CHIẾN TRANH MƯU LƯỢC
Xuyên suốt lịch sử có thể xác định ra hai phong cách thực hiện chiến tranh khác biệt nhau. Cổ nhất là chiến tranh tiêu hao: kẻ thù đầu hàng vì bạn đã giết quá nhiều người của nó. Một viên tướng tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao sẽ trù tính các cách thức để áp đảo đối phương bằng quân số lớn hơn, hay bằng thế trận có thể gây tổn hại nhiều nhất, với kỹ thuật quân sự cao hơn. Trong bất kỳ trường hợp nào, chiến thắng tùy thuộc vào việc làm cho đối phương kiệt quệ. Ngay cả với kỹ thuật khác thường ngày nay, thực hiện chiến tranh tiêu hao cũng giản đơn một cách đáng chú ý, lợi dụng vào những bản năng bạo lực nhất của loài người. Qua nhiều thế kỷ, và đáng kể nhất là ở Trung Quốc thời cổ đại, một phương thức thực hiện chiến tranh thứ hai đã được phát triển. Điểm nhấn ở đây không phải là việc tiêu diệt đối phương trong trận chiến mà làm nó suy yếu và mất cân bằng trước khi trận chiến bắt đầu. Người chỉ huy sẽ dùng mưu mẹo để làm rối trí, chọc giận và đặt kẻ thù vào một vị trí tồi - phải chiến đấu từ dưới chân đồi lên, hoặc đối mặt với gió và ánh nắng, hoặc trong một không gian tù túng. Trong loại chiến tranh này, một quân đội cơ động có thể hữu hiệu hơn một quân đội dùng cơ bắp nhiều.
Triết lý thực hiện chiến tranh mưu lược đã được Tôn Tử hệ thống hóa trong quyển Binh pháp, viết trong thời kỳ Chiến quốc ở Trung Hoa, từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 3 trước Công nguyên - trên hai trăm năm của những chu kỳ leo thang chiến tranh trong đó sự tồn vong của một nước phụ thuộc vào quân đội và các chiến lược gia của nó. Đối với Tôn Tử và những người cùng thời, hiển nhiên phí tổn chiến tranh đã vượt xa khỏi con số về nhân mạng: nó bao gồm sự mất mát về các nguồn tiềm lực, thiện chí chính trị và sự suy giảm về tinh thần ở những binh lính và thường dân. Những phí tổn này cứ mãi chất cao lên theo thời gian cho tới khi cuối cùng ngay cả một quốc gia thiện chiến nhất cũng trở nên kiệt quệ. Nhưng thông qua mưu lược tài tình, một quốc gia có thể tiết kiệm cho nó những phí tổn cao đó và vẫn phát triển một cách thắng lợi. Một kẻ thù đã bị lừa vào thế yếu sẽ dễ dàng không chống nổi áp lực về tâm lý; ngay trước lúc trận chiến bắt đầu, nó đã khởi sự sụp đổ một cách khó nhận ra và sẽ đầu hàng một cách dễ dàng. Nhiều chiến lược gia ở bên ngoài châu Á - nổi bật nhất là Napoleon Bonaparte, đã sử dụng một cách xuất sắc chiến tranh mưu lược. Nhưng nói chung, chiến tranh tiêu hao đã ngấm sâu vào cách thức tư duy của phương Tây - từ Hy Lạp cổ đại cho tới nước Mỹ hiện đại. Trong một nền văn hóa tiêu hao, các ý tưởng tự nhiên hướng tới cách làm thế nào để chế ngự các nan đề, các chướng ngại vật, những kẻ đối kháng với chúng ta. Trong giới truyền thông, điểm nhấn được đặt vào những trận chiến lớn, dù là trong chính trị hoặc trong nghệ thuật - các tình huống không thay đổi trong đó có những kẻ thắng và người bại. Mọi người bị lôi kéo vào vòng cảm tính và kịch tính trong bất kỳ cuộc đối chọi nào, chứ không phải là những bước dẫn tới cuộc đối chọi đó. Những câu chuyện được kể lại trong những nền văn hóa như thế đều bị lái về những thời điểm chiến tranh, một thông điệp tinh thần được rao giảng cho tới phút cuổi (trái với những chi tiết được kể nhiều hơn). Trên chóp đỉnh của tất cả mọi chuyện, cách thức chiến đấu này có vẻ như có nhân tính hơn, đáng trọng hơn và trung thực hơn. |
Hơn tất cả mọi điều, chiến tranh mưu lược là một cách thức tư duy khác biệt. Điểm quan trọng ở đây là tiến trình - những bước tiến hướng tới trận chiến và cách thức làm thế nào để thao tác chúng nhằm khiến cho cuộc đối đầu ít phí tổn và bạo lực hơn. Những trận chiến thật ra là những ảo tưởng đầy kịch tính, những khoảnh khắc ngắn ngủi trong dòng chảy lớn hơn của các sự kiện. Chúng linh hoạt, năng động và có thể chịu được sự thay đổi thông qua chiến lược cẩn trọng. Cách tư duy này không thấy có gì là vinh dự hay đạo đức trong việc lãng phí thời gian, năng lượng và sinh mạng qua những trận chiến. Thay vì thế, các cuộc chiến tranh tiêu hao được xem là lười nhác, phản ánh một khuynh hướng sơ khai của con người trong việc đánh trả một cách đối phó, không có chút tư duy.
| Trong một xã hội đầy rẫy những chiến binh tiêu hao, bạn sẽ tìm được một lợi thế tạm thời bằng cách chuyển sang mưu lược. Tư duy theo tiến trình của bạn sẽ trở nên linh hoạt hơn, đứng về phía cuộc sống hơn và bạn sẽ có thể lợi dụng những khuynh hướng cứng nhắc, ám ảnh vì chiến trận của những người quanh bạn. Bằng cách luôn tư duy trước hết về tình thế bao quát và cách làm thế nào để lừa mọi người vào những vị thế yếu hơn thay vì đánh nhau với họ, bạn sẽ làm cho những trận chiến của bạn ít máu đổ hơn – một điều khôn ngoan nếu bạn muốn có một sự nghiệp lâu bền và gặt hái nhiều kết quả, vì cuộc đời thì dài và xung đột là vô tận. Và một cuộc chiến tranh mưu lược cũng có tính quyết định giống như một cuộc chiến tranh tiêu hao. Hãy nghĩ về việc làm suy yếu kẻ thù giống như việc chờ cho chúng chín muồi như ngũ cốc, sẵn sàng để thu hoạch vào thời điểm đúng. Sau đây là bốn nguyên tắc cơ bản của chiến tranh mưu lược: Vạch ra một kế hoạch gồm nhiều phân nhánh. Chiến tranh mưu lược phụ thuộc vào việc hoạch định, và kế hoạch phải đúng. Nếu nó quá cứng nhắc, bạn sẽ không còn chỗ trống để điều chỉnh những rối loạn không thể tránh được và những xung đột chiến lược trong chiến tranh; nếu nó quá lỏng lẻo, những sự kiện không thể dự báo sẽ gây rối trí và áp đảo bạn. Một kế hoạch hoàn hảo bắt nguồn từ một phân tích thật tỉ mỉ về hoàn cảnh; nó cho phép bạn quyết định hướng tốt nhất để đi theo hoặc vị trí hoàn hảo để chiếm lĩnh và đề ra nhiều khả năng đầy hiệu quả (các phân nhánh) để chọn lựa, phụ thuộc vào cái mà kẻ thù ném sang cho bạn. Một kế hoạch có nhiều phân nhánh cho phép bạn thao túng được kẻ thù vì những phản ứng của bạn đối với các tình huống thay đổi nhanh hơn và hợp lý hơn. Tạo cho mình chỗ trống để tung hoành. Bạn không thể cơ động, bạn không thể tung hoành một cách tự do, nếu bạn tự đưa mình vào những không gian tù túng hoặc tự trói buộc vào những vị trí không cho phép bạn di chuyển. Hãy xem khả năng để di chuyển và duy trì nhiều lựa chọn hơn kẻ thù là điều quan trọng hơn việc cứ ôm giữ những lãnh thổ hay tài sản. Bạn cần không gian mở chứ không phải là những vị trí chết. Điều này có nghĩa là đừng tự gánh lên vai mình những ràng buộc sẽ làm hạn chế các chọn lựa. Nhu cầu đối với không gian vừa có tính tâm lý vừa có tính vật chất: bạn phải có một tâm trí tự do để tạo ra bất kỳ điều gì xứng đáng. Đem đến cho kẻ thù những tình thế lưỡng nan chứ không phải là những rắc rối. Đa số các đối thủ của bạn có thể khá thông minh và có tiềm lực; nếu những mưu lược của bạn chỉ đơn giản đưa đến cho họ những rắc rối, chắc chắn họ sẽ giải quyết được chúng. Nhưng với một tình thế lưỡng nan thì khác: bất kể họ làm điều gì, bất kể họ phản ứng cách nào – rút lui, tiến tới, ở yên tại chỗ - họ vẫn còn nằm trong vòng rắc rối. Hãy làm cho mọi khả năng chọn lựa đều tệ hại: ví dụ, nếu bạn dùng mưu mẹo thật nhanh đối với một điểm, bạn có thể buộc kẻ thù hoặc chiến đấu trước khi sẵn sàng hoặc rút lui. Hãy cố thường xuyên đặt họ vào những vị trí có vẻ hấp dẫn nhưng thật ra là cạm bẫy. Tạo ra sự hỗn loạn tối đa. Kẻ thù của bạn cậy vào khả năng thấu hiểu bạn, ý thức được một số dự tính của bạn. Mục tiêu của những mưu chước của bạn là phải biến điều đó thành chuyện bất khả thi, khiến kẻ thù của bạn lao vào một cuộc săn vịt trời những thông tin vô nghĩa, tạo ra sự mơ hồ về cách thức bạn sắp sửa phóng lên. Càng phá vỡ khả năng nhận định về bạn của mọi người, bạn càng tiêm nhiễm nhiều rối loạn hơn vào hệ thống của họ. Sự hỗn loạn mà bạn tạo ra phải được kiểm soát và có mục đích, ít ra là về phần bạn. Sự hỗn loạn mà kẻ thù gánh chịu thì lại gây suy nhược và tàn phá. |
Thế nên thắng trăm trận không phải là tài cao của họ; tài cao của họ là khuất phục quân thù mà không cần phải đánh nhau.Tôn Tử (thế kỷ 4 tr CN.)
