz, hiển nhiên là để tấn công. Điều đó làm quân Áo và quân Nga giật mình, mặc dù họ vẫn đông quân số hơn ông rất nhiều. Kế tiếp, ông lui lại và chiếm giữ một vị trí phòng ngự; rồi dường như ông chuyển dịch qua lại giữa tấn công và phòng ngự, tạo nên một vẻ ngoài đầy lúng túng. Trong cuộc hội đàm với viên sứ thần của Sa hoàng, ông tỏ vẻ bối rối một cách tội nghiệp. Tất cả là một tấn kịch do Napoleon thủ diễn, làm ra vẻ như ông yếu đuối và dễ bị tấn công. Những thủ thuật này đã đánh lừa được quân đồng minh, khiến họ quên mất sự thận trọng, lao thẳng tới Napoleon hoàn toàn không kiềm chế và để lộ rõ đường đi nước bước của họ. Vị trí phòng thủ của họ ở Olmutz hùng mạnh và có ưu thế đến mức chỉ có việc từ bỏ nó mới phá vỡ nó, và đó chính xác là điều mà Napoleon dẫn dụ cho họ thực hiện. Rồi, thay vì tự bảo vệ chống lại cuộc tấn công dữ dội của họ, bản thân ông cũng chuyển sang tấn công một cách đột ngột, một cuộc phản công. Khi thực hiện điều này ông đã thay đổi động lực của trận chiến không chỉ về mặt vật chất mà cả về mặt tâm lý: khi một quân đội đang tấn công đột nhiên phải chuyển sang phòng ngự, tinh thần của nó sụp đổ. Và thật sự là quân đồng minh phải kinh hãi, rút lui tới những hồ nước đóng băng mà Napoleon đã trù tính như là mộ địa lâu dài của họ.

Phần lớn chúng ta chỉ biết làm thế nào để chơi, hoặc tấn công hoặc phòng thủ. Hoặc chúng ta theo kiểu tấn công, tiến tới các mục tiêu của chúng ta trong một cú đẩy tuyệt vọng để đạt cái mà chúng ta muốn, hoặc chúng ta cố gắng một cách điên cuồng để tránh xung đột; và, nếu như buộc phải đối diện với nó, chúng ta chống đỡ nó một cách tốt nhất trong khả năng có thể. Không có cách nào trong hai cách tiếp cận này đạt hiệu quả khi nó bị tách rời khỏi nhau. Lấy tấn công làm nguyên tắc, chúng ta tạo nên những kẻ thù và hành động một cách hấp tấp liều lĩnh, đánh mất khả năng kiểm soát hành vi của chính bản thân; nhưng sự phòng ngự thường xuyên dồn chúng ta vào một góc kẹt, trở nên một thói quen tồi tệ. Trong bất kỳ trường hợp nào, chúng ta cũng có thể bị đoán trước được.

Thay vì thế, hãy xem xét một chọn lựa thứ ba, một phương thức theo kiểu Napoleon. Đôi lúc bạn có vẻ như dễ bị xâm hại và có tính phòng vệ, khiến các kẻ thù của bạn không xem bạn là một mối đe dọa, giảm thấp sự cảnh giác của họ. Khi đến đúng thời cơ, và bạn tìm ra được một khe hở, hãy chuyển ngay sang tấn công. Hãy kiểm soát sự tấn công của bạn và biến yếu điểm của mình thành một công cụ để ngụy trang các dự tính. Trong một thời điểm nguy hiểm, khi những người xung quanh bạn chỉ nhìn thấy sự ảm đạm và sự cần thiết phải rút lui, đó chính là lúc bạn ngửi thấy một cơ hội. Bằng cách làm ra vẻ yếu ớt, bạn có thể dẫn dụ các kẻ thù hung hãn xả hết ga lao tới bạn. Rồi nắm lấy phút lơi là cảnh giác đó bằng cách chuyển nhanh sang tấn công khi họ ít ngờ tới nó nhất. Dung hòa tấn công và phòng ngự theo cách thức linh động này, bạn sẽ ở phía trước các đối thủ của bạn một bước. Những cú đấm tốt nhất là những cú đấm mà họ không bao giờ nhìn thấy đến từ đâu.

Bất kể hoàn cảnh và tình huống có vẻ tuyệt vọng đến thế nào, đừng tuyệt vọng. Khi có mọi thứ để sợ, đừng e sợ. Khi bị những nguy hiểm vây quanh, đừng sợ bất kỳ điều nào trong số đó. Khi không có một tiềm lực nào cả, hãy nương tựa vào khả năng xoay xở. Khi kinh ngạc, hãy nắm lấy kẻ thù chính bởi sự kinh ngạc.

