| VỊ TRÍ TRUNG TÂM Một ngày đầu tháng 8 năm 490 trCN., công dân thành Athens nghe tin đồn một hạm đội lớn của quân Ba Tư mới vừa đổ bộ ở phía bắc cách đó chừng 24 dặm, dọc theo dải đồng bằng duyên hải của Marathon. Một tâm trạng ảm đạm nhanh chóng lan rộng. Mỗi người dân Athens đều biết rõ âm mưu của Ba Tư- chiếm thành phố của họ; hủy diệt nền dân chủ non trẻ và tái lập ngôi vua cho Hippias; một cựu vương bạo ngược; và bán nhiều công dân thành phố làm nô lệ. Khoảng tám năm trước đó, Athens đã cử một đội thuyền để hỗ trợ cho các thành phố ở Hy Lạp ở vùng Tiểu Á trong một cuộc khởi nghĩa chống lại Vua Darius của đế quốc Ba Tư. Người Athens đã giong buồm quay về quê hương sau vài trận đánh- họ sớm nhận thấy công việc này là vô vọng- nhưng họ đã tham gia vào vụ đốt cháy thành phố Sardis, một sự lăng nhục không thể tha thứ, và Darius muốn phục thù. Tình thế nguy ngập của người Athens có vẻ như vô vọng. Quân Ba Tư đông vô kể, với khoảng 80 vạn quân, di chuyển bằng hàng trăm chiến thuyền; nó có một lực lượng kỵ binh xuất chúng và những cung thủ giỏi nhất trên thế giới. Trong khi đó, người Athens chỉ có khoảng 10 vạn quân bộ binh. Họ đã cử một người liên lạc chạy tới Sparta để khẩn cấp yêu cầu chi viện, nhưng dân Sparta đang đón mừng lễ hội trăng rằm và chiến đấu trong thời gian đó là một điều cấm kỵ. Họ sẽ cử những đoàn quân tới sớm nhất trong khả năng có thể, trong vòng một tuần- nhưng có lẽ đến lúc ấy đã quá muộn. Trong lúc đó, một nhóm người có thiện cảm với Ba Tư trong nội thành Athens- phần lớn từ những gia đình giàu có- có ác cảm với nền dân chủ, trông ngóng sự trở lại của Hippias và đang làm hết khả năng của họ để gieo bất đồng và phản bội thành phố từ bên trong. Dân Athens khổng phải chỉ đánh nhau với quân Ba Tư mà còn bị chia rẽ thành nhiều bộ phận ngay trong số họ. Những người lãnh đạo của thành phố Athens dân chủ tập hợp lại để thảo luận các giải pháp, nhưng tất cả đều có vẻ tệ hại. Đa số đề nghị tập trung các lực lượng Athens ở bên ngoài thành phố trong một hàng rào phòng thủ. Ở đó họ có thể chờ đợi để chiến đấu với quân Ba Tư trên địa hình mà họ biết rõ. Tuy nhiên, quân Ba Tư quá đông, có thể bao vây thành phố ở cả trên đất liền cũng như trên mặt biển, bóp nó chết nghẹt bằng một cuộc phong tỏa. Thế là Miltiades, một viên chỉ huy, đưa ra một đề xuất hoàn toàn khác biệt: ngay lập tức đưa toàn bộ lực lượng Athens tiến quân về hướng Marathon, tới một địa điểm nơi con đường tới Athens băng qua một con đèo nhỏ hẹp dọc theo bờ biển. Điều đó có thể khiến bản thân thành phố không có người bảo vệ; khi họ cố gắng chặn đứng quân Ba Tư tiến quân trên đất liền, nó có thể chuyển sang tấn công bằng đường biển. Nhưng Miltiades lý luận rằng việc chiếm lấy con đèo là con đường duy nhất để tránh bị bao vây. Ông ta đã chiến đấu với quân Ba Tư ở Tiểu Á và là chiến binh Athens giàu kinh nghiệm