CÁC VÍ DỤ LỊCH SỬ
1. Ngày 10/11/1799, Napoleon Bonaparte hoàn tất đòn kết thúc đưa ông tới quyền lực với tư cách tổng tài thứ nhất, tạo cho ông sự kiểm soát gần như hoàn toàn nước Pháp. Trong hơn 10 năm, Pháp đã bị náo động vì cách mạng và chiến tranh. Lúc này, khi đã nắm quyền cai trị, nhu cầu khẩn thiết nhất của Napoleon là hòa bình, để đất nước có thời gian hồi phục và bản thân ông có thời gian để củng cố quyền lực của mình – nhưng hòa bình không đến một cách dễ dàng.
Pháp có một kẻ thù không đội trời chung ở Áo, và nó đã đưa hai lực lượng lớn ra trận, sẵn sàng di chuyển để tấn công Napoleon: một ở phía đông sông Rhine và một ở miền bắc Ý dưới quyền của Tướng Michael Melas. Quân Áo rõ ràng đang hoạch định một chiến dịch then chốt. Chờ đợi là quá nguy hiểm; Napoleon phải nắm lấy thế chủ động. Ông phải đánh bại ít ra là một trong hai lượng lực này nếu muốn ép Áo đàm phán hòa bình theo những điều kiện của mình. Một con bài chủ mà ông đã có là nhiều tháng trước một lực lượng quân đội Pháp đã nắm quyền kiểm soát Thụy Sỹ. Cũng có nhiều quân đoàn Pháp khác ở miền bắc Ý, mà Napoleon đã đưa sang Áo nhiều năm trước đó.
Để hoạch định chiến dịch thật sự đầu tiên dưới quyền chỉ đạo của mình, Napoleon tự giam mình trong phòng nhiều ngày. Thư ký của ông, Louis de Bourienne, nhớ lại đã nhìn thấy ông cúi mình trên những tấm bản đồ nước Đức, Thụy Sỹ và Ý to lớn trải dài trên sàn nhà từ vách này tới vách kia của gian phòng. Những cái bàn giấy chất cao nghệu các bản báo cáo trinh sát. Trên hàng trăm thẻ ghi chú được xếp vào những cái hộp, Napoleon đã tính toán các phản ứng của quân Áo đối với các cuộc đột kích mà ông đang hoạch định. Tự lẩm bẩm một mình, ông nghiền ngẫm từng đội hình tấn công và phản công.
Cuối tháng 3/1800, Napoleon rời khỏi văn phòng với một kế hoạch chiến dịch ở miền bắc Ý vượt xa khỏi bất kỳ điều gì mà những viên tướng của ông từng thấy trước đó. Vào giữa tháng 4, một lực lượng Pháp dưới quyền Tướng Jean Moreau sẽ băng qua sông Rhine và đẩy lùi quân đội phía đông Áo về Bavaria. Khi đó Napoleon sẽ dẫn 5 vạn quân, đã tới Thụy Sỹ từ trước, tiến vào miền bắc Ý thông qua nhiều con đèo khác nhau trên dãy Alps. Lúc này Moreau sẽ điều một trong những sư đoàn của ông tiến về nam và đi theo Napoleon sang Ý. Lúc đầu lực lượng của Moreau di chuyển vào Bavaria, rồi sau đó các sư đoàn sẽ rải rác tiến vào Ý, gây rối trí cho quân Áo như các dự tính của Napoleon. Và nếu lực lượng Áo ở sông Rhine bị đẩy về phía đông, nó sẽ cách quá xa để hỗ trợ cho quân Áo ở bắc Ý. Khi vượt qua dãy Alps, Napoleon sẽ tập trung các lực lượng lại và sáp nhập vào các sư đoàn của Tướng André Massena đã đóng sẵn ở bắc Ý. Khi đó, ông sẽ điều một phần lớn lực lượng tới thị trấn Stradella, cắt đứt liên lạc giữa Melas ở bắc Ý và chỉ huy sở ở Áo. Khi các cánh quân của Melas đã bị cô lập và quân cơ động của Pháp đã tới địa bàn của họ, Napoleon sẽ có nhiều lựa chọn ngon lành để bẻ gãy và tiêu diệt chúng. Ở một thời điểm, khi ông đang mô tả kế hoạch này với Bourienne, Napoleon nằm dài trên tấm bản đồ khổng lồ trên sàn nhà và ghim một cái kim gút vào kế thị trấn Marengo, nằm giữa trung tâm chiến trường của Ý. “Tôi sẽ đập tan ông ta ở đây”, ông bảo.
Một vài tuần sau, khi Napoleon bắt đầu điều động các lực lượng, ông nhận được vài tin xấu: Melas đã đánh bật ông bằng cách tấn công quân đội của Massena ở bắc Ý. Massena buộc phải lui về Genoa, nơi quân Áo nhanh chóng bao vây ông ta. Mối nguy ở đây rất lớn: nếu Massena đầu hàng, quân Áo có thể tràn vào miền nam nước Pháp. Ngoài ra, Napoleon đã tính dựa vào lực lượng của Massena để giúp ông đánh bại Melas. Thế nhưng ông nhận những tin tức này với thái độ thản nhiên lạ lùng và chỉ đơn giản đưa ra vài điều chỉnh: ông chuyển nhiều quân hơn sang Thụy Sỹ và gửi tin tới Massena rằng ông ta phải làm bất kỳ điều gì trong khả năng để cầm cự trong ít nhất tám tuần, giữ chân Melas trong khi Napoleon di chuyển tới Ý. Trong vòng một tuần lại có thêm nhiều tin nóng. Sau khi Moreau bắt đầu chiến dịch đẩy quân Áo lui lại khỏi sông Rhine, ông từ chối chuyển sư đoàn mà Napoleon dự tính điều sang Ý, than phiền rằng ông không thể để cho nó đi. Thay vì thế, ông cử một sư đoàn nhỏ và ít kinh nghiệm hơn. Quân Pháp ở Thụy Sỹ đã bắt đầu cuộc vượt núi Alps nguy hiểm. Napoleon không còn chọn lựa nào khác ngoài việc nhận những gì Moreau trao cho. Ngày 24/5, Napoleon đã đưa quân đội tới Ý an toàn. Say sưa với cuộc vây hãm ở Genoa, Melas phớt lờ những bản báo cáo về những cuộc tiến quân của Pháp lên hướng bắc. Kế tiếp, Napoleon tiến tới Milan, gần Stradella, nơi ông cắt đứt tuyến thông tin liên lạc của Áo như đã dự tính. Lúc này, như một con mèo đang rình mồi, ông có thể chờ cho Melas chú ý tới cái bẫy mà ông ta đang lọt vào và cố đánh mở đường thoát khỏi nó ở gần Milan.