            Binh pháp, Tôn Tử (thế kỷ 4 TrCN)

NHU THUẬT

Năm 1920, Đảng Dân chủ đề cử thống đốc bang Ohio James Cox làm ứng viên của bang để kế vị tổng thống Woodrow Wilson. Đồng thời, bang này cũng đề cử Franklin Delano Roosevelt 38 tuổi làm phó ứng cử viên tổng thống của mình. Roosevelt đã phục vụ với tư cách phó bí thư về hải quân dưới quyền Wilson; quan trọng hơn, ông là em họ của Theodor Roosevelt, vẫn còn rất nổi tiếng sau nhiệm kỳ tổng thống của ông trong thập niên đầu của thế kỷ.

Ứng cử viên của Đảng Cộng hòa là Warren GHarding, và chiến dịch vận động là một cuộc chạy đua đến kiệt sức. Phe Cộng hòa có nhiều tiền; họ tránh nói về các vấn đề và thổi phồng hình ảnh bình dân của Harding. Cox và Roosevelt đối phó lại phe Cộng hòa bằng cách tiến hành một cuộc tấn công sôi nổi, chiến dịch của họ dựa trên một vấn đề đơn lẻ của Wilson: việc Mỹ gia nhập vào Liên Hiệp Quốc, mà họ hy vọng là sẽ mang lại hòa bình và sự thịnh vượng. Roosevelt đi vận động khắp đất nước, tung hết diễn văn này đến diễn văn khác - với ý tưởng là chống lại tiền bạc của phe Cộng hòa bằng nỗ lực tuyệt đối. Nhưng cuộc đua này là một tai họa: Harding thắng cử với số phiếu thắng lớn nhất trong lịch sử bầu cử Mỹ.

Năm sau đó, Roosevelt bị bệnh bại liệt và hai chân không còn cử động được. Đến ngay sau chiến dịch tranh cử đầy rủi ro năm 1920, căn bệnh đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời ông: đột nhiên ý thức về sự mong manh của thể chất và sự khả tử của mình, ông co mình và tự kiểm điểm lại. Thế giới của các chính trị gia đồi bại và đầy bạo lực. Để thắng một cuộc tuyển cử, người ta làm bất cứ điều gì, tự hạ thấp mình trong mọi kiểu tấn công cá nhân. Người công chức di động trong thế giới này chịu một áp lực phải trở nên vô liêm sỉ không khác chi mọi kẻ khác; và để sống sót tốt nhất trong phạm vi có thể của anh ta – nhưng cách tiếp cận đó không phù hợp với tính cách của Roosevelt và nó đã làm ông mất mát quá nhiều về thể chất. Ông quyết định sáng tạo ra một phong cách chính trị khác hẳn, một phong cách phân biệt ông khỏi đám đông và tạo cho ông một lợi thế bất biến.

     Năm 1932, sau một nhiệm kỳ với tư cách thống đốc New York, Roosevelt tranh cử với tư cách ứng viên tổng thống của Đảng Dân chủ chống lại tổng thống đương chức thuộc phe Cộng hòa Herbert Hoover. Đất nước đang nằm trong cuộc Suy thoái, và Hoover dường như không có khả năng giải quyết nó. Với thành tích yếu kém đó, phòng ngự là một vai trò khó diễn đối với ông ta, và giống như những người phe Dân chủ năm 1920, ông ta tấn công Roosevelt một cách sôi nổi với tư cách một người xã hội chủ nghĩa. Tới lượt mình, Roosevelt đi khắp đất nước, nói lên những ý tưởng của ông về việc đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc Suy thoái. Ông không đưa ra nhiều điều cụ thể, mà cũng không đáp lại các cuộc tấn công của Hoover một cách trực tiếp – nhưng ông đã bộc lộ được sự tự tin và năng lực. Trong khi đó, Hoover có vẻ ồn ào và hung hăng. Cuộc Suy thoái có lẽ đã ấn định thất bại của ông ta bất kể ông ta làm gì, nhưng ông thua lớn hơn dự kiến: tầm cỡ chiến thắng của Roosevelt - gần như là một cơn lũ quét – làm kinh ngạc tất cả không chừa một ai.

Trong những tuần sau cuộc bầu cử, về cơ bản Roosevelt trốn khỏi tầm quan sát của công chúng. Dần dà, những kẻ thù của ông bắt đầu lợi dụng sự vắng mặt đó để tấn công ông, tung tin rằng ông chưa chuẩn bị cho sự thách thức của công việc. Những lời chỉ trích trở nên sắc bén và hung hăng. Tuy nhiên, trong lễ nhậm chức của mình, Roosevelt đã đọc một bài diễn văn đầy phấn khích, và trong những tháng đầu tiên ở văn phòng, hiện được biết tới như là “Một trăm ngày”, ông chuyển từ vẻ ngoài kém năng động sang một sự tấn công đầy sức mạnh, nhanh chóng thông qua việc lập pháp khiến đất nước cảm thấy như thể cuối cùng một điều gì đó đã được thực hiện. Cuộc bắn tỉa chấm dứt.

