GIẢI PHẪU SỰ SỢ HÃI
Ở Isfahan (nay là Iran), cho tới cuối thế kỉ 11, Nizam al-Mulk vị tể tướng hùng mạnh của Sultan Malik Shah, người trị vì đế quốc Hồi giáo vào thời kỳ đó, nhận ra một mối đe dọa nhỏ nhưng khó chịu. Ở miền bắc Ba Tư có một giáo phái gọi là Nizari Ismailis, một tôn giáo kết hợp giữ thuyết thần bí và kinh Koran. Lãnh tụ của họ, Hasan-i-Sabah, đã chiêu mộ được hàng ngàn người cải đạo vốn căm ghét sự kiểm soát khắc nghiệt về tín ngưỡng và các hoạt động chính trị của đế quốc này. Tầm ảnh hưởng của Ismailis đang lớn dần, và điều gây phiền hà nhất cho Nizam al-Mulk là sự tuyệt đối bí mật trong hoạt động của họ: Không thể nào biết ai đã cải đạo trong giáo phái, vì những thành viên của nó tiến hành điều này rất riêng biệt và giấu kín lòng trung thành của họ. Vị tể tướng cố hết sức theo dõi các hoạt động của họ, cho tới khi cuối cùng ông nghe được một số tin tức khiến ông phải ra tay hành động. Trong nhiều năm, dường như hàng ngàn những kẻ cải đạo Ismailis này đã tìm cách luồn lách vào những tòa lâu đài chủ yếu, và giờ đây họ đã chiếm được chúng dưới danh nghĩa của Hasan-i-Sabah. Điều này đem tới cho họ quyền kiểm soát một phần miền bắc Ba Tư, một dạng nhà nước độc lập nằm bên trong đế quốc. Nizam al-Mulk là một nhà quản lý rộng lượng, nhưng ông biết sự nguy hiểm của việc cho phép những giáo phái như Ismailis phát triển. Sớm dập tắt họ tốt hơn là đối đầu với cách mạng. Vì thế, năm 1902, vị tể tướng thuyết phục nhà vua điều hai lực lượng tới phá hủy các lâu đài và tiêu diệt giáo phái Nizari Ismailis.
| Những tòa lâu đài được bảo vệ nghiêm ngặt, và vùng nông thôn quanh chúng tràn ngập những người ủng hộ. Cuộc chiến lâm vào tình thế bế tắc, và cuối cùng các lực lượng của nhà vua buộc phải quay về. Nizam al-Mulk phải tìm ra một giải pháp khác, có lẽ là một lực lượng chiếm đóng tại khu vực đó – nhưng vài tháng sau, khi ông đi từ Isfahan tới Baghdad, một tu sĩ Sufi tới gần chiếc kiệu chở ông, rút một lưỡi dao găm từ dưới áo và đâm chết ông. Sát thủ bị phát hiện là một người Ismaili giả dạng làm một tu sĩ Sufi, và hắn thú nhận với những người bắt giữ rằng bản thân Hasan đã ký lệnh cho hắn làm việc đó. Vài tuần sau cái chết của Nizam al-Mulk là cái chết, vì các nguyên nhân tự nhiên, của Malik Shah. Do không còn vị tể tướng mưu mô của ông để giám sát việc kế vị, đế quốc bị rơi vào một thời kỳ rối loạn kéo dài nhiều năm. Tuy nhiên, tới năm 1105, ít nhiều ổn định đã được phục hồi và sự chú ý lại tập trung vào Ismailis. Với một vụ sát nhân, họ đã khiến cho toàn đế quốc rúng động, Họ phải bị tiêu diệt. Một chiến dịch mới sôi nổi được phát động để chống lại giáo phái đó. Và chẳng bao lâu sau người ta phát hiện ra rằng cuộc ám sát Nizam al-Mulk không phải là một hành động báo thù riêng lẻ, như có vẻ thế vào lúc đó, mà là một chính sách của Ismailis, một cách thức tiến hành chiến tranh mới kì lạ và đáng sợ. Trong vài năm kế tiếp, các thành viên chủ chốt trong bộ máy cầm quyền của nhà vua mới, Muhammad Tapar, cũng bị ám sát theo cùng một cách thức: sát thủ xuất hiện từ đám đông, và tung ra nhát dao chết người. Hành vi này thường được thực hiện nhiều nhất giữa công chúng và vào ban ngày; tuy vậy, đôi khi nó diễn ra khi nạn nhân đang ngủ, một thành viên Ismailis bí mật đã thâm nhập vào những người giúp việc của ông ta. |
Một làn sóng sợ hãi bao trùm lên hệ thống thứ bậc trong đế quốc. Không thể nói ai là một người Ismailis; những tín đồ của giáo phái này rất kiên nhẫn, có kỷ luật, làm chủ được nghệ thuật giữ kín niềm tin và hòa đồng ở mọi nơi. Việc bắt giữ và hành hình kẻ ám sát chẳng có tác dụng gì, họ sẽ tố cáo nhiều người trong nội bộ của nhà vua là những gián điệp được Ismailis trả tiền hay là những kẻ cải đạo bí mật. Không ai biết chắc là họ có nói đúng sự thật hay không, nhưng sự ngờ vực rơi xuống tất cả mọi người.