Tuy nhiên, ngày 8/6, một lần nữa những tin xấu lại tới tai Napoleon: hai tuần trước thời hạn ông hy vọng, Massena đã đầu hàng. Lúc này Napoleon còn ít quân hơn, và Melas đã chiếm được một cứ địa mạnh ở Genoa. Từ lúc khởi đầu, chiến dịch đã gặp khó khăn với những sai lầm và những sự kiện không dự đoán được - cuộc tấn công sớm hơn của quân Áo, cuộc rút lui của Massena vào một cái bẫy ở Genoa, sự bất tuân của Moreau, và giờ đây là sự đầu hàng của Massena. Thế nhưng trong khi những người phụ tá của Napoleon e sợ điều tệ nhất, bản thân ông không chỉ giữ được vẻ thản nhiên, mà dường như còn kích động một cách lạ lùng với những điều xui xẻo này. Theo cách nào đó ông có thể rút ra từ chúng những cơ hội mà mọi người khác đều không thấy được - và với việc mất Genoa, ông đã nhận ra cơ hội lớn nhất. Ông nhanh chóng thay đổi kế hoạch; thay vì chờ ở Milan để Melas tìm tới, ông đột nhiên dàn các sư đoàn của mình thành một tấm lưới rộng về hướng tây. Theo dõi một cách sát sao con mồi của mình, Napoleon thấy rằng Melas đang bị thôi miên bởi những chuyển động của các sư đoàn Pháp – một sự do dự chết người. Napoleon điều một sư đoàn theo hướng tây tới Marengo, gần với quân Áo ở Genoa, gần như là nhử cho họ tấn công. Đột ngột, sáng ngày 14/7, họ cắn câu, với một sức mạnh đáng kinh ngạc. Lần này chính Napoleon là người phạm sai lầm; ông đã không mong quân Áo tấn công suốt nhiều ngày, và các sư đoàn của ông đã rải ra quá rộng để có thể hỗ trợ ông. Quân Áo ở Marengo đông hơn quân ông gấp đôi. Ông gửi những thông điệp khẩn tới khắp phía để yêu cầu chi viện, rồi dàn trận, hy vọng có thể cầm cự cho tới khi quân chi viện tới.
Nhiều giờ trôi qua mà không có dấu hiệu của một sự trợ giúp nào. Các phòng tuyến của Napoleon yếu dần, và vào lúc 3 giờ chiều quân Áo cuối cùng cũng chọc thủng phòng tuyến, buộc quân Pháp rút lui. Đây là tai họa cuối cùng trong chiến dịch, thế nhưng lại là khoảnh khắc chói sáng của Napoleon. Dường như ông được cổ vũ bởi cách thức cuộc rút lui diễn ra, quân Pháp tản mác ra và quân Áo đuổi theo họ, không có kỷ luật và sự cố kết. Phi ngựa giữa những người rút lui xa nhất, ông tập hợp họ lại và chuẩn bị cho họ phản công, hứa với họ rằng các lực lượng chi viện sẽ tới trong vòng vài phút – và ông nói đúng. Lúc này những sư đoàn Pháp ùa tới từ mọi phía. Trong khi đó, Áo đã để cho các hàng quân rơi vào tình trạng hỗn loạn, và choáng váng khi thấy mình đang đối mặt với những lực lượng mới dưới điều kiện này, họ dừng lại và nhường đất cho một cuộc phản công được tổ chức một cách nhanh chóng của Pháp. Trước 9 giờ tối, quân Pháp đã đánh bại họ một cách thảm bại. Như Napoleon đã tiên đoán với chiếc kim gút trên tấm bản đồ, ông đã gặp và đánh bại kẻ thù ở Marengo. Vài tháng sau, một hòa ước được ký kết, đem đến cho Pháp nền hòa bình mà nó rất cần, một nền hòa bình kéo dài gần bốn năm.
Diễn dịch
Chiến thắng của Napoleon ở Marengo có vẻ như dựa vào khá nhiều may mắn và trực giác. Nhưng ở trường hợp này thì không phải thế. Napoleon đã tin rằng một chiến lược cao cấp hơn có thể tạo nên may mắn của chính ông – thông qua tính toán, hoạch định cẩn thận, và luôn ở thế mở rộng cửa đón chờ sự thay đổi trong một tình huống mang động lực. Thay vì để cho vận xấu đè xuống đầu mình. Napoleon kết hợp nó vào các kế hoạch của ông. Khi ông biết rằng Massena buộc phải lui về Genoa, ông thấy cuộc chiến giành thành phố sẽ khóa chặt Melas trong một vị trí chết, tạo thời gian cho ông di chuyển quân của ông vào vị trí. Khi Moreau điều tới một sư đoàn nhỏ hơn, Napoleon điều nó băng qua dãy Alps theo một con đường nhỏ hẹp, nhiều chướng ngại hơn, tung thêm hỏa mù vào mắt của quân Áo đang cố gắng tìm hiểu xem ông có bao nhiêu quân. Khi Massena đầu hàng một cách bất ngờ, Napoleon nhận ra rằng lúc này việc nhử cho Melas tấn công vào các sư đoàn của ông sẽ dễ dàng hơn, nhất là nếu ông điều chúng đến gần hơn. Ở Marengo, ông đã biết chắc các lực lượng chi viện đầu tiên sẽ tới vào khoảng sau 3 giờ chiều. Cuộc truy đuổi của quân Áo càng lộn xộn, sự phản công càng dữ dội.
Khả năng điều chỉnh và hành binh của Napoleon trên tiến trình chiến dịch dựa vào phương thức hoạch định mới mẻ của ông. Đầu tiên, ông bỏ ra nhiều ngày nghiên cứu bản đồ và dùng chúng để tiến hành một cuộc phân tích chi tiết. Điều này đã cho ông biết, chẳng hạn, rằng việc quân đội của ông ở Stradella sẽ đem tới một tình thế lưỡng nan cho quân Áo và đem đến cho ông nhiều khả năng chọn lựa cách thức để tiêu diệt họ. Rồi ông tính toán tới các yếu tố ngẫu nhiên: nếu kẻ thù làm điều x, ông sẽ phản ứng ra sao? Nếu phần y của kế hoạch của ông tịt ngòi, ông khắc phục bằng cách nào? Kế hoạch rất linh hoạt và đem tới cho ông nhiều lựa chọn tới mức ông có thể điều chỉnh nó một cách vô hạn với bất kỳ tình thế nào sẽ xảy ra. Ông đã thao tác nhiều vấn đề khả dĩ xảy ra tới mức ông có thể đi đến một giải pháp nhanh chóng với bất kỳ vấn đề nào. Kế hoạch của ông là một hỗn hợp giữa tính linh hoạt và tính chi tiết, và ngay cả khi ông đã phạm sai lầm, như đã có ở phần đầu của cuộc phản công vào Marengo, những điều chỉnh nhanh chóng của ông đã ngăn không cho quân Áo lợi dụng được nó – trước khi họ có thể nhận ra điều cẩn phải làm, ông đã chuyển tới một thế khác. Sự tự do tung hoành một cách tàn phá không thể tách rời khỏi sự hoạch định một cách có phương pháp của ông.
Thấu hiểu: Trong cuộc sống cũng như trong chiến tranh, không có gì diễn ra đúng như bạn mong đợi. Những phản ứng của mọi người đều lạ lùng và đáng ngạc nhiên, bộ sậu của bạn thực hiện những hành động cực kỳ ngu xuẩn, vân vân. Nếu bạn chạm trán với một kế hoạch cứng nhắc, nếu bạn chỉ nghĩ đến việc cố bám giữ những vị trí chết, nếu bạn chỉ dựa vào kỹ thuật để kiểm soát bất kỳ một xung đột chiến lược nào hiện ra trên đường tiến bước, bạn sẽ tiêu tùng: những sự kiện sẽ thay đổi nhanh hơn là bạn có thể điều chỉnh cho phù hợp với chúng, và sự hỗn loạn sẽ thâm nhập vào hệ thống của bạn. Trong một thế giới ngày càng phức tạp, cách thức hoạch định và điều hành của Napoleon là giải pháp hợp lý duy nhất. Bạn cứ tiếp thu càng nhiều thông tin và càng chi tiết bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu; bạn phân tích những tình huống một cách sâu sắc, cố hình dung ra những phản ứng của kẻ thù và những sự cố có thể phát sinh. Bạn đừng để bị lạc trong cái mê cung phân tích này mà tốt hơn nên sử dụng nó để xác định một kế hoạch hình cây với nhiều phân nhánh, một kế hoạch đặt bạn vào các vị trí với khả năng thao túng. Bạn giữ cho mọi thứ đều lỏng lẻo và có thể điều chỉnh được. Bất kỳ rối loạn nào xảy đến trên con đường của bạn đều được định hướng chảy về phía kẻ thù. Trong việc thực hành chủ trương này, bạn sẽ thấu hiểu câu châm ngôn của Napoleon rằng sự may mắn là một thứ do bạn tạo nên.