 

 

Suốt vài năm kế tiếp, mô hình này được tái diễn lặp đi lặp lại. Roosevelt đối mặt với sự chống đối: chẳng hạn, Tòa thượng thẩm thường lật đổ các chương trình của ông, và kẻ thù ở mọi phía (Thượng nghị sĩ Huey Long và lãnh đạo lao động John L. Lewis ở cánh tả, Mục sư Charles Coughlin và những doanh nhân giàu sụ ở cánh hữu) thường tung những chiến dịch thù địch trên báo chí. Roosevelt thoái lui, nhường lại ánh hào quang sân khấu. Với sự vắng mặt của ông, các cuộc tấn công dường như bốc hơi nghi ngút, và các cố vấn của ông hoảng sợ - nhưng Roosevelt chỉ chờ cơ hội tốt của ông. Ông biết, cuối cùng mọi người sẽ mệt mỏi với những cuộc tấn công và những lời cáo buộc vô tận đó, ông biến chúng thành [những cáo buộc] một chiều. Rồi - thường là một hoặc hai tháng trước thời gian bầu cử - ông lại tiếp tục cuộc tấn công, bảo vệ thành tích của ông và tấn công các đối thủ một cách đột ngột và mạnh mẽ đủ để nắm bắt sự bất cẩn của họ. Sự đúng lúc cũng làm công chúng choáng váng, lôi kéo sự chú ý của họ về phía ông.

Trong những thời kỳ Roosevelt im lặng, các cuộc tấn công của các đối thủ của ông nổi lên và trở nên ngày càng ồn ào léo nhéo – nhưng điều đó chỉ mang đến cho ông chất liệu mà sau đó ông có thể sử dụng, lợi dụng sự ảo tưởng của họ để làm cho họ trở nên lố bịch. Ví dụ nổi tiếng nhất về điều này xảy ra vào năm 1944, khi ứng cử viên tổng thống của phe Cộng hòa năm đó, Thomas Dewey, tiến hành một loạt tấn công cá nhân vào Roosevelt, nghi vấn về các hoạt động của vợ ông, các con trai ông, và thậm chí cả con chó săn nhỏ Fala của ông, mà Dewey tố cáo rằng đã được nuông chiều trên khoản chi của những người đóng thuế. Roosevelt đã phản đối lại trong một bài diễn văn vận động:

“Những nhà lãnh tụ Cộng hòa đã không thỏa mãn khi tiến hành những cuộc tấn công cá nhân vào tôi – hay các con trai tôi - giờ họ còn lôi cả con chó nhỏ Fala của tôi vào cuộc. Khác với những thành viên của gia đình tôi, Fala phẫn nộ vì điều này. Khi nó biết rằng những cây bút hư cấu phe Cộng hòa đã bịa đặt ra câu chuyện rằng tôi đã bỏ quên nó lại trên một hòn đảo Aleutian và đã cử một chiến khu trục hạm quay lại tìm nó - với phí tổn cho những người đóng thuế là khoảng 2 hoặc 3, hoặc 8 hoặc 20 triệu đô la – linh hồn Scotland của nó đã phẫn nộ. Nó không còn là con chó như trước kia kể từ lúc đó. Tôi đã quen với việc nghe những lời dối trá hiểm độc về bản thân mình, nhưng tôi nghĩ tôi có quyền phản đối những phát biểu bôi nhọ về con chó của tôi”

 Buồn cười nhưng đầy sức công phá, bài diễn văn cũng hiệu quả một cách tàn nhẫn. Và làm sao các đối thủ của ông đáp trả lại nó khi nó trích dẫn những lời của chính họ để tấn công lại họ? Năm này sang năm khác, các đối thủ của Roosevelt tự làm kiệt sức mình trong việc tấn công ông, ghi điểm vào những thời khắc không quan trọng và đánh mất phiếu thắng hết đợt bầu cử này sang đợt khác vào tay ông.

Diễn dịch

Roosvevelt không thể chịu nổi cảm giác bị dồn vào góc tường, không còn quyền chọn lựa. Điều này một phần do bản chất năng động của ông; ông thích dựa vào các tình huống, thay đổi phương hướng một cách nhẹ nhàng khi cần thiết. Nó cũng đến từ các giới hạn về thể chất của ông – ông ghét cảm giác bị bao vây và tuyệt vọng. Lúc đầu, khi Roosevelt vận động theo cách gây hấn thông thường của các chính trị gia Mỹ, biện hộ cho mình và tấn công các đối thủ, ông cảm thấy bị thui chột một cách vô vọng. Thông qua kinh nghiệm, ông hiểu được sức mạnh của sự kiềm chế. Lúc bấy giờ, ông để cho các đối thủ của mình động thủ trước: dù bằng việc tấn công ông hay bằng việc kể lể các chi tiết về vị thế của chính họ, họ sẽ tự bộc lộ bản thân, trao cho ông những khe hở để sử dụng lời nói của chính họ chống lại họ sau đó. Bằng cách giữ im lặng dưới những cuộc tấn công của họ, ông kích động cho họ đi quá đà (không có gì dễ giận hơn việc khiêu chiến với một kẻ nào đó mà không có một phản ứng nào đáp trả) và kết thúc bằng sự léo nhéo ồn ào và phi lý, điều có vai trò rất tồi tệ trước công chúng. Một khi sự tấn công của chính họ đã làm cho họ dễ bị xâm hại, Roosevelt sẽ xuất hiện để ra đòn sát thủ.