Lúc bấy giờ các viên quan trọng thần, thẩm phán và các quan chức địa phương phải đi đường với những vệ sĩ bao quanh. Nhiều người bắt đầu mặc những chiếc áo giáp dầy, bất tiện. Ở một số thành phố không ai có thể đi từ nhà này sang nhà kia nếu không được cho phép, khiến cho sự bất bình lan rộng trong cư dân và giáo phái Ismailis dễ chiêu mộ người cải đạo hơn. Mọi kiểu tin đồn được lan truyền bởi những người đã trở nên điên cuồng vì hoang tưởng. Sự chia rẽ sâu sắc nổ ra trong hệ thống thứ bậc, khi một số người bảo vệ cho một cách tiếp cận cứng rắn đối với Hasan, trong khi số khác lại rao giảng sự hòa giải như là giải pháp duy nhất.
Trong lúc đó, khi đế quốc cố bằng cách nào đó đàn áp Ismailis, các vụ giết người vẫn tiếp diễn – nhưng chúng diễn ra rất rời rạc. Nhiều tháng trôi qua mà không xảy ra vụ nào, và rồi đột nhiên có hai vụ trong vòng một tuần. Không có một nhịp độ hay nguyên nhân thật sự nào về thời điểm chúng xảy ra hay quan chức nào sẽ bị hạ sát. Các quan chức bàn tán không ngớt để tìm ra một quy luật hành động, phân tích từng động thái của Ismailis. Họ không nhận ra rằng giáp phái nhỏ bé này đã ngự trị những ý nghĩ của mình.
Năm 1120, Sanjar, nhà vua mới, quyết định hành động, hoạch định một chiến dịch quân sự để chiếm các tòa lâu đài Ismailis với lực lượng áp đảo và biến khu vực quanh chúng thành một doanh trại vũ trang. Ông vô cùng cảnh giác để ngăn chặn bất kỳ nổ lực nào nhằm ám sát mình, thay đổi các giờ giấc ngủ nghỉ và chỉ cho phép những người mà ông biết rõ tới gần. Bằng cách bảo đảm an toàn cá nhân, ông tin rằng ông có thể thoát khỏi sự sợ hãi đang vây quanh mình.
Khi các công việc chuẩn bị cho cuộc chiến đã hoàn tất, Hasan-i-Sabah cử hết sứ giả này tới sứ giả khác đến gặp Sanjar để đàm phán về việc chấm dứt các vụ giết người. Tất cả đều bị tống cổ đi. Tình thế có vẻ đã xoay chiều: lúc này chính giáo phái Ismailis mới là kẻ phải hoảng sợ.
Một buổi sáng không lâu sau khi chiến dịch được tiến hành, nhà vua thức giấc và phát hiện một chiếc dao găm cắm sâu dưới đất cách vị trí ngực ông trên giường chừng vài bộ. Làm thế nào nó cắm được ở đó? Nó có nghĩa là gì? Càng nghĩ tới nó, ông càng run lên vì sợ hãi – rõ ràng đó là một thông điệp. Ông không kể cho ai biết chuyện này, vì có thể tin được ai đây? Ngay cả các bà vợ của ông cũng bị nghi ngờ. Cuối ngày hôm đó, ông hoàn toàn suy sụp. Chiều đó ông nhận được một thông điệp từ chính Hasan: “ Nếu tôi không muốn cho nhà vua an lành, lưỡi dao cắm vào đất cứng đó hẳn đã ngập vào lồng ngực mềm của ông ta.”
Sanjar thấy đã quá đủ. Ông không thể trải qua thêm một ngày như thế này nữa, không muốn sống trong sự thường xuyên sợ hãi, tâm trí đầy phập phồng ngờ vực. Tốt hơn, ông nghĩ, nên đàm phán với tên quỷ sứ này. Ông hủy bỏ chiến dịch và hòa giải với Hasan.
Trong nhiều năm, khi thế lực chính trị của Ismailis lớn lên và giáo phái đã mở rộng sang Syria, các sát thủ của nó gần như trở nên hoang đường. Những tên ám sát không bao giờ cố tẩu thoát, giết người xong, họ bị bắt giữ, hành hạ và tử hình, nhưng những tên mới vẫn tiếp tục, và dường như không thể có gì ngăn cản được họ hoàn thành công việc của mình. Dường như học bị quỷ ám, hiến mình cho mục đích. Một số người gọi họ là hashshashin, nguồn gốc của từ Ả Rập hashish, vì họ hành động như thể những kẻ nghiện ma túy. Những đoàn quân thập tự chinh châu Âu tới miền Đất Hứa nghe những câu chuyện về những hashshashin ma quỷ này đã kể chuyện cho nhau nghe, và từ này dần dần chuyển hóa thành “assassins” [kẻ ám sát], mãi mãi đi vào ngôn ngữ.