2. Khi phe Cộng hòa chuẩn bị hội nghị để chọn ra một ứng cử viên tổng thống vào năm 1936, họ có lý do để hy vọng. Đương nhiệm tổng thống phe Dân Chủ, Franklin D. Roosevelt, tất nhiên là được lòng dân, nhưng Mỹ vẫn còn trong cuộc Suy thoái, số người thất nghiệp cao, thâm hụt ngân sách đang tăng, và nhiều chương trình New Deal(2) của Roosevelt đã vô hiệu quả. Điều tệ hại nhất là, nhiều người Mỹ đã trở nên tiêu tan ảo mộng với Roosevelt, họ thậm chí còn đi tới chỗ chán ghét ông, cho rằng ông độc tài, không đáng tin, một người xã hội chủ nghĩa từ đáy tim, có lẽ thậm chí không có tính chất Mỹ. Roosevel đang dễ bị tổn thương, và phe Cộng hòa đang khao khát thắng cử. Họ quyết định xuống giọng khoa trương và kêu gọi các giá trị truyền thống Mỹ. Kêu gọi sự ủng hộ tinh thần của chương trình New Deal chứ không phải là con người đứng sau nó, họ hứa sẽ đem tới sự cải cách cần thiết một cách hiệu quả và công bằng hơn là Roosevelt đã thực hiện. Đề cao tính thống nhất của đảng, hộ đề cử Alf M. Landon, thống đốc bang Kansas là ứng viên tổng thống của mình. Landon là người ôn hòa đến mức hoàn hảo. Các bài diễn văn của ông có xu hướng hơi buồn tẻ, nhưng ông có vẻ khá cứng rắn, khá trung lưu, một chọn lựa dễ chịu, và đây không phải là lúc để đề cao một kẻ cấp tiến. Ông ta đã rất ủng hộ chương trình New Deal, nhưng điều này cũng tốt – nó được lòng công chúng. Phe Cộng hòa đề cử Landon bởi vì họ nghĩ rằng ông có cơ hội tốt nhất để đánh bại Roosevelt, và đó là tất cả những gì quan trọng đối với họ.Trong buổi lễ đề cử, những người Cộng hòa dựng một sân khấu theo kiểu hoạt cảnh miền tây với những chàng cao bồi, những cô gái cưỡi ngựa và những cỗ xe phủ kín. Trong bài diễn văn đón nhận của mình, Landon không nói nhiều đến những kế hoạch hay chính sách cụ thể mà về bản thân và các giá trị Mỹ của ông. Trong khi Roosevelt gắn liền với những bi kịch không vui, ông sẽ đem tới sự bền vững. Đó là một buổi hội nghị dễ chịu.
Phe Cộng hòa chờ cho Roosevelt có động thái. Như sự mong đợi, ông đóng vai trò một người đứng trên sự xung đột, giữ các vẻ ngoài công cộng của ông ở mức tối thiểu và đề ra một hình tượng tổng thống. Ông nói theo kiểu chung chung mơ hồ và đưa ra một giai điệu đầy hy vọng. Sau cuộc hội nghị của phe Dân chủ, ông sẽ đi nghỉ dài ngày, để lại vũ đài cho phe Cộng hòa, những kẻ chỉ còn cách quá vui mừng để điền vào chỗ trống: họ đưa Landon vào cuộc vận động, nơi ông đọc những bài diễn văn vận động về việc ông sẽ làm thế nào để ban hành cải cách theo một đường lối hợp lý, chuẩn xác. Sự tương phản giữa Landon và Roosevelt là sự tương phản về tính tình và khí chất, và nó dường như cộng hưởng: trong các cuộc trưng cầu ý kiến, Landon được đẩy lên dẫn đầu.
Nhận thức rằng cuộc bầu cử sẽ đến gần và cảm nhận rằng đây là cơ hội lớn của mình, phe Cộng hòa leo theo tấn công, cáo buộc Roosevelt về cuộc đấu tranh giai cấp và vẽ ra một bức tranh ảm đạm về nhiệm kỳ kế tiếp của ông. Những tờ báo chống Roosevelt công bố một loạt bài xã luận tấn công ông trong các lĩnh vực cá nhân. Dàn đồng ca chỉ trích lớn dần, và phe Cộng hòa theo dõi một cách háo hức khi nhiều người ở phía Roosevelt có vẻ sợ hãi.
Cuối cùng, cho tới cuối tháng 9, chỉ 6 tuần trước cuộc bầu cử, Roosevelt mới bắt đầu chiến dịch của ông – và rồi, với cú sốc của mọi người, ông đánh rơi cái vẻ không thiên vị, đầy chất tổng thống mà ông đã mang rất tự nhiên.
Định vị trí của mình một cách rõ ràng bên trái của Landon, ông vẽ nên một sự tương phản sâu sắc giữa hai ứng viên. Ông trích dẫn một cách mỉa mai những bài diễn văn của Landon ủng hộ New Deal nhưng khẳng định có thể làm cho nó tốt hơn; sao lại phải bầu cho một người về cơ bản có cùng những ý tưởng và cách tiếp cận nhưng lại chẳng có kinh nghiệm gì trong việc làm cho chúng hoạt động? Nhiều ngày trôi qua, giọng nói của Roosevelt ngày càng lớn dần và rõ dần, các điệu bộ của ông linh động hơn, lời hùng biện của ông thậm chí có tính chất Thánh kinh trong giọng nói: ông là chàng David đang đối mặt với gã Goliath của các lợi ích doanh nghiệp khổng lồ muốn đưa đất nước quay trở lại thời kỳ độc quyền và các nhà tài phiệt ăn cướp.
Phe Cộng hòa theo dõi trong nỗi kinh hoàng khi những đám đông ủng hộ Roosevelt phồng to dần. Tất cả những người mà New Deal đã từng trợ giúp bằng bất kỳ cách nào lên tới con số mười ngàn, và phản ứng của họ đối với Roosevelt có một nhiệt tình gần như mang tính tôn giáo. Trong một bài diễn văn đặc biệt phấn chấn, Roosevelt liệt kê những khoản tiền bạc đã được sử dụng để chống lại ông:”Chưa bao giờ trước đây trong lịch sử của chúng ta,” ông kết luận,”từng có những lực lượng thống nhất thế này để chống lại một ứng cử viên đại diện cho họ hôm nay. Họ đồng lòng căm ghét tôi – và tôi xin đón mừng sự căm ghét của họ... Tôi muốn người ta sẽ nói trong nhiệm kỳ thứ hai của tôi rằng trong việc này các lực lượng đó đã gặp bậc thầy của họ.”
Landon, nhận ra sự thay đổi lớn trong xu thế của cuộc bầu cử, tiến ra với những cuộc tấn công sắn bén hơn và cố lùi xa khỏi New Deal, mà trước đó ông ta đã khẳng định sự ủng hộ – nhưng tất cả những điều này dường như chỉ đào cho ông ta một cái hố sâu hơn. Ông ta đã thay đổi quá chậm trễ và quá rõ ràng trong sự đối phó với vận may đang suy tàn của mình.
Vào ngày bầu cử, Roosevelt thắng cử với kết quả cao nhất trong lịch sử bầu cử nước Mỹ lúc bấy giờ; ông thắng tất cả ngoại trừ hai bang, và phe Cộng hòa đã bị giảm xuống còn 16 ghế trong Thượng viện. Điều đáng kinh ngạc hơn cả tầm cỡ của chiến thắng không được dự báo của ông là tốc độ mà với nó ông đã làm đổi thay xu thế.
Diễn dịch
Khi Roosevelt đi theo hội nghị của phe Cộng hòa, ông nhận ra một cách rõ ràng trận tuyến mà họ sẽ chiếm trong vài tháng tới – một trận tuyến ôn hòa đề cao các giá trị và đặc tính lên trên chính sách. Lúc này ông đã có thể đặt chiếc bẫy hoàn hảo bằng cách từ bỏ trận địa. Trong những tuần sắp tới, Landon sẽ nhồi nhét vị trí ôn hòa của ông ta vào tâm trí công chúng, cam kết ngày càng nhiều. Trong khi đó những người Cộng hòa cánh hữu sẽ tấn công vị tổng thống dữ dội trong phạm vi cá nhân. Roosevelt biết rằng sẽ tới lúc con số trưng cầu ý kiến của Landon lên đến tột đỉnh. Công chúng hẳn sẽ phủ kín thông điệp trống của ông ta và các cuộc tấn công cay độc của cánh hữu.