Phong cách của Roosevelt có thể giống với nhu thuật, nghệ thuật tự vệ của người Nhật. Trong môn nhu thuật, một đấu sĩ nhử các đối thủ bằng cách giữ sự bình thản và kiên nhẫn, khiến cho họ có hành động tấn công trước. Khi họ xông vào để tấn công hay tóm chặt lấy anh ta - để kéo hoặc đẩy, đấu sĩ đó di động theo họ, sử dụng sức mạnh của chính họ để chống lại họ. Khi anh ta khéo léo bước lên hay lùi lại vào đúng thời điểm, sức mạnh của động lượng của chính họ sẽ đẩy họ ra khỏi thế thăng bằng: thông thường là họ ngã thật sự, và thậm chí nếu không ngã, họ cũng để cho bản thân dễ bị tấn công bởi một cú phản công. Sự hung hăng trở thành yếu điểm của họ, vì nó đưa họ tới một cuộc tấn công quá rõ ràng, bộc lộ chiến lược của họ, và khiến cho việc dừng lại của họ trở nên khó khăn.

Trong chính trị, phong cách nhu thuật có những lợi ích vô tận: nó trao cho bạn khả năng chiến đấu mà dường như không phải tấn công. Nó tiết kiệm năng lượng, vì đối thủ của bạn mệt trong khi bạn vẫn đứng bên trên cuộc xung đột. Và nó mở rộng các lựa chọn của bạn, cho phép bạn xây lên từ cái mà họ trao cho bạn.

Sự hung hăng có bản chất giả tạo: nó vốn che đậy sự yếu kém. Kẻ hung hăng không thể kiểm soát các cảm xúc của mình. Họ không thể chờ tới thời điểm đúng, không thể thử những cách tiếp cận khác, không thể dừng lại để suy nghĩ tìm cách làm thế nào cho kẻ thù kinh ngạc. Trong đợt tấn công đầu tiên đó, họ có vẻ mạnh mẽ, nhưng cuộc tấn công càng kéo dài, nhược điểm tiềm tàng của họ càng trở nên rõ ràng và họ càng mất an toàn. Nóng vội và động thủ trước là chuyện dễ dàng, nhưng trong việc kiềm chế, nhẫn nại để cho kẻ khác ra tay trước có nhiều sức mạnh hơn. Sức mạnh bên trong này gần như luôn luôn chiến thắng sự hung hăng bề ngoài.

 

 

Thời gian ở về phía bạn. Hãy làm cho những đòn phản công của bạn nhanh và đột ngột – như con mèo bò trên những bàn chân đã thu móng vuốt để đột ngột vồ lấy con mồi của nó. Biến nhu thuật thành phong cách của bạn trong hầu hết mọi thứ bạn làm: đó là cách thức bạn đáp trả lại sự gây hấn trong cuộc sống đời thường; cách thức bạn đối diện với những tình huống. Hãy để các sự kiện đến với bạn, tiết kiệm thời gian và năng lượng quý báu cho những khoảnh khắc ngắn ngủi khi bạn bừng lên với đòn phản công.

Chiến lược tốt nhất trong chiến tranh là hoãn các cuộc hành quân cho tới khi sự tan rã tinh thần của kẻ thù giúp cho việc tung ra quả đấm chết người vừa khả dĩ vừa dễ dàng.
Vladimir Lenin (1860 – 1924)      

CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN

Nhiều ngàn năm trước, vào buổi bình minh của lịch sử quân sự, nhiều chiến lược gia khác nhau thuộc các nền văn hóa khác nhau đã nhận ra một hiện tượng đặc thù: trong chiến trận, phía phòng vệ thường thắng vào phút cuối. Dường như có nhiều nguyên nhân cho vấn đề này. Đầu tiên, khi bên gây hấn thực hiện các cuộc tấn công, nó không còn cất giữ được những bất ngờ - bên phòng vệ có thể thấy rõ ràng chiến lược của nó và có hành động tự vệ. Thứ hai, nếu bên phòng vệ có thể bằng cách nào đó đẩy lui được cuộc tấn công ban đầu này, bên gây hấn sẽ ở vào một vị trí yếu thế; quân đội của nó sẽ bị rối loạn và kiệt quệ. (Cần nhiều năng lượng để chiếm đất hơn là giữ đất). Nếu bên phòng vệ có thể lợi dụng điểm yếu này để tung ra một cuộc phản công, thông thường nó sẽ buộc bên gây hấn phải rút lui.

Dựa vào những quan sát này, nghệ thuật phản công đã phát triển. Các nguyên lý cơ bản của nó là để cho kẻ thù động thủ trước, chủ động nhử cho y tiến hành một cuộc tấn công tiêu hao năng lượng và làm mất cân bằng các tuyến, rồi lợi dụng yếu điểm và sự rối loạn của y. Nghệ thuật này được cải tiến bởi các lý thuyết gia như Tôn Tử và được thực hành tới độ hoàn hảo bởi những nhà chỉ huy như Philip ở Macedon.