| Diễn dịch Hasan-i-Sabah có một mục tiêu: tạo ra một nhà nước cho giáo phái của ông ở miền bắc Ba Tư, cho phép nó tồn tại và phát triển trong lòng đế quốc Hồi giáo. Với con số tương đối nhỏ của mình và các thế lực chống lại, ông không thể hy vọng nhiều, do đó ông đã sử dụng một chiến lược mà chắc chắn là chiến dịch khủng bố có tổ chức để giành quyền lực chính trị đầu tiên trong lịch sử. Kế hoạch của Hasan khá đơn giản. Trong thế giới Hồi giáo, một nhà lãnh đạo được kính trọng có một thẩm quyền đáng kể, và ở mức độ thẩm quyền đó, cái chết của ông ta sẽ gieo rắc sự hỗn loạn. Thế là Hasan chọn cách tấn công các nhà lãnh đạo này, nhưng theo một cách thức khá hiếm có: không có một khuôn mẫu nào trong những chọn lựa của ông, và khả năng trở thành nạn nhân kế tiếp là một nỗi lo sợ mà ít người chịu nổi. Thật ra, ngoại trừ những tòa lâu đài mà họ chiếm giữ, giáo phái Ismailis hoàn toàn yếu ớt và dễ tổn hại, nhưng bằng cách kiên nhẫn đưa người của mình thâm nhập vào sâu trong bộ máy của nhà vua, Hasan có thể tạo ra ảo giác rằng họ ở khắp mọi nơi. Chỉ có khoảng 50 vụ ám sát được ghi nhận trong suốt cuộc đời ông, thế nhưng ông đã chiếm được nhiều quyền lực chính trị nhờ vào chúng như thể ông có một quân đội lớn. Quyền lực này không thể đến chỉ bằng cách làm cho các cá nhân sợ hãi. Nó phụ thuộc vào hiệu quả của các vụ giết người lên toàn bộ nhóm xã hội. Những quan chức yếu nhất trong hệ thống thứ bậc là những người không thể chống đỡ nổi sự hoang tưởng; và việc gieo rắc nghi ngờ cùng những lời đồn đại sẽ lan rộng và tiêm nhiễm vào những người ít yếu đuối hơn. Kết quả là một tác động gợn sóng – những đợt cảm xúc, từ giận dữ tới đầu hàng, chạy ngược xuôi khắp tuyến. Một nhóm mắc phải dạng hoảng sợ này không còn cân bằng và sẽ sụp đổ với cú đẩy nhẹ nhất. Ngay cả kẻ mạnh nhất và quyết tâm nhất cuối cùng cũng sẽ bị tiêm nhiễm nó, giống như vua Sanjar: những nỗ lực an ninh và cuộc sống khắc khổ phải chịu đựng như một cách tự bảo vệ đã tiết lộ ra rằng ông nằm dưới tác động của sự sợ hãi này. Chỉ một con dao găm trên mặt đất đã đủ để khiến ông sụp đổ. Thấu hiểu: tất cả chúng ta rất dễ bị ảnh hưởng từ những cảm xúc của mọi người xung quanh. Thông thường, chúng ta khó mà nhận ra mình đã chịu tác động sâu sắc như thế nào bởi tâm trạng lan truyền qua một nhóm. Chính điều này đã khiến cho sự khủng bố rất có hiệu quả và nguy hiểm: chỉ với vài hành động bạo lực đúng lúc, một nhóm ám sát nhỏ có thể nhen lên mọi dạng ý nghĩ lo sợ phập phồng. Những thành viên yếu nhất của nhóm mục tiêu sẽ không chịu nổi sự sợ hãi, truyền bá những tin đồn và sự lo âu bao trùm lên số còn lại. Những người mạnh mẽ có thể phản ứng một cách giận dữ và bạo lực đối với chiến dịch khủng bố, nhưng điều đó chỉ cho thấy họ đã chịu tác động của sự sợ hãi ra sao; họ đang phản ứng đối phó hơn là vạch chiến lược – một dấu hiệu của sự yếu ớt chứ không phải của sức mạnh. Trong những tình huống thông thường, những cá thể trở nên sợ hãi bằng cách nào đó thường lấy lại được sự cân bằng tinh thần theo thời gian, đặc biệt khi họ ở gần những người bình tĩnh. Nhưng điều này gần như không thể trong một nhóm sợ hãi. |
Khi sự tưởng tượng của quần chúng bộc phát, những kẻ ám sát trở nên một thứ gì đó to lớn hơn, dường như có quyền lực vô hạn và có mặt ở khắp nơi. Như Hasan đã chứng minh, một nhóm khủng bố với một vài đòn tấn công tâm lý đúng mức có thể làm cả đế quốc trở nên khủng hoảng. Và khi những người lãnh đạo nhóm không thể chống đỡ nổi sức hút cảm xúc - hoặc đầu hàng hoặc tiến hành một cuộc phản công phi chiến lược - chiến dịch khủng bố đã thành công rực rỡ.