Nhận thức về thời điểm đó vào cuối tháng 9, ông quay lại đấu trường và định vị mình một cách rõ ràng ở bên trái của Landon. Sự lựa chọn có tính chiến lược chứ không phải có tính lý tưởng; nó cho phép ông vẽ ra một khác biệt sắc nét giữa ông và Landon. Trong một thời điểm khủng hoảng như cuộc Suy thoái, tốt nhất là phải nhìn một cách kiên quyết và mạnh mẽ, đại diện cho một điều gì đó vững bền, chống lại một kẻ thù rõ rệt. Những cuộc tấn công từ cánh phải đem đến cho ông kẻ thù rõ rệt ấy, trong khi điệu bộ nhu nhược của Landon làm cho ông mạnh mẽ hơn qua sự tương phản. Bằng cách nào ông cũng thắng.
Mọi sự đều có tính chính trị trong thế giới ngày nay, và tất cả các chính trị gia đều ngồi vào vị trí. Trong bất kỳ trận đấu chính trị nào, cách tốt nhất để trượt ra khỏi một vị trí là vẽ ra một hình ảnh tương phản sắc nét với đối phương. Nếu bạn phải viện đến những bài diễn văn để tạo ra sự tương phản này, bạn đang đứng trên nền đất lung lay: mọi người không tin vào lời nói. Khăng khăng rằng bạn mạnh mẽ hay thuộc một phe phái có phẩm chất cao giống như là sự tự đề cao. Thay vì thế hãy khiến cho đối phương nói và có một động thái trước. Khi họ đã gắn vào một vị trí và cố định nó vào tâm trí của những người khác, họ đã chín muồi để gặt. Lúc này bạn có thể tạo ra sự tương phản bằng cách trích dẫn những lời của họ ném trả lại họ, biểu lộ bạn khác biệt như thế nào – trong giọng nói, trong thái độ, trong hành động. Đào sâu vào sự tương phản. Nếu họ gắn chặt vào một vị trí cấp tiến, đừng phản ứng bằng cách ôn hòa (sự ôn hòa nói chung là yếu ớt), nên tấn công họ để nhấn mạnh sự không bền vững, vì quyền lực luôn đói khát những cuộc cách mạng. Nếu họ đối phó lại bằng cách hạ thấp giọng kêu gọi, nên ghìm chặt họ vào sự không kiên định. Nếu họ tiếp tục, thông điệp của họ sẽ vô hiệu quả. Nếu họ trở nên ầm ĩ trong tự vệ, bạn đã tạo được quan điểm về sự không vững vàng của họ.
Hãy sử dụng chiến lược này trong những trận chiến hàng ngày, để cho mọi người tự ràng buộc mình vào một vị trí, bạn có thể chuyển tới một kết thúc chết người. Đừng bao giờ nói rằng bạn mạnh, hãy biểu lộ điều đó, bằng cách tạo ra một sự tương phản giữa bạn và những đối thủ do dự hay ôn hòa của bạn.
3. Người Thổ Nhĩ Kỳ tham gia Thế chiến I theo phía Đức. Kẻ thù chính của họ ở vũ đài Trung Đông là quân Anh, lúc đó đặt căn cứ ở Ai Cập, nhưng tới năm 1917 họ đã đạt được lợi thế: quân Thổ kiểm soát một tuyến đường sắt dài 800 dặm chạy từ Syria ở phía bắc tới Hejaz (vùng phía Nam của Ả Rập) ở phía nam. Ngay phía tây của vùng trung tâm của tuyến đường này là thị trấn Aqaba, nằm bên Hồng Hải, một vị trí then chốt của quân Thổ mà từ đó họ có thể nhanh chóng điều quân tới hướng bắc hay hướng nam để bảo vệ tuyến đường
Quân Thổ đã đẩy lùi quân Anh ở Gallipoli (xem chương 5), một thắng lợi to lớn cho tinh thần của họ. Những viên chỉ huy của họ ở Trung Đông cảm thấy an toàn. Quân Anh đã cố khuấy động một cuộc nổi dậy của người Ả Rập ở Hejaz chống lại quân Thổ, hy vọng rằng cuộc khởi nghĩa này có thể lan rộng tới phía bắc; người Ả Rập đã chiếm được một số đoạn đường sắt ở đây đó nhưng lại đấu đã lẫn nhau nhiều hơn là chống lại quân Anh. Quân Anh rõ ràng thèm muốn Aqaba và âm mưu chiếm nó từ mé biển với lực lượng hải quân hùng hậu, nhưng ở phía sau Aqaba là một dãy núi có nhiều hẻm vực. Quân Thổ đã biến ngọn núi này thành một cánh rừng. Người Anh biết rằng nếu hải quân của họ chiếm được Aqaba đi nữa, họ cũng không thể tiến vào nội địa, việc chiếm thành phố xem như chẳng hiệu quả gì. Cả quân Anh lẫn quân Thổ đều nhìn thấy hoàn cảnh đó theo cùng một cách, và tình thế cứ đó kéo dài.
Tháng 6/1917, những chỉ huy quân Thổ ở các pháo đài canh giữ Aqaba nhận được tin báo về những cuộc di chuyển lạ lùng của kẻ thù ở vùng sa mạc Syria trên hướng đông bắc. Dường như một sĩ quan Anh liên lạc với quân Ả Rập tên là TE Lawrence, 29 tuổi, đã vất vả băng qua hàng trăm dặm đất quạnh hiu để tuyển quân từ những người Howeitat, một bộ tộc Syria nổi tiếng về việc chiến đấu trên lưng lạc đà. Quân Thổ cử trinh sát đi tìm hiểu thêm. Họ đã biết ít nhiều về Lawrence: khác với những sĩ quan Anh thời bấy giờ, anh ta nói tiếng Ả Rập, hòa hợp tốt với dân địa phương, thậm chí còn ăn mặc theo kiểu của họ. Anh ta còn kết tình bằng hữu với Sherif Feisal, một lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa Ả Rập. Có lẽ nào anh ta xây dựng một quân đội để tấn công Aqaba? Tới mức độ mà điều này có thể xảy xa, anh ta xứng đáng được theo dõi gắt gao. Thế rồi tin đồn lan truyền rằng Lawrence đã thiếu thận trọng khi bảo với một tù trưởng Ả Rập đang bí mật nhận tiền công của Thổ, rằng anh ta đang tiến về Damascus để mở rộng phong trào khởi nghĩa. Đây là điều mà quân Thổ e sợ nhất, vì một cuộc khởi nghĩa ở những vùng đông dân hơn ở phía bắc khó có thể kiểm soát nổi.
Đội quân mà Lawrence tuyển mộ có không hơn 500 người, nhưng dân Howeitat là những chiến binh trên lạc đà xuất chúng, dữ tợn và rất cơ động. Quân Thổ báo động cho các đồng nghiệp ở Damascus và điều những đoàn quân để săn lùng Lawrence, một công việc khó khăn vì sự cơ động của người Ả Rập và sa mạc rộng mênh mông.Trong vài tuần kế tiếp, các cuộc di chuyển của quân Anh gặp trở ngại, cần phải nói điều này: các cánh quân Anh không phải di chuyển về hướng bắc tới Damascus mà về hướng nam tới tuyến đường chạy qua thị trấn Ma’an, vị trí của một nhà kho quân sự dùng để tiếp tế cho Aqaba, cách đó 40 dặm. Tuy nhiên, vừa xuất hiện ở khu vực Ma’an, Lawrence đã biến mất, rồi lại tái xuất hiện cách đó 100 dặm về phía bắc để chỉ huy một loạt tấn công vào tuyến đường sắt nằm giữa Amman và Damascus. Lúc này quân Thổ đầy nghi ngờ cảnh giác và điều 400 kỵ binh từ Amman để truy tìm Lawrence.Trong vài ngày, không có dấu hiệu gì của anh ta. Cùng lúc đó, một cuộc nổi dậy cách đó nhiều dặm về phía nam của Ma’an khiến quân Thổ kinh ngạc. Một bộ tộc Ả Rập gọi là Dhumaniyeh đã nắm quyền kiếm soát thị trấn Abu el Lissal, nằm dọc theo con lộ từ Ma’an tới Aqaba. Một tiểu đoàn Thổ được điều tới để chiếm lại thị trấn phát hiện thấy lô cốt canh giữ nó đã bị phá hủy và quân Ả Rập đã đi khỏi đó. Thế rồi, đột nhiên, một điều bất ngờ và hoàn toàn gây rối trí xảy ra: không biết từ đâu ra, đội quân Howeitat của Lawrence xuất hiện trên ngọn đồi ở phía trên thị trấn Abu el Lissal.Do tập trung vào cuộc nổi dậy ở địa phương, quân Thổ đã mất dấu của Lawrence. Lúc này, đã kết nối với người Dhumaniyeh, anh ta đã gài bẫy một lực lượng Thổ ở Abu el Lissal. Quân Ả Rập phi dọc theo ngọn đồi với tốc độ rất nhanh và vô cùng khéo léo, làm cho quân Thổ lãng phí đạn dược bắn theo họ. Cùng lúc, sức nóng giữa trưa đã tác động lên những tay súng Thổ. Chờ cho tới lúc quân Thổ khá mệt mỏi, quân Ả Rập, với Lawrence cùng đi, lao xuống đồi. Quân Thổ khép chặt hàng ngũ, nhưng những kỵ binh lạc đà nhanh nhẹn đã bọc sang bên sườn và phía sau lưng họ. Đó là một cuộc tàn sát: 300 lính Thổ bị giết và số còn lại bị bắt làm tù binh.