Trên thực tế, sự phản công là nguồn cội của chiến lược hiện đại. Một ví dụ có thật đầu tiên về một cách tiếp cận gián tiếp với chiến tranh, đó là kết quả của một bước đột phá chủ yếu trong tư duy: thay vì tàn bạo và trực tiếp, sự phản công tinh vi và đầy mưu mẹo, sử dụng năng lượng và sự hiếu chiến của kẻ thù để đưa y tới thất bại. Dù là một trong những chiến lược lâu đời và cơ bản nhất trong tiến hành chiến tranh, theo nhiều khía cạnh, nó vẫn còn là cách thức hữu hiệu nhất và đã chứng tỏ có thể thích ứng cao độ với các điều kiện hiện đại. Đó là chiến lược chọn lựa của Napoleon Bonaparte, TE. Lawrence, Erwin Rommel và Mao Trạch Đông.

 Nguyên tắc phản công có thể được vận dụng một cách vô tận cho bất kỳ một môi trường cạnh tranh hay dạng thức xung đột nào, vì nó dựa vào những chân lý xác định về bản chất con người. Chúng ta vốn là những sinh vật thiếu kiên nhẫn. Chúng ta thấy khó mà chờ đợi; chúng ta muốn các tham vọng của mình phải được thỏa mãn càng nhanh càng tốt. Đây là một yếu điểm to lớn, vì nó có nghĩa là trong bất kỳ điều kiện sẵn có nào, chúng ta thường tiến hành mà không suy nghĩ đầy đủ. Trong việc tấn công lên phía trước, chúng ta hạn chế những lựa chọn của mình và tự mang rắc rối vào người. Trái lại, sự nhẫn nại, đặc biệt trong chiến tranh, đem tới những khoản lãi vô hạn: nó cho phép chúng ta tìm ra những cơ hội, ấn định thời cơ cho một cú phản công có thể khiến cho kẻ thù sững sờ kinh ngạc. Một người có thể nằm đó và chờ đợi cho tới đúng lúc để hành động sẽ gần như luôn luôn chiếm ưu thế đối với những kẻ bị cuốn theo sự nóng vội tự nhiên của họ.

Bước đầu tiên trong việc làm chủ thuật phản công là làm chủ bản thân, và đặc biệt là khuynh hướng trở nên giàu cảm xúc trong xung đột. Khi tuyển thủ bóng chày Ted Williams chơi các trận chủ yếu trong giải liên đoàn với đội Boston Red Sox, anh hay nhìn xung quanh. Lúc này anh là thành viên của một đội ưu tú - những tuyển thủ giỏi nhất của đất nước. Tất cả đều có tầm nhìn sắc sảo, phản xạ nhanh nhẹn và những cánh tay khỏe mạnh, nhưng tương đối có ít người trong bọn họ có thể kiểm soát được sự nôn nóng của mình ở vị trí phát bóng – và các tay ném bóng [pitcher] nhử mồi về yếu điểm ấy, mong cho họ nhảy lên với các cú ném bóng hỏng. Williams tự cách ly khỏi họ, và có lẽ đã biến mình thành hitter chân chính vĩ đại nhất trong lịch sử bóng chày, bằng cách phát triển sự kiên nhẫn và một kiểu phản công của hitter, anh có thể chờ đợi, tiếp tục chờ cú ném tốt nhất. Những tay ném bóng giỏi là những bậc thầy trong việc làm cho một hitter cảm thấy chán nản và dễ xúc động, nhưng Williams không cắn mồi câu: bất kể họ làm gì, anh chỉ đợi cú ném đúng cho mình. Thực tế, anh đã xoay ngược tình thế: với khả năng chờ đợi của mình, chính là tay ném bóng, chứ không phải anh, đã kết thúc một cách thiếu kiên nhẫn và ném sai đường bóng.

 

 

Khi đã học được tính kiên nhẫn, các chọn lựa của bạn đột nhiên mở rộng. Thay vì làm mình kiệt sức trong những cuộc chiến nhỏ, bạn có thể tiết kiệm năng lượng cho thời điểm đúng, lợi dụng các sai lầm của kẻ khác, và suy nghĩ cẩn trọng trong những hoàn cảnh khó khăn. Bạn sẽ nhìn thấy những cơ hội phản công ở nơi người khác mà vốn họ chỉ thấy việc bị bao vây hay rút lui.