Chiến thắng đạt được không bởi một số người bị ghét mà bởi số người sợ hãi.Ngạn ngữ Ả RậpCÁC YẾU TỐ CƠ BẢN
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có nhiều nỗi sợ. Những nỗi sợ này nói chung liên quan đến một thứ gì đó cụ thể: một ai đó có thể hại chúng ta, một vấn đề nhất định đang phát sinh, sự bệnh hoạn, chết chóc. Trong cuộc vật lộn với những nổi sợ sâu thẳm nhất, năng lực ý chí của chúng ta sẽ tạm thời tê liệt khi nghĩ tới điều tệ hại sắp xảy ra. Nếu trạng thái này kéo dài quá lâu hay quá căng thẳng, nó sẽ khiến cho cuộc sống trở nên kinh khủng, vì thế chúng ta tìm cách tránh né những ý nghĩ đó và xoa dịu các nỗi sợ của mình. Có thể chúng ta tìm sự lãng quên trong cuộc sống mỗi ngày: công việc, các hoạt động xã hội, các hoạt động với bạn hữu. Tôn giáo hay một hệ niềm tin nào đó, như niềm tin vào khoa học hay công nghệ, cũng có thể đem tới hy vọng. Những hình thức tìm quên và những niềm tin này trở thành mặt đất dưới chân chúng ta, giữ cho chúng ta đúng thẳng và có thể bước đi mà không bị tê liệt bởi cơn sợ hãi.
Tuy nhiên, trong những tình huống nhất định, mặt đất này có thể biến khỏi chân chúng ta, và chúng ta không thể làm gì để lấy lại thăng bằng. Trong tiến trình lịch sử, chúng ta có thể tìm thấy một dạng điên cuồng chế ngự con người trong những tai họa nhất định - một trận động đất, một trận dịch kinh hoàng, một cuộc nội chiến tàn bạo. Điều gây bất hạnh cho chúng ta nhiều nhất trong tình thế đó không phải là bất kỳ một sự kiện đáng sợ cụ thể nào đã xảy ra trong quá khứ gần; chúng ta có một khả năng lớn lao để vượt qua và thích ứng với bất kì thứ gì đáng sợ. Chính cái tương lai không chắc chắn, nỗi sợ rằng những điều kinh khủng hơn đang sắp đến và rằng chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ gánh chịu một thảm kịch không thể dự đoán trước, đã làm cho chúng ta mất tinh thần. Chúng ta không thể gạt bỏ những ý nghĩ đó với công việc hàng ngày hay tôn giáo. Nỗi sợ trở thành mãn tính và căng thẳng, tâm trí chúng ta bị vây bủa bởi mọi loại ý nghĩ phi lý. Những nỗi sợ cụ thể trở nên chung chung hơn. Trong một nhóm, nó sẽ trở thành sự kinh hoàng. Về bản chất, đây là sự khủng khiếp: một nỗi sợ mãnh liệt, vô cùng mạnh mẽ mà chúng ta không thể gạt bỏ theo cách thông thường. Có quá nhiều điều không chắc chắn, quá nhiều điều tệ hại có thể xảy đến với chúng ta.
Trong Thế chiến II, khi quân Đức ném bom London, các nhà tâm lý nhận xét rằng khi việc ném bom trở nên thường xuyên và bình thường, nhân dân thành phố không quan tâm đến nó nữa; họ đã trở nên quen thuộc với tiếng động, sự bất an và cảnh tàn sát. Nhưng khi việc ném bom không thường xuyên và trở nên khó khăn hơn nhiều khi không chắc chắn bao giờ sẽ tới đợt ném bom kế tiếp.
Có một quy luật trong chiến tranh và chiến lược là khi tìm kiếm một lợi thế, người ta sẽ thử nghiệm bất kỳ điều gì. Các nhóm và các cá thể cũng thế, khi nhìn thấy sức mạnh to lớn của sự khủng bố đối với con người, đã tìm ra một cách để sử dụng sự khủng bố như một chiến lược. Con người là những sinh vật mưu mẹo, nhiều tiềm năng và có tính thích ứng cao. Các để làm tê liệt ý chí và tiêu diệt khả năng tư duy chính xác của họ là cố ý tạo ra sự không chắc chắn, sự bối rối và một nỗi sợ không thể kiềm chế.
Những cuộc khủng bố có tính chiến lược như thế có thể khoác hình thức của những hành động hủy diệt để làm gương. Bậc thầy của hành động này là người Mông Cổ. Họ thường san bằng một vài thành phố ở nơi này nơi khác, với một cách thức càng kinh khủng càng tốt. Truyền thuyết kinh khủng về Bầy người Mông Cổ lan truyền nhanh chóng. Khi nó tiếp cận một thành phố, sự kinh hoàng sẽ nảy sinh và cư dân chỉ có thể tưởng tượng ra điều xấu nhất. Thông thường là thành phố đó sẽ đầu hàng mà không chiến đấu - đó là mục tiêu theo đuổi của quân Mông Cổ. Là một đội quân tương đối nhỏ, xa nhà, họ không có đủ sức cho những cuộc bao vây dài ngày hay những cuộc chiến kéo dài.
Sự khủng bố chiến lược này cũng có thể được sử dụng cho mục đích chính trị, để liên kết một nhóm hay một quốc gia lại. Năm 1792, cuộc Cách mạng Pháp vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Các lực lượng ngoại bang đang lăm le xâm lấn Pháp; đất nước bị phân hóa một cách vô vọng. Những người cấp tiến, do Robespiere dẫn đầu, đương đầu với mối đe dọa này bằng cách phát động một cuộc chiến chống lại những người ôn hòa – Triều đại Khủng bố. Bị tố cáo là phản cách mạng, hàng ngàn người đã bị đưa lên máy chém. Không ai biết ai sẽ là người kế tiếp. Dù số người cấp tiến có số lượng tương đối nhỏ, bằng cách tạo ra sự không chắc chắn và sợ hãi đó, họ đã làm tê liệt ý chí của các đối thủ. Điều nghịch lý là, Triều đại Khủng bố - đem tới chúng ta ví dụ được ghi chép đầu tiên về việc sử dụng từ “chủ nghĩa khủng bố” và “kẻ khủng bố” lại tạo nên một mức độ ổn định nào đó.