Lúc này, cuối cùng các chỉ huy Thổ ở Aqaba đã nhận ra trò chơi của Lawrence: anh ta đã cắt rời họ khỏi tuyến đường sắt mà họ dựa vào để có nguồn tiếp tế. Ngoài ra, nhìn thấy sự thành công của người Howeitat, các bộ tộc Ả Rập khác quanh Aqaba đã gia nhập lực lượng của Lawrence, hình thành một lực lượng hùng hậu bắt đầu băng qua những khe núi hẹp để tiến về Aqaba. Quân Thổ chưa bao giờ hình dung nổi một lực lượng lại có thể đến từ hướng ấy; các công sự của họ đều quay mặt ra hướng khác, ra biển và phía người Anh. Quân Ả Rập khét tiếng là tàn nhẫn với kẻ thù cố chống cự họ, và những viên chỉ huy của các công sự ở sau lưng Aqaba bắt đầu đầu hàng. Quân Thổ điều một đội quân đồn trú 300 người từ Aqaba để chặn đứng cuộc tiến công này, nhưng họ nhanh chóng bị bao vây bởi số quân Ả Rập đang tăng nhanh.
Ngày 6/7, cuối cùng quân Thổ đầu hàng, và các viên chỉ huy theo dõi với sự kinh ngạc khi đội quân khố rách áo ôm của Lawrence lao ra biển để chiếm lại cái đã từng được cho là một vị trí bất khả xâm nhập. Với đòn tấn công này, Lawrence đã hoàn toàn thay đổi thế cân bằng về quyền lực ở Trung Đông.
Diễn dịch
Cuộc chiến giữa Anh và Thổ Nhĩ Kỳ trong Thế chiến I đã chứng tỏ một cách xuất sắc sự khác biệt giữa một cuộc chiến tranh tiêu hao và một cuộc chiến tranh mưu lược. Trước động thái xuất sắc của Lawrence, quân Anh, chiến đấu theo các nguyên tắc của chiến tranh tiêu hao, đã chỉ đạo người Ả Rập chiếm giữ các điểm then chốt dọc theo tuyến đường sắt. Chiến lược này đã nằm gọn trong lòng bàn tay của quân Thổ: họ có quá ít người để canh giữ toàn tuyến đường, nhưng khi họ thấy quân Ả Rập tấn công vào bất kỳ nơi nào, họ có thể nhanh chóng di chuyển số quân mà họ có tới đó và sử dụng hỏa lực vượt trội của mình để phòng vệ hoặc chiếm lại nó. Lawrence – một người không có nền tảng về quân sự, nhưng được phú cho một thiên tư – đã nhìn thấy ngay tính chất ngu xuẩn của điều này. Xung quanh tuyến đường sắt là hàng ngàn dặm sa mạc mà quân Thổ chưa chiếm đóng. Quân Ả Rập là những bậc thầy ở hình thức chiến tranh cơ động trên lưng ngựa từ thời tiên tri Mohammed; không gian bao la để họ dàn trận tạo cho họ những khả năng vô hạn để tung hoành và gây ra mối đe dọa ở mọi nơi, buộc quân Thổ phải nằm ép mình trong những công sự của họ. Bị đóng băng tại chỗ, quân Thổ sẽ thiếu nguồn tiếp tế và không thể bảo vệ khu vực xung quanh. Yếu tố then chốt đối với toàn cuộc chiến là mở rộng cuộc nổi dậy lên hướng bắc, tới Damascus, cho phép quân Ả Rập đe dọa toàn tuyến đường sắt. Nhưng để mở rộng cuộc nổi dậy lên hướng bắc, họ cần có một cứ địa ở trung tâm, cứ địa đó là Aqaba.
Quân Anh cũng thủ cựu như quân Thổ và đơn giản là không thể vạch ra một chiến dịch cho một nhóm quân Ả Rập do một sĩ quan liên lạc chỉ huy. Lawrence phải tự mình làm việc đó. Đi theo một loạt đường vòng lớn trong sa mạc mênh mông, ông khiến quân Thổ hoang mang với mục đích của mình. Biết rằng quân Thổ e sợ một cuộc tấn công vào Damascus, anh cố tình lan truyền tin đồn thất thiệt rằng anh đang hướng tới việc đó, khiến quân Thổ phải điều nhiều cánh quân đi theo một cuộc săn vịt trời tới hướng bắc. Rồi, khai thác việc họ không thể tưởng tượng ra nổi một cuộc tấn công của quân Ả Rập vào Aqaba từ phía vùng đồi (một sai lầm giống như của quân Anh), anh làm cho họ mất cảnh giác. Kết quả Lawrence chiếm được Aqaba là một tuyệt chiêu tiết kiệm: chỉ có hai người của anh chết. (Hãy so sánh điều này với những nỗ lực không thành của quân Anh để chiếm Gaza từ tay quân Thổ trong cùng năm đó ở trận chiến về sau, trong đó 3000 binh lính Anh đã bị giết). Việc chiếm giữ Aqaba là bước ngoặt trong thất bại cuối cùng của quân Thổ ở Trung Đông.
Sức mạnh lớn nhất của bạn có thể có trong bất kỳ xung đột nào là khả năng gây rối trí cho đối thủ về các dự định của bạn. Những đối thủ rối trí không biết phải phòng vệ ở đâu hay bằng cách nào đã giáng cho họ một đòn tất công bất ngờ, họ sẽ mất cân bằng và sụp đổ. Để hoàn thành điều này bạn phải hành động với một mục đích duy nhất: giữ cho họ suy đoán. Bạn đưa họ vào cuộc rượt đuổi bạn trong những vòng luẩn quẩn; bạn nói ngược với điều bạn muốn làm; bạn đe dọa ở khu vực này trong khi nổ súng vào khu vực khác. Bạn tạo nên sự hỗn loạn tối đa. Nhưng để hoàn tất, bạn cần chỗ trống để tung hoành. Nếu bạn liên kết với những đồng minh gây cản trở, nếu bạn chiếm những vị trí kẹp bạn vào chân tường, nếu bạn ràng buộc với việc phòng thủ một vị trí cố định nào đó, bạn đã đánh mất khả năng thao túng. Bạn trở nên có thể dự đoán, giống như quân Anh và quân Thổ, di chuyển theo những đường thẳng trong những khu vực xác định, bỏ quên sa mạc mênh mông quanh bạn. Những người chiến đấu kiểu này xứng đáng với những trận đánh đẫm máu mà họ đối đầu.
4. Đầu năm 1937, Harry Cohn, vị sếp khá lâu năm của hãng Columbia Pictures, đối mặt với một cuộc khủng hoảng. Đạo diễn thành công nhất của ông, Frank Capra, vừa rời khỏi phim trường, và các lợi nhuận xuống dốc. Cohn cần một cú hích và một người thế chỗ cho Capra. Và ông tin rằng ông ta đã tìm ra công thức đúng với một kịch bản phim hài tựa đề là The Awful Truth và một đạo diễn 39 tuổi tên Leo McCarey. McCarey từng là đạo diễn phim Duck Soup, với anh em nhà Marx và Riggles of Red Gap với Charles Laughton, hai phim hài khác nhau nhưng đều thành công. Cohn đề nghị McCarey đạo diễn The Awful Truth.
McCarey bảo ông không thích kịch bản, nhưng dù sao ông cũng sẽ thực hiện cuốn phim đó với cái giá 1.000 đôla – một món tiền lớn vào năm 1937. Cohn, kẻ điều hành Columbia như Mussolini (thực tế, ông giữ một tấm ảnh của II Duce trong văn phòng của mình), nổi giận đùng đùng với cái giá đó. McCarey đứng lên, nhưng khi sắp bỏ đi, ông nhìn thấy chiếc đàn dương cầm trong phòng. McCarey là một nhà soạn nhạc không gặp thời. Ông ngồi xuống và chơi một giai điệu dịu dàng. Cohn yêu thích loại nhạc này, và ông bị mê hoặc: “Bất kỳ ai yêu thích loại nhạc thế này phải là một thiên tài,” ông nói. “Tôi sẽ trả cái giá cắt cổ đó. Lên bản báo cáo để ngày mai làm việc.” Trong mấy ngày sau đó, Cohn thấy hối tiếc về quyết định này.