Yếu tố cơ bản cho việc phản công thành công là giữ sự bình thản trong khi đối thủ chán nản và nổi cáu. Vào thế kỷ 16, ở Nhật đã phát sinh một kiểu chiến đấu mới lạ gọi là Shinkage: kiếm sĩ thường bắt đầu cuộc đánh nhau bằng cách bắt chước từng cử động của đối thủ, nhái theo từng bước chân của y, từng cái chớp mắt, từng điệu bộ, từng cú giật người. Điều này khiến cho kẻ địch nổi khùng, vì y không thể đọc được những cử động của kiếm sĩ Shinkage hay biết được anh ta sắp sửa làm gì. Đến một lúc nào đó, y sẽ đánh mất sự kiên nhẫn và lao tới tấn công, giảm đi sự cảnh giác. Người võ sĩ Shinkage chắc chắn sẽ đỡ được cú tấn công này và tiếp sau đó tung ra một đòn quyết định.

 Võ sĩ Shinkage tin rằng lợi thế trong một cuộc đấu kiếm sống còn không phải nằm ở sự tấn công mà ở sự thụ động. Bằng cách bắt chước các cử động của một đối thủ, họ có thể hiểu được chiến lược và suy nghĩ của y. Bằng sự thản nhiên và quan sát - sự kiên nhẫn - họ có thể xác định khi nào đối thủ của họ quyết định tấn công; khoảnh khắc đó sẽ hiện ra trong đôi mắt của y hoặc trong một cử động nhẹ của đôi tay. Càng trở nên nôn nóng và càng cố tấn công người võ sĩ Shinkage y càng mất cân bằng và dễ bị tổn thương hơn. Người võ sĩ Shinkage gần như là bất khả chiến bại.

Việc nhại theo người khác – đưa trả lại họ chính cái mà họ trao cho bạn – là một phương thức phản công hữu hiệu. Trong cuộc sống hàng ngày, việc nhại lại và sự thụ động có thể làm người khác bị mê muội, khiến họ giảm đi sự phòng ngừa và để lộ bản thân cho sự tấn công. Nó cũng có thể làm họ nổi cáu và lúng túng. Ý nghĩ của họ trở thành của bạn; bạn đang hút cạn máu họ như một con ma cà rồng, vẻ ngoài thụ động của bạn che đậy sự kiểm soát mà bạn đang tiến hành trên tâm trí họ. Đồng thời, bạn không cho họ biết gì về bạn; họ không thể nhìn xuyên thấu bạn. Sự phản công của bạn sẽ khiến cho họ hoàn toàn kinh ngạc.

Phản công là một chiến lược đặc biệt hữu hiệu chống lại cái gọi là “kẻ dã man” - một người đàn ông hay đàn bà đặc biệt hung hăn từ bản chất. Đừng để những kiểu người này đe dọa bạn; trên thực tế họ yếu ớt và dễ bị xỏ mũi quay như dế. Chơi khăm, trêu tức họ bằng cách tỏ vẻ như yếu ớt hay ngu ngốc, đong đưa trước mũi họ viễn cảnh về một thắng lợi dễ dàng.

Trong thời Chiến quốc ở Trung Hoa Cổ đại, nước Tề bị đe dọa bởi các lực lượng hùng hậu của nước Ngụy. Tướng nước Tề hỏi ý chiến lược gia nổi tiếng Tôn Tẫn (hậu duệ của Tôn Tử), Tỗn Tẫn bảo rằng tướng nước Ngụy đã xem thường quân đội Tề, tin rằng binh sĩ của họ hèn nhát. Điều đó, ông bảo, là yếu tố cơ bản để chiến thắng. Ông đề xuất một kế hoạch: Tiến vào lãnh thổ nước Ngụy với một đội quân lớn và đốt hàng ngàn bếp lửa trại. Ngày kế đốt phân nửa số đó, ngày hôm sau đó lại đốt phân nửa của số hôm trước. Tin tưởng vào Tôn Tẫn, viên tướng Tề làm như ông bảo.

Dĩ nhiên là viên tướng Ngụy cẩn thận điều tra cuộc xâm lăng, và ông ta chú ý tới số bếp lửa giảm đi. Đã sẵn có thành kiến rằng quân Tề hèn nhát, ông ta nghĩ, điều này còn có nghĩa gì khác ngoài việc họ đã đào ngũ?  Ông ta sẽ tiến lên với quân kị binh và nghiền nát quân đội yếu ớt này; bộ binh của ông ta sẽ theo sau, và họ sẽ tiến quân vào đất Tề. Tôn Tẫn, nghe báo về đội kỵ binh đang tiếp cận, trù tính xem họ đi nhanh đến mức nào, rồi rút lui và dàn quân ở một con đèo hẹp trên dãy núi. Ông cho đốn một thân cây to, lột vỏ ra rồi khắc lên đó: “Tướng Ngụy sẽ chết tại đây.” Ông đặt thân cây trên đường truy đuổi của quân Ngụy, rồi cho các cung thủ nấp vào hai bên đèo. Nửa đêm hôm đó, tướng Ngụy dẫn đầu đội kỵ binh, tới nơi thân cây nằm chắn ngang đường. Thấy trên đó có viết gì đấy; ông ta ra lệnh đốt đuốc lên để đọc. Ánh đuốc là một dấu hiệu và chỉ báo cho mục tiêu: các cung thủ Tề bắn như mưa xuống các kỵ sĩ Ngụy sụp bẫy. Viên tướng Ngụy, nhận ra mình đã bị mắc lừa, liền tự sát.