Dù sự khủng bố với vai trò một chiến lược có thể được vận dụng bởi những quân đội lớn và thật sự là tất cả các quốc gia, nó được thực hành hiệu quả nhất bởi những đội quân bé nhỏ. Lý do rất đơn giản: việc sử dụng khủng bố thường đòi hỏi sự sẵn sàng giết những thường dân vô tội dưới danh nghĩ của một điều thiện lớn hơn và vì một mục đích chiến lược. Trong nhiều thế kỷ, với một vài ngoại lệ đáng kể như quân Mông Cổ, các nhà chỉ huy quân sự không muốn đi quá xa. Đồng thời, một nhà nước gieo rắc sự khủng bố to lớn lên nhân dân của nó sẽ tạo ra sự hỗn loạn khó mà kiểm soát. Nhưng một nhóm nhỏ thì không gặp những rắc rối đó. Có quá ít người, họ không thể hy vọng phát động một cuộc chiến tranh truyền thống hay thậm chí một cuộc chiến tranh du kích. Khủng bố là chiến lược duy nhất của họ. Phải đối đầu với một quân đội lớn hơn nhiều, họ thường lâm vào thế tuyệt vọng, và họ phải có một mục tiêu để thi hành. Các quan tâm về đạo đức không còn đáng kể. Và tạo nên sự hỗn loạn là một phần trong chiến lược của họ. Chủ nghĩa khủng bố bị hạn chế suốt nhiều thế kỷ do các công cụ của nó: gươm, dao, súng, mọi dạng vũ khí cá nhân. Thế rồi, vào thế kỷ 19, một chiến dịch đơn lẻ đã tạo nên một cải cách cấp tiến, khai sinh ra chủ nghĩa khủng bố như chúng ta biết hiện nay.
Vào cuối thập niên 1870, một nhóm cấp tiến Nga, phần lớn từ giới trí thức, đã kích động một cuộc cách mạng do nông dân lãnh đạo. Cuối cùng, họ nhận ra rằng lý tưởng của mình là vô vọng: những người nông dân chưa được chuẩn bị để thực hiện việc này, và quan trọng hơn, chế độ sa hoàng và các lực lượng đàn áp của nó quá hùng mạnh. Sa hoàng Alexander II vừa mới phát động cái gọi là Cuộc khủng bố Trắng, một sự đàn áp tàn bạo bất kỳ hình thức bất đồng nào. Hầu như nhóm cấp tiến không thể hoạt động công khai, nói gì đến việc mở rộng tầm ảnh hưởngNhưng nếu họ không làm gì cả, quyền lực của sa hoàng ngày càng tăng thêm.
Thế là từ nhóm cấp tiến này đã nảy sinh ra một nhóm nghiêng theo việc tiến hành một cuộc chiến tranh khủng bố. Họ tự gọi mình là Narodnaya Volia, hay “Chí nguyện của Nhân dân”. Để giữ bí mật, họ chỉ tổ chức một nhóm nhỏ. Họ ăn mặc kín đáo, hòa lẫn vào đám đông, và bắt đầu đánh bom. Khi họ đã ám sát được một số bộ trưởng, sa hoàng trở thành một tù nhân hoàn toàn trong cung điện của ông. Điên cuồng với mong muốn săn lùng những kẻ khủng bố, ông hướng mọi năng lượng của mình cho mục tiêu này, kết quả là nhiều bộ phận trong bộ máy cầm quyền của ông đã hoạt động sai chức năng.
Năm 1880, nhóm cấp tiến đã cho nổ một quả bom trong cung điện Mùa đông, nơi cư ngụ của sa hoàng ở St. Petersburg. Cuối cùng, năm sau một quả bom khác đã giết chết sa hoàng.
Lẽ tự nhiên, chính quyền phản ứng bằng cách đàn áp khắc nghiệt hơn cả chính sách trước đó, dựng lên một nhà nước cảnh sát. Dù vậy, năm 1888, Alexander Ulianov - anh của Vladimir Lenin, một thành viên của Narodnaya Volia, đã suýt thành công với việc hạ sát người kế vị Alexander II, sa hoàng Alexander III.
Việc bắt giữ và hành hình Ulianov đã chấm dứt các hoạt động của Narodnaya Volia, nhưng nhóm này đã bắt đầu gợi nên một làn sóng tấn công khủng bố có tính cách quốc tế, bao gồm những cuộc ám sát vô chính phủ tổng thống Mỹ James A. Garfield năm 1881 và William McKinley năm 1901. Và với Narodnaya, mọi yếu tố của chủ nghĩa khủng bố hiện đại đã sinh thành. Nhóm này cho rằng bom tốt hơn là súng, có tính bi kịch và đáng sợ hơn. Họ tin rằng nếu giết đủ số bộ trưởng trong chính phủ, mở rộng tới chính sa hoàng, chế độ sẽ sụp đổ hoặc đi tới chỗ cực đoan trong việc bảo vệ nó. Dù vậy, phản ứng đàn áp đó cuối cùng sẽ nằm trong tay của những người cấp tiến, gây ra một sự bất mãn mà cuối cùng sẽ nhen lên một cuộc cách mạng. Đồng thời chiến dịch đánh bom sẽ được đưa tin trên báo chí, gián tiếp quảng bá cho lý tưởng của họ với những người đồng tình ủng hộ trên toàn thế giới. Họ gọi đây là “sự tuyên truyền và hành động”.