Ba ngôi sao được xếp vai diễn cho The Awful Truth – Cary Grant, Irene Dunne và Ralph Bellamy. Tất cả đều gặp rắc rối với vai diễn theo những gì viết trong kịch bản, không ai muốn đóng cuốn phim đó, và theo thời gian trôi, sự khó chịu của họ chỉ tăng thêm. Những bản thảo cải biên được đưa ra: rõ ràng McCarey đã vứt bỏ bản gốc và khởi sự lại từ đầu, nhưng tiến trình sáng tạo của ông rất khác thường – ông ngồi trên một chiếc xe hơi đậu trên Đại lộ Hollywood với nhà biên kịch Vina Delmar và cùng bà ứng khẩu điều chỉnh ngay kịch bản. Sau đó, khi việc bấm máy bắt đầu, ông thường thả bước trên bãi biển và nguệch ngoạc những sắp đặt ngày mai trên những mảnh giấy nâu tơi tả. Phong cách đạo diễn của ông cũng gây khó chịu tương đương đối với các diễn viên. Ví dụ, một hôm ông hỏi Dunne có biết chơi dương cầm không và Bellamy có thể hát không. Cả hai đều đáp:”Không khá lắm,” nhưng bước kế tiếp của McCarey là bảo Dunne đánh bài “Home on the Range” với hết khả năng của cô trong khi Bellamy hát lạc cả tông. Các diễn viên không thích bài tập khá ê chề này, nhưng McCarey lại vui vẻ và quay lại toàn bộ bài hát. Trong kịch bản không hề có chi tiết này, nhưng nó đã được đưa vào cuốn phim.Đôi khi các diễn viên phải chờ đợi ở phim trường trong khi McCarey bước quanh quẩn bên chiếc dương cầm, rồi đột nhiên nghĩ ra một ý tưởng cho việc quay phim ngày hôm đó. Một buổi sáng, Cohn ghé phim trường và chứng kiến tiến trình kỳ quặc này. “Tôi thuê anh làm một cuốn phim hài lớn để có thể chứng tỏ với Frank Capra. Thế nhưng kẻ duy nhất sẽ cười phì vào cuốn phim này là Capra!” ông la lên. Sự bực tức của ông ngày càng tăng. Ông không thể sa thải McCarey vào lúc này mà không tạo nên nhiều rắc rối hơn, mà cũng không thể buộc ông ta quay lại với kịch bản gốc, vì McCarey đã bắt đầu quay và dường như chỉ có mình ông ta biết cuốn phim sẽ đi tới đâu. Thế nhưng vào những ngày sau đó các diễn viên bắt đầu nhận ra có một phương pháp nào đó trong sự điên khùng của McCarey. Ông quay những cảnh dài trong đó phần lớn công việc của họ chỉ được dẫn dắt một cách lơi lỏng; các cảnh có tính tự nhiên và sinh động. Cách làm việc của ông có vẻ ngẫu nhiên, nhưng ông biết mình muốn gì và có thể quay lại một cảnh ngắn nhất nếu vẻ mặt của diễn viên không đủ đáng yêu. Những ngày quay của ông ngắn và đến đích.Một hôm, sau nhiều ngày vắng mặt, Cohn xuất hiện ở phim trường và trông thấy McCarey đang phục vụ nước uống cho các diễn viên. Cohn suýt nổ tung khi người đạo diễn bảo ông họ đang uống mừng – họ đã hoàn thành việc quay phim. Cohn bị sốc và rất vui mừng; McCarey đã hoàn tất trước lộ trình và tiết kiệm được 200 ngàn đôla phí tổn. Rồi, với sự ngạc nhiên của ông, cuốn phim xuất hiện trong phòng biên tập như một câu đố lạ lùng. Nó hay, rất hay. Những người duyệt phim cười lăn lóc. Công chiếu lần đầu năm 1937, The Awful Truth là một thành công hoàn hảo và McCarey đoạt giải Oscar về đạo diễn xuất sắc. Cohn đã tìm ra Frank Capra mới của ông.Không may thay, McCarey đã nhìn thấy những xu hướng độc tài của ông chủ mình quá rõ ràng, và dù Cohn đưa ra những đề xuất hấp dẫn, McCarey không bao giờ làm việc cho Columbia nữa.Diễn dịchLeo McCarey, một trong những đạo diễn ưu tú trong thời kỳ vàng son của Hollywood, cơ bản là một người không gặp may trong việc soạn nhạc và sáng tác ca khúc. Ông đã làm công việc đạo diễn các phim hài vui nhộn – McCarey là người đã ghép đôi Laurel với Hardy – chỉ vì ông không thể kiếm sống bằng âm nhạc. The Awful Truth được xem là một trong những phim hài lập dị lớn nhất từng thực hiện, và cả phong cách lẫn phương thức mà McCarey áp dụng vào nó đều bắt nguồn từ các bản năng âm nhạc của ông: ông soạn cuốn phim trong đầu theo cùng một cách thức thoải mái nhưng hợp lý mà ông có thể chắp nối với một giai điệu trên chiếc đàn dương cầm. Để sáng tạo một cuốn phim theo kiểu này cần có hai điều: chỗ trống để tung hoành và khả năng định hướng những hỗn loạn và rắc rối vào tiến trình sáng tạo.McCarey giữ một khoảng cách càng xa càng tốt với Cohn, các diễn viên, nhà biên kịch – thực tế là với tất cả mọi người. Ông không thể để cho mình bị bó hẹp bởi ý kiến của bất kỳ ai về việc làm cách nào để quay một cuốn phim. Đã có chỗ trống để tung hoành, ông có thể cải biên, thử nghiệm, di chuyển một cách linh hoạt theo nhiều hướng khác nhau ở bất kỳ cảnh quay nào, thế nhưng vẫn kiểm soát được mọi thứ một cách hoàn hảo – dường như ông luôn luôn biết mình muốn gì và điều gì sẽ có hiệu quả. Và vì việc làm phim theo cách này biến mỗi ngày thành một thách thức mới, các diễn viên phải phản ứng với năng lượng của chính mình hơn là chỉ nhai lại những lời thoại trong kịch bản. McCarey cho phép có chỗ trống cho sự thay đổi và những sự kiện hiếm hoi của đời sống đi vào kế hoạch sáng tạo của mình mà không bị áp đảo bởi sự hỗn loạn. Ví dụ, cảnh quay mà ông đã ngẫu hứng tạo ra khi ông biết khả năng yếu kém về âm nhạc của Dunne và Bellamy, có vẻ như không hề được diễn tập và giống y như cuộc sống, bởi vì thực sự nó là như thế. Nếu nằm trong kịch bản, nó sẽ kém vui nhộn hơn rất nhiều.Việc chỉ đạo thực hiện một cuốn phim – hay bất kỳ dự án nào, về nghệ thuật, chuyên môn hay khoa học – cũng giống như chiến đấu trong một cuộc chiến tranh. Có một lô gích chiến lược xác định đối với cách thức bạn giải quyết một vấn đề nan giải, định hình công việc của bạn, giải quyết xung đột chiến lược và sự không nhất quán giữa cái bạn muốn và cái bạn có được. Những nhà đạo diễn hay các diễn viên thường khởi đầu với những ý tưởng tuyệt vời nhưng trong việc hoạch định lại tạo ra một sự trói buộc cho chính họ, có những kịch bản quá cứng nhắc phải đi theo, một hình thức quá cứng nhắc phải phù hợp, đến mức tiến trình đánh mất mọi niềm vui; không còn gì để khai thác trong bản thân sự sáng tạo, và kết quả cuối cùng dường như không có sức sống và gây thất vọng. Mặt khác, các nghệ sĩ có thể khởi đầu với một ý tưởng thoải mái có vẻ rất hứa hẹn, nhưng họ quá lười biếng hoặc vô kỷ luật để tạo cho nó một hình dáng và thể thức. Họ tạo nên quá nhiều không gian và sự rối rắm đến mức cuối cùng không có gì cố kết được với nhau. Giải pháp là phải hoạch định, phải có một ý tưởng rõ ràng về cái mà bạn muốn, rồi tự thâm nhập vào không gian mở và tìm các lựa chọn để hành động. Bạn định hướng hoàn cảnh nhưng chừa chỗ trống cho những cơ hội bất ngờ và những sự kiện hiếm hoi. Người ta có thể phán xét cả các vị tướng lẫn các nghệ sĩ dựa vào cách thức họ giải quyết sự hỗn loạn và rối rắm, bám chặt nhưng lại dẫn dắt nó theo những mục đích riêng của họ.