Tôn Tẫn đã đánh lừa được viên tướng Ngụy đó dựa trên sự hiểu biết về tính cách của ông ta – hung bạo và kiêu căng. Bằng cách biến các phẩm chất đó thành lợi thế của mình, nâng cao tham vọng và sự hung hãn của kẻ thù, Tôn Tẫn có thể kiểm soát tâm trí của con người đó. Bạn cũng vậy, nên tìm một trạng thái cảm xúc mà kẻ thù của bạn ít có khả năng kiểm soát nhất, rồi đưa nó lên bề mặt. Chỉ làm chút ít công việc về phần bạn, họ sẽ tự để lộ bản thân cho sự phản công của bạn.

Ở thời đại chúng ta, bác sĩ chuyên khoa chăm sóc gia đình, Jay Haley, đã quan sát thấy rằng đối với nhiều người có bản tính khó chịu, hành động quá đáng là một chiến lược - một phương pháp để kiểm soát. Họ tự ban cho mình cái quyền hành động quá quắt và thác loạn. Nếu bạn nổi giận và cố ép họ dừng lại, bạn chỉ làm đúng điều mà họ muốn: họ muốn khêu gợi các cảm xúc của bạn và chiếm được sự chú ý của bạn. Trái lại, nếu bạn cứ việc để cho họ nổi điên nổi khùng, bạn đặt họ trong vòng kiểm soát nhiều hơn. Nhưng Haley phát hiện ra rằng nếu bạn khuyến khích hành vi khó chịu của họ, đồng ý với những ý nghĩ đầy ảo tưởng của họ, và đẩy họ đi xa hơn, bạn sẽ xoay ngược nguồn xung lượng. Đây không phải là cái mà họ muốn hay mong đợi; lúc này họ làm điều mà bạn muốn, điều mà từ đó tạo ra sự vui vẻ. Đó là chiến lược nhu thuật: bạn đang sử dụng năng lượng của họ để chống lại họ. Nói chung, việc khuyến khích mọi người làm theo chiều hướng tự nhiên của họ, chiều theo tham vọng hay chứng loạn thần kinh của họ sẽ giúp bạn kiểm soát họ nhiều hơn là việc chủ động cưỡng kháng lại. Hoặc họ sẽ tự mình lâm vào tình trạng rắc rối kinh khủng, hoặc họ trở nên cực kỳ bối rối và tất cả đều lọt vào tay của bạn.

 

 

Khi nào bạn thấy mình đang ở thế phòng vệ và gặp rắc rối, mối nguy hiểm lớn nhất là sự thôi thúc để phản ứng một cách thái quá. Thông thường, bạn sẽ cường điệu hóa sức mạnh của kẻ thù, xem mình yếu hơn so với thực tế của trường hợp đó. Một nguyên tắc cơ bản của sự phản công là không bao giờ coi một hoàn cảnh là tuyệt vọng. Bất kể kẻ thù có vẻ mạnh mẽ thế nào, họ có những khả năng dễ bị xâm hại mà bạn có thể tìm ra và sử dụng để phát triển một cuộc phản công. Yếu điểm của chính bạn có thể trở thành một sức mạnh nếu bạn làm đúng; với một chút mánh khóe thông minh, bạn có thể luôn luôn xoay ngược tình thế. Đó là cách bạn phải nhìn vào mỗi vấn đề và khó khăn cụ thể.

Một kẻ thù có vẻ mạnh mẽ vì y có một sức mạnh hay lợi thế riêng biệt. Có thể đó là tiền của hay các tiềm lực; có thể đó là tầm vóc quân đội hay lãnh thổ của y; có thể, tinh vi hơn, đó là danh tiếng và địa vị về mặt tinh thần của y. Bất kể sức mạnh của y là gì, nó thật sự là một nhược điểm tiềm tàng, đơn giản là vì y dựa vào nó: hãy vô hiệu hóa nó và y có thể bị xâm hại. Công việc của bạn là đặt y vào một hoàn cảnh mà trong đó y không thể sử dụng lợi thế của mình.

Năm 480 TrCN., khi nhà vua Ba Tư Xerxes xâm lược Hy Lạp, ông ta có một lợi thế lớn lao về lực lượng quân đội, đặc biệt là hải quân. Nhưng viên tướng Hy lạp Themistocles đã có thể biến sức mạnh ấy thành nhược điểm: ông dẫn dụ hạm đội Ba Tư vào những eo biển hẹp cách xa đảo Salamis. Ở những vùng nước động hiểm trở này, chính kích thước của đoàn tàu, sức mạnh hiển nhiên của nó trở thành một cơn ác mộng: nó hoàn toàn không thể xoay trở được. Quân Hy Lạp phản công và tiêu diệt nó, kết thúc cuộc xâm_lược.