nhất. Những người chỉ huy đã bỏ phiếu chọn kế hoạch của ông. Thế là 10 ngày sau đó, 10 vạn bộ binh Athens bắt đầu hành quân về hướng bắc, những người nô lệ mang vác các bộ giáp trụ nặng nề của họ, la và lừa chở thực phẩm. Khi họ tới con đèo nhìn xuống những cánh đồng cỏ của Marathon, trái tim họ chùng xuống: trong tầm mắt, dải đất dài đã phủ đầy những túp lều, ngựa và binh lính đến từ khắp nơi trên lãnh thổ Ba Tư. Những con thuyền đậu đông nghẹt bên bờ biển. Trong nhiều ngày hai bên đều án binh bất động. Quân Athens không còn lựa chọn nào ngoài việc giữ vững vị trí của họ; không có kỵ binh và ít quân hơn một cách tuyệt vọng, làm sao họ có thể giao chiến ở Marathon? Nếu có thêm đủ thời gian, có lẽ quân Sparta sẽ tới chi viện. Nhưng còn quân Ba Tư, họ đợi chờ gì nữa? Trước rạng sáng ngày 12/8, một số trinh sát Hy Lạp bề ngoài đang giúp việc cho quân Ba Tư luồn vào phía quân Athens và báo cáo những tin tức giật mình: dưới màn đêm, quân Ba Tư vừa giong buồm hướng về vịnh Phaleron nằm ở phía ngoài Athens, mang theo phần lớn kỵ binh và để lại một lực lượng cầm quân khoảng 1,5 vạn quân trên đồng cỏ Marathon. Họ sẽ đánh chiếm Athens từ hướng biển, rồi tiến quân về hướng bắc, nghiền nát quân đội Athens giữa hai gọng kềm lớn. Trong số 11 viên chỉ huy của quân đội Athens, chỉ có mỗi Miltiades tỏ ra bình tĩnh, thậm chí còn thanh thản: đây là cơ hội của họ. Khi mặt trời sắp mọc ông đề nghị ngay lập tức tấn công vào quân Ba Tư ở Marathon. Một số chỉ huy phản đối ý tưởng này: kẻ thù vẫn còn đông hơn, có một số kỵ binh và khá nhiều cung thủ. Tốt nhất là chờ quân Sparta chẳng bao lâu sẽ tới. Nhưng Miltiades phản biện rằng quân Ba Tư đã phân chia lực lượng của chúng. Ông đã đánh nhau với chúng trước kia và biết rằng bộ binh Hy Lạp có tinh thần và kỷ luật cao hơn. Quân Ba Tư ở Marathon lúc này chỉ đông hơn quân Hy Lạp chút ít; họ có thể chiến đấu và chiến thắng. Trong lúc đó, ngay cả với gió thuận, những con thuyền Ba Tư phải mất 10 đến 12 giờ để vòng quanh bờ biển tới vịnh Phaleron. Khi đó họ cần có thêm thời gian để đổ bộ các đoàn quân và ngựa. Nếu quân Hy Lạp nhanh chóng đánh bại quân Ba Tư ở Marathon, họ sẽ có đủ thời gian để chạy về Athens và bảo vệ thành phố này ngay trong ngày đó. Nếu họ chọn việc chờ đợi, quân Sparta có thể không bao giờ tới, quân Ba Tư sẽ bao vây họ, và đáng ngại hơn những người có thiện cảm với quân Ba Tư trong nội thành ắt sẽ phản bội thành phố từ bên trong và mở cổng thành cho quân xâm lược. Vấn đề là bây giờ hoặc không bao giờ. Qua một cuộc bỏ phiếu với tỷ số 6/5, các viên chỉ huy quyết định tấn công vào rạng sáng. Vào 9 giờ sáng, quân Athens bắt đầu xuất trận. Một cơn mưa tên từ các cung thủ của Ba Tư rớt xuống đầu họ, nhưng họ nhanh chóng tiếp cận kẻ thù đến mức lúc này trận đấu trở thành xáp lá cà. Và như Miltiades đã tiên đoán, trong cận chiến quân Athens chiếm phần hơn hẳn. Họ đẩy quân Ba Tư lùi vào những đầm lầy ở đầu phía bắc của đồng cỏ, và hàng ngàn quân địch đã chết chìm ở đó. Mặt nước đỏ ngầu như máu. Tới 9 giờ sang, quân Athen đã kiểm soát được dải thảo nguyên, tổn thất không tới hai trăm binh sĩ. |