5. Nhật Bản, một ngày của thập niên 1540, trên một chiếc phà cùng những nông dân, thương gia, thợ thủ công, một chàng võ sĩ trẻ thiết đãi tất cả những ai muốn nghe bằng những câu chuyện về các chiến công kiếm sĩ của mình, trên tay cầm một thanh kiếm dài ba bộ để chứng minh sự tinh thông. Những người khác hơi e sợ chàng trai khỏe mạnh này, vì thế họ vờ như thích thú các câu chuyện của anh ta để tránh rắc rối. Nhưng một ông già ngồi ở cạnh phà không để ý tới chàng trai khoác lác. Hiển nhiên bản thân ông ta cũng là một samuarai, vì có đeo hai thanh kiếm, nhưng không ai biết rằng thật sự đó chính là Tsukahara Bokuden, có lẽ là kiếm sĩ lớn nhất vào thời đó. Lúc ấy ông đã 50 tuổi, thích cải danh du hành một mình. Bokuden ngồi, mắt nhắm, dường như chìm sâu vào suy tưởng. Sự bất động và im lặng của ông bắt đầu làm chàng võ sĩ trẻ bực mình. Cuối cùng anh ta gọi: “Ông không thích nghe loại chuyện này sao? Thậm chí ông không biết cầm một thanh kiếm ra sao phải không, ông lão?”. “Tất nhiên là ta biết,” Bokuden đáp.”Tuy nhiên, cách của ta là không cầm kiếm trong những hoàn cảnh không hợp lý như ở đây.” “Một cách sử dụng thanh kiếm là không dùng đến nó,” chàng võ sĩ nói. “Đừng nói lăng nhăng nữa. Trường phái chiến đấu của ông là gì?” “Nó tên là Mutekatsu-ryu (phong cách chiến thắng mà không cần đến kiếm hay chiến đấu),” Bokuden đáp. “Cái gì? Mutekatsu-ryu? Đừng lố lăng thế. Làm thế nào ông đánh bại một đối thủ mà không chiến đấu?”
Lúc này chàng võ sĩ đã nổi giận và tức tối, và anh ta yêu cầu Bokuden chứng minh, thách đấu với ông ngay lúc đó và tại đó. Bokuden từ chối đấu trên một chiếc phà đông người nhưng bảo rằng ông có thể biểu diễn cho chàng trai xem Mutekatsu-ryu ở bờ gần nhất, rồi ông yêu cầu người lái phà đưa phà tới một hòn đảo nhỏ gần đấy. Chàng trai bắt đầu vung kiếm lên để đám đông giãn ra. Bokuden tiếp tục ngồi nhắm mắt. Khi tới hòn đảo, kẻ thách đấu nôn nóng la lên: “Lên nào. Ông tiêu rồi. Tôi sẽ cho ông thấy kiếm của tôi bén thế nào!” Rồi anh ta nhảy lên bờ. Bokuden vẫn từ tốn, càng làm chàng võ sĩ trẻ bực tức, anh ta bắt đầu nhục mạ. Cuối cùng, Bokuden trao cho người lái phà hai thanh kiếm của mình, nói: “Phong cách của tôi là Mutekatsu-ryu. Tôi không cần dùng kiếm.” – và ông cầm lấy chiếc chèo của người lái, chống mạnh nó vào bờ, đưa chiếc phà nhanh chóng tách xa bờ. Chàng võ sĩ kêu to, yêu cầu chiếc phà quay lại. Bokuden đáp lại: “Đây là cái gọi là chiến thắng mà không cần chiến đấu. Ta thách anh dám nhảy xuống nước và bơi tới đây!”Lúc này các hành khách trên phà nhìn lại chàng võ sĩ lùi xa dần, mắc cạn trên hòn đảo, đang nhảy loi choi, vung vẫy đôi tay và những tiếng hét của anh ta ngày càng nhỏ dần nhỏ dần. Họ bắt đầu phá lên cười: Bokuden rõ ràng đã chứng minh được Mutekatsu-ryu.Diễn dịchLúc Bokuden nghe tiếng nói của chàng võ sĩ ngạo mạn, ông biết rằng sẽ gặp rắc rối. Một cuộc đấu tay đôi trên một chiếc phà đông đúc sẽ là một tai họa, và hoàn toàn không cần thiết; ông phải đẩy anh chàng này khỏi phà mà không cần phải đánh nhau, và biến thất bại đó thành trò cười. Ông thực hiện điều này bằng mưu trí. Đầu tiên, ông ngồi lặng lẽ bất động, kéo sự chú ý của chàng võ sĩ khỏi những hành khách vô tội và hướng nó về phía ông như một thỏi nam châm. Rồi ông làm cho anh ta rối trí với một cái tên phi lý về một trường phái chiến đấu, nung nóng đầu của anh chàng võ sĩ khá giản đơn bằng một khái niệm rắc rối. Tay võ sĩ rối trí cố che đậy bằng lời hăm dọa. Lúc này anh ta đã nổi giận và mất cân bằng về mặt tinh thần đến mức nhảy lên bờ một mình, không nghiền ngẫm kỹ ý nghĩa khá rõ ràng của cái tên Mutekatsu-ryu ngay cả khi đã ở trên bờ. Bokuden là một samurai luôn dựa vào việc sắp đặt trước các đối thủ và thắng trận một cách dễ dàng, bằng mưu lược hơn là sức mạnh. Đây là sự chứng minh tối hậu về nghệ thuật của ông.Mục tiêu của mưu lược là đem lại cho bạn những chiến thắng dễ dàng, mà bạn thực hiện bằng cách dẫn dụ đối thủ rời khỏi những vị trí vững chắc để tới những địa thế xa lạ nơi họ phải chiến đấu một cách mất cân bằng. Vì sức mạnh của đối thủ gắn liền với khả năng suy nghĩ tỉnh táo của họ, những mưu kế của bạn phải được thiết kế để khiến họ trở nên cảm tính và đần độn. Nếu bạn quá trực tiếp trong mưu mẹo này, bạn có cơ hội để lộ trò chơi của mình; bạn phải tinh tế, lôi kéo các đối thủ về phía mình với hành vi khó hiểu; dần dần luồn vào bên dưới lớp da của họ với những lời nhận xét và hành động khiêu khích, rồi đột nhiên lùi lại. Khi cảm thấy các cảm xúc của họ đã bắt đầu, sự giận dữ hay bực tức dâng lên, bạn có thể đẩy nhanh nhịp độ các thao tác. Đã được bố trí một cách chính xác, đối thủ của bạn sẽ nhảy lên hòn đảo và tự mình mắc cạn, đem tới cho bạn chiến thắng dễ dàng.Hình ảnh: Cái liềm. Dụng cụ đơn giản nhất. Dùng nó để cắt những bụi cỏ cao hay những đồng lúa chưa chín sẽ là một công việc làm kiệt sức. Nhưng nếu để cho những thân lúa ngả màu nâu vàng, cứng và khô lại, trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, ngay cả một cái liềm cùn nhất cũng sẽ cắt được lúa một cách dễ dàng.Tư liệu: Chúng ta thắng trận bằng giết chóc và mưu lược. Viên tướng càng tài ba, ông ta càng đóng góp nhiều về mưu lược và càng ít cần đến sự giết chóc... Hầu như tất cả những trận đánh được xem là các tác phẩm bậc thầy của nghệ thuật quân sự... là những trận đánh bằng mưu lược trong đó rất thường là kẻ thù thấy họ bị đánh bại bởi một mưu chước hay thủ đoạn tân kỳ, một cuộc đột kích hoặc một mưu mẹo lạ lùng, bất ngờ, nhanh chóng. Trong những trận đánh như thế, những tổn thất của người thắng trận rất ít ỏi.Winston Churchill (1874-1965)HOÁN VỊ
Chẳng có lập trường hay vinh dự gì khi tìm kiếm những trận đánh trực tiếp vì chính bản thân nó. Tuy nhiên, kiểu chiến đấu đó có thể có giá trị như là một phần của mưu lược hay chiến lược. Một cuộc bao vây bất ngờ hay một đòn tấn công trực diện mạnh mẽ khi kẻ thù ít ngờ tới nhất có thể là đòn trí mạng. Mối nguy duy nhất trong mưu lược là bạn đem lại cho mình quá nhiều khả năng chọn lựa tới mức ngay cả chính bạn cũng rối trí. Hãy giữ cho nó đơn giản – tự hạn chế mình ở những lựa chọn mà bạn có thể kiểm soát được.