Narodnaya Volia chủ yếu hướng tới chính quyền nhưng cũng sẵn lòng hại thường dân trong quá trình hoạt động. Sự sụp đổ của chính quyền sa hoàng đáng để hy sinh một vài người, và rốt lại, những quả bom ít gây chế chóc hơn sự thay thế của nó, một cuộc nội chiến. Ít ra, Narodnaya sẽ chỉ ra cho nhân dân Nga thấy rằn chính quyền khổn phải là một thế lữ không thể chạm tới như nó làm ra vẻ thế; nó cũng có thể bị tổn thương. Các thành viên của nhóm hiểu rằng chế độ hoàn toàn có thể thanh toán họ khi đến lúc, nhưng họ sẵn sàng chết vì lý tưởng.
Narodnaya Volia thấy rằng nó chỉ có thể sử dụng một sự kiện tương đối nhỏ - một vụ đánh bom - để tạo ra một phản ứng dây chuyền: sự sợ hãi trong bộ máy cầm quyền sẽ tạo ra sự đàn áp khắc nghiệt, đem lại tên tuổi và sự ủng hộ cho nhóm và làm tăng thêm sự căm ghét chính quyền, dẫn tới một tư tưởng cấp tiến hơn, rồi đến lượt nó lại đưa tới sự đàn áp lớn hơn, và cứ thế cho tới khi toàn bộ chu trình sụp đổ. Narodnaya bé nhỏ và yếu, thế nhưng những hành động bạo lực đơn giản mà kịch tính có thể tạo cho nó một sức mạnh không thể so sánh để gieo rắc sự hỗn loạn và không chắc chắn, tạo ra một vẻ ngoài hùng mạnh đối với cảnh sát và công chúng. Thật sự, sự nhỏ bé và kín đáo đã đem tới cho nó một lợi thế lớn lao: với chi phí khổng lồ, một lực lượng cồng kềnh hàng ngàn cảnh sát sẽ phải truy tìm một nhóm nhỏ bé bí mật có những thuận lợi về sự cơ động, bất ngờ và tương đối vô hình. Ngoài việc đem tới cho những kẻ khủng bố cơ hội để tự thể hiện bản thân như những người hùng yếu thế, sự không cân xứng về lực lượng khiến cho họ hầu như không thể bị tấn công.
Sự không cân xứng này đưa cuộc chiến tới sự cực đoan tột cùng của nó: một nhóm người nhỏ nhất tiến hành chiến tranh chống một thế lực to lớn, biến sự bé nhỏ và tuyệt vọng của họ thành một vũ khí tiềm năng. Tình thế lưỡng nan mà mọi chủ nghĩa khủng bố đều đem lại, và lý do mà nó thu hút nhiều người và có nhiều tiềm năng, là vì những kẻ khủng bố có rất ít cái để mất so với những lực lượng bày binh bố trận để chống lại họ, và thu được rất nhiều qua một cuộc khủng bố.
Người ta thường lập luận rằng số phận thất bại của các nhóm khủng bố như Narodnaya Volia đã được an bài: mời gọi sự đàn áp khắc nghiệt, họ nằm trong tay của nhà cầm quyền, kẻ có thể toàn quyền hành động để dẹp tan sự đe dọa – và cuối cùng họ chẳng đem tới một thay đổi thật sự nào. Nhưng lập luận này đã đi sai quan điểm và không hiểu đúng về chủ nghĩa khủng bố. Narodnaya Volia đã đánh thức hàng triệu người Nga với lý tưởng của nó, và kỹ thuật của nó đã được sao chép lại khắp thế giới. Nó cũng đã gây mất cân bằng đáng kể cho chế độ sa hoàng, với sự phản ứng một cách nặng tay và kích động, cung cấp tiềm lực cho sự đàn áp mà lẽ ra có thể được áp dụng cho những cải cách có thể kéo dài sự tồn tại của mình. Sự đàn áp cũng đã ấp ủ mầm mống cho một nhóm cách mạng có tiềm năng hơn, phong trào cộng sản.
Về bản chất, những kẻ khủng bố sút vào một hòn đá để khởi đầu cho một loạt tấn công dồn dập. Nếu không có thắng lợi lớn theo sau, cũng có ít tổn thất, có lẽ ngoại trừ mạng sống của chính họ, mà họ đã sẵn sàng hy sinh để cống hiến cho lý tưởng. Dù vậy, nếu lộn xộn và hỗn loạn nổ ra, họ có một sức mạnh lớn để tác động đến các sự kiện. Những kẻ khủng bố thường phản ứng chống lại một tình thế bất động cực đoan mà trong đó mọi con đường thay đổi đều bị khóa chặt. Trong sự tuyệt vọng, họ có thể phá vỡ được hiện trạng.