       Nếu lợi thế của đối thủ đến từ một phong cách chiến đấu cao cấp hơn, cách tốt nhất để vô hiệu hóa nó là học hỏi nó, điều chỉnh nó theo các mục đích của bạn. Vào thế kỷ 19, bộ tộc Apaches ở miền Tây nam Mỹ đã hành hạ các đoàn quân Mỹ trong suốt nhiều năm thông qua các chiến thuật kiểu du kích hoàn toàn phù hợp với địa hình ở đó. Dường như không có gì đạt hiệu quả cho tới khi Tướng George Crook thuê những người Apaches phản bội dạy cho ông cách chiến đấu như những người lính trinh sát. Sau khi điều chỉnh phong cách thực hiện chiến tranh, Crook đã vô hiệu hóa sức mạnh của người Apaches và cuối cùng đánh bại họ.

Khi vô hiệu hóa sức mạnh của kẻ thù, bạn phải nghịch đảo một cách tương đương những nhược điểm của bạn. Nếu các lực lượng của bạn nhỏ bé, chẳng hạn, chúng cũng có tính cơ động ấy để phản công. Có lẽ danh tiếng của bạn thấp hơn của kẻ thù; điều đó chỉ có nghĩa là bạn có ít hơn để mất. Hãy ném bùn lên, một số sẽ dính, và dần dần kẻ thù của bạn sẽ chìm xuống tầm mức của bạn. Luôn luôn tìm ra những phương cách để biến nhược điểm của bạn thành lợi thế. Gặp khó khăn với những người khác là điều chắc chắn; bạn phải sẵn sàng tự vệ và đôi khi phải tấn công. Điều khó xử là ngày nay việc tấn công không thể được chấp nhận – khi tấn công, thanh danh của bạn bị giảm sút, bạn sẽ thấy mình bị cô lập về chính trị, và bạn sẽ tạo ra nhiều kẻ thù và sự đối kháng. Sự phản công chính là lời giải. Hãy để kẻ thù động thủ trước, rồi đóng vai nạn nhân. Nếu không có chút mánh khóe, bạn sẽ không thể kiểm soát được tâm trí của kẻ thù. Dụ dỗ họ lao vào một cuộc tấn công khinh suất; khi nó đã kết thúc trong thảm họa, họ sẽ chỉ có thể tự trách mình, và mọi người xung quanh bạn cũng sẽ trách họ. Bạn thắng cả trận chiến về ngoại diện lẫn trận chiến trên chiến địa. Rất ít chiến lược gia đề ra một sức mạnh và sự linh hoạt đến thế.

  

Tư liệu: Toàn bộ nghệ thuật chiến tranh bao gồm trong một sự phòng ngự hợp lý và cực kỳ thận trọng, theo sau là một cuộc tấn công tốc độ và táo bạo.
            Napoleon Bonaparte (1769 – 1821)
Hình ảnh: Con bò mộng. Nó to lớn, cái nhìn trừng trừng của nó đầy đe dọa, và sừng nó có thể xé toang da thịt bạn. Tấn công nó và cố chạy thoát đều là chuyện sống còn. Thay vì thế, hãy đứng trên đất của bạn và để cho con bò mộng đuổi theo cái mũ của bạn, chẳng cho nó cái gì để húc cả, biến cặp sừng của nó thành vô dụng. Làm cho nó nổi điên và cáu tiết – càng tấn công một cách hung hăn và cuồng nộ, nó càng làm tự kiệt sức nhanh hơn. Thời cơ đến khi bạn có thể xoay cuộc chơi ngược lại và bắt tay vào việc, xẻo nhỏ con vật trước đó rất đáng sợ.

HOÁN VỊ

Không thể áp dụng chiến lược phản công trong mọi hoàn cảnh: luôn có những lúc khi mà tốt hơn nên tự mình khởi đầu cuộc tấn công, chiếm lấy sự kiểm soát bằng cách đặt đối thủ vào thế phòng ngự trước khi họ có thời gian suy nghĩ. Hãy nhìn vào các chi tiết của hoàn cảnh. Nếu kẻ thù quá thông minh, không thể nào mất kiên nhẫn và lao vào tấn công bạn, hoặc nếu bạn có quá nhiều thứ để mất do chờ đợi, hãy tiến hành tấn công. Thông thường, tốt nhất là đa dạng hóa các phương thức của bạn, luôn luôn có hơn một chiến lược để rút ra. Nếu kẻ thù nghĩ rằng bạn luôn chờ đợi để phản công, bạn có một cơ sở hoàn hảo để động thủ trước và khiến họ kinh ngạc. Vì thế hãy hòa lẫn mọi thứ với nhau. Quan sát hoàn cảnh và khiến cho kẻ thù của bạn không thể đoán trước được bạn sẽ làm gì.

ta đã bắt kịp cậu.” Và chẳng bao lâu, cả hai chúng tôi gõ (đánh máy chữ) liên tục không ngừng, nhanh hết mức chúng tôi có thể làm. Jones thường không chấp hành tốt các mệnh lệnh, nhưng anh ta thấy rằng mình ngày càng làm việc chăm chỉ hơn
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Robert Greene

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.