Dù sĩ khí đang lên nhờ trận đánh, quân Athens lúc này chỉ có khoảng 7giờ để vượt qua chặng đường 24 dặm quay lại Athens để kịp thời chặn đứng quân Ba Tư. Không có thời gian để nghỉ nghơi; họ chạy, hết khả năng mà đôi chân cho phép, vứt bỏ những bộ giáp trụ nặng nề, bị thôi thúc bởi ý nghĩ về những hiểm nguy rành rành đang đối mặt với gia đình và bạn bè thân quyến của mình. Vào 4 giờ chiều, người nhanh nhất trong số họ đã chạy tới một địa điểm nhìn xuống vịnh Phaleron. Số còn lại chẳng bao lâu cũng tới nơi. Chỉ trong vòng vài phút sau khi họ tới đó, hạm đội của Ba Tư đã chạy vào vịnh để nhìn thấy một cảnh tượng không vui: hàng ngàn chiến sĩ Athen, người đầy bụi đường và máu, đang đứng vai kề vai để chiến đấu chống việc đổ bộ. Quân Ba Tư thả neo trong vài giờ, rồi quay ra biển, trở lại quê nhà. Athens đã được an toàn.
Diễn dịch
Chiến thắng ở Marathon và cuộc chạy đua tới Athens có lẽ là những khoảnh khắc có tính quyết định nhất trong lịch sử Hy Lạp. Nếu binh sĩ không đến kịp thời, quân Ba Tư hẳn đã đánh chiếm thành phố, và tất nhiên cả Hy Lạp, và sau đó họ có thể mở rộng ra khắp khu vực Địa Trung Hải, vì không có thế lực nào tồn tại ở thời đó có thể ngăn họ lại. Lịch sử có lẽ đã đổi khác.
Kế hoạch của Miltiades hữu hiệu bởi tầm mức hẹp nhất của vấn đề, nhưng nó cũng đã dựa vào các nguyên tắc công hiệu và không bị thời gian chi phối. Khi một kẻ thù hùng mạnh tấn công bạn bằng sức mạnh, đe dọa khả năng tiến tới của bạn và chiếm lấy thế chủ động, bạn phải hành động để kẻ thù phân tán lực lượng của nó và sau đó lần lượt đánh bại những lực lượng nhỏ này- “không còn manh giáp” như giới quân sự thường nói.
Yếu tố chủ chốt ở chiến lược của Miltiades là trực giác của ông để đưa trận chiến tới Marathon. Bằng cách bố trí quân ở con đèo dẫn tới Athens, ông đã chiếm lĩnh vị trí trung tâm trong cuộc chiến thay vì ngoại vi phía nam. Với toàn bộ lực lượng chiếm giữ con đèo, quân Ba Tư phải mất một thời gian đổ máu để có thể vượt qua, vì thế, họ đã quyết định phân tán lực lượng của mình trước khi quân chi viện của Sparta tới. Khi đã phân tán, và với lực lượng kỵ binh đã mỏng bớt, họ đánh mất lợi thế của mình và vị trí trung tâm mà từ đó họ có thể thống lĩnh cuộc chiến.
Đối với quân Athens, chiến đấu với lực lượng nhỏ hơn ở Marathon trước tiên là điều khẩn thiết. Khi làm xong điều đó, và đã chiếm lấy vị trí trung tâm, họ có con đường ngắn hơn để tiến về Athens, trong khi quân xâm lược phải đi vòng theo đường bờ biển. Tới Phaleron trước, quân Athens không cho phép địch đổ bộ lên bất kì vị trí nào. Quân Ba Tư có thể quay lại Marathon, nhưng sự xuất hiện của những