Phán xét chiến tranh bằng chiến thắng hay thất bại là một điều sai lầm: cả hai trạng thái này đều có những sắc thái và mức độ khác nhau. Trong lịch sử, có rất ít chiến thắng nào là hoàn toàn hay đem tới nền hòa bình lâu dài; có rất ít thất bại dẫn tới sự hủy diệt vĩnh viễn. Khả năng tác động để tạo ra một dạng thay đổi nào đó, đạt tới một mục tiêu giới hạn nào đó là điều đã khiến cho chủ nghĩa khủng bố rất hấp dẫn, đặc biệt đối với những người vô quyền lực.
Ví dụ, chủ nghĩa khủng bố có thể được sử dụng rất hữu hiệu cho mục tiêu giới hạn của việc truyền bá cho một lý tưởng. Khi đã đạt được điều này, sự hiện diện trước công chúng có thể chuyển hóa thành quyền lực chính trị. Khi những kẻ khủng bố Palestine cướp một chiếc máy bay El Al vào năm 1968, họ đã thu hút được sự chú ý của giới truyền thông trên khắp thế giới. Trong những năm sau đó, họ có thể bố trí những hành động khủng bố khác được phát lại trên truyền hình, bao gồm cuộc tấn công bỉ ổi vào Thế vận hội Munich năm 1972. Dù những hành động đó khiến đa số những người không thuộc các nước Ả Rập căm ghét, họ cũng sẵn sàng chấp nhận – việc được truyền bá là mục tiêu của họ, và sức mạnh đến từ điều đó là tất cả những gì họ theo đuổi. Như nhà văn Brian Jenkins đã nhận xét: “ Những cuộc nổi dậy ở Angola, Mozambique và Guniea thuộc Bồ Đào Nha trong 14 năm qua đã sử dụng các chiến thuật chiến tranh du kích chuẩn mực. Thế giới hầu như không chú ý tới cuộc đấu tranh của họ, trong khi một nhóm biệt kích Palestine có số lượng tương đương sử dụng các chiến thuật khủng bố trong vòng vài năm đã trở thành một mối quan ngại chủ yếu đối với thế_giới.”
Ở một thế giới bị chế ngự bởi vẻ ngoài, trong đó giá trị được xác định với sự hiện diện trước công chúng, chủ nghĩa khủng bố có thể tạo nên một con đường tắt ngoạn mục dẫn tới sự phổ biến - và từ đó những kẻ khủng bố đã đưa bạo lực của họ tới giới truyền thông, đặc biệt là truyền hình. Họ làm cho nó trở nên quá khủng khiếp, quá thuyết phục đến mức không thể phớt lờ được. Có phóng viên và nhà bình luận có thể thú nhận bị sốc và thấy kinh tởm, nhưng họ bất lực: công việc của họ là truyền bá tin tức, thế nhưng về bản chất của họ đang truyền bá những con siêu vi vốn chỉ có thể trợ giúp cho những kẻ khủng bố bằng cách giới thiệu họ ra trước công chúng. Tác động mà người ta có thể nhận ra trong những nhóm nhỏ và vô quyền lực đã khiến cho việc sử dụng chủ nghĩa khủng bố trở nên hấp dẫn một cách quá đáng đối với thế hệ mới.Thế nhưng, dù với mọi sức mạnh của nó, chủ nghĩa khủng bố cũng có những hạn chế đã minh chứng cho cái chết của nhiều chiến dịch bạo lực, và những người đối kháng với nó phải biết và khai thác điều này. Yếu điểm chủ yếu của chiến lược này là những kẻ khủng bố thiếu những mối liên hệ với công chúng hay một địa chính trị thật sự. Thường sống trong sự cô lập, lẩn lút, họ có khuynh hướng đánh mất khả năng tiếp xúc với thực tại, đánh giá quá cao sức mạnh của mình và ra tay quá mức. Dù việc sử dụng bạo lực của họ phải có tính chiến lược để đạt được thành công, sự xa lạ với công chúng khiến cho họ khó mà duy trì được ý thức cân bằng. Những thành viên của Narodnaya Volia bằng cách nào đó đã thấu hiểu được những nông nô Nga, nhưng nhiều nhóm khủng bố gần đây hơn, như nhóm Weathermen ở Mỹ và Red Brigades ở Ý, đã xa lạ với công chúng tới mức ảo tưởng. Việc nêu bật sự cô lập của những kẻ khủng bố và không cung cấp cho họ một cứ địa chính trị phải là một phần của bất kỳ chiến lược phản công nào chống lại họ.
Chủ nghĩa khủng bố thường sinh ra từ những cảm giác yếu đuối và tuyệt vọng, cộng với niềm tin rằng lý tưởng mà một người tranh đấu, dù có tính chất cộng đồng hay cá nhân, là xứng đáng với sự theo đuổi và gánh chịu mọi tổn thất. Một thế giới mà trong đó những gương mặt quyền lực thường rất lớn và rõ ràng dễ gây tổn thương chỉ khiến cho chiến lược này thêm hấp dẫn. Ở ý nghĩa này, chủ nghĩa khủng bố có thể trở thành một dạng phong cách, một kiểu mẫu hành vi ngấm dần vào xã hội.
Dù khủng bố có tổ chức đã tiến triển và công nghệ đã gia tăng khả năng bạo lực nó, cấu trúc cơ bản của nó dường như vẫn không thay đổi - các yếu tố đã được Narodnaya phát triển vẫn còn hiệu quả. Thế nhưng câu hỏi mà nhiều người đặt ra hiện nay là phải chăng có một dạng khủng bố mới, độc hại hơn, đang phát triển, một dạng vượt xa phiên bản cũ. Nếu những kẻ khủng bố có thể nắm giữ những thứ vũ khí mạnh hơn - chẳng hạn các vũ khí nguyên tử hay sinh học - và muốn sử dụng chúng, kiểu chiến tranh của họ và sức mạnh mà nó mang tới cho họ sẽ là một bước nhảy vọt về phẩm chất sang một hình thức mới. Nhưng có lẽ một hình thức khủng bố mới đã nảy sinh mà không cần đến sự đe dọa của các thứ vũ khí bẩn thỉu để tạo ra kết quả có tính tàn phá hơn.
Ngày 11/9/2001, một nhóm khủng bố nhỏ liên kết với phong trào Hồi giáo Al Qaeda đã tiến hành một hoạt động khủng bố chết chóc nhất cho tới nay, đó là sự tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phố New York và Lầu Năm Góc ở thủ đô Washington DC. Cuộc tấn công có nhiều dấu ấn của chủ nghĩa khủng bố cổ điển: một nhóm nhỏ, với phương tiện cực kỳ hạn chế, sử dụng công nghệ của Mỹ, đã có thể tạo nên một hiệu quả tối đa. Ở đây là sự không tương xứng quen thuộc giữa các lực lượng mà trong đó sự bé nhỏ đã trở thành vốn quý, sự kín đáo trong một cộng đồng dân cư lớn và do đó hoàn toàn khó phát hiện. Bản thân sự khủng bố đã kích hoạt một phản ứng gần như kinh hoàng mà từ đó nước Mỹ vẫn chưa hoàn toàn hồi phục được. Tính chất bi thảm và biểu tượng của chính Tòa tháp đôi, chứng minh một cách sâu sắc tính dễ bị tổn thương của nước Mỹ. Có những người trên khắp thế giới không bao giờ tưởng tượng nổi rằng Mỹ có thể bị tổn hại một cách nhanh chóng và nghiêm trọng đến thế nhưng lại vui sướng vì nhận ra họ đã sai lầm. Nhiều người không đồng ý rằng sự kiện 11/9 là một hình thức mới của sự khủng bố. Nó chỉ đơn giản là khác biệt hơn, họ nói, bởi con số các nạn nhân; sự thay đổi về phẩm chứ không phải lượng, và như ở chủ nghĩa khủng bố cổ điển, những nhà phân tích này nói tiếp, Al Qaeda cuối cùng sẽ diệt vong: cuộc phản công của Mỹ ở Afganistan đã tiêu diệt cứ địa hoạt động của họ, và giờ đây họ là mục tiêu của ý chí cứng rắn của chính phủ Mỹ, cuộc xâm lấn Iraq là một giai đoạn trong một tổng chiến lược để xóa bỏ khu vực của chủ nghĩa khủng bố nói chung. Nhưng có một cách nhìn khác vào cuộc tấn công, nếu luôn ghi nhớ rằng phản ứng dây chuyền luôn là mục tiêu của những kẻ khủng bố.
Tác động đầy đủ về kinh tế của sự kiện ngày 11/9 khó mà đo lường được, nhưng hậu quả làn sóng của cuộc tấn công ở bất kỳ chuẩn mực nào là rất lớn và không thể chối bỏ; những gia tăng quan trọng trong chi phí an ninh, bao gồm ngân quỹ cho các chương trình mới của chính phủ vì mục đích đó; những cuộc viễn chinh lớn để xâm lược hai quốc gia riêng biệt; sự giảm sút của thị trường chứng khoán (luôn đặc biệt dễ bị tổn thương bởi tâm lý kinh hoàng) và một hệ quả chấn thương đối với lòng tin của khách hàng; đỉnh cao của những ngành đặc thù như du lịch và du hành; và hậu quả âm vang của tất cả những những điều này trong nền kinh tế toàn cầu. Cuộc tấn công cũng có những hậu quả lớn lao về chính trị - thực tế, có thể cho rằng những cuộc bầu cử ở Mỹ vào năm 2002 và 2004 đã được xác định bởi chính nó. Và khi phản ứng dây chuyền tiếp tục xảy ra, một mối bất hòa lớn dần giữa Mỹ và các đồng minh Đông Âu của nó cũng đã nảy sinh. (Chủ nghĩa khủng bố thường hoàn toàn hướng tới việc tạo nên những rạn nứt như thế giữa các đồng minh và cũng như trong công luận, nơi mà chim ưng và chim bồ câu song đôi bên nhau). Ngày 11/9 cũng có một tác động có tính xác định và rõ ràng đến nếp sống Mỹ, trực tiếp đưa tới một sự giảm bớt các phong trào tự do dân chủ vốn là đặc điểm nổi bật của đất nước này. Cuối cùng, dù điều này không thể đo lường được, nó vẫn có một tác động làm suy giảm nhiệt tình về văn hóa trên diện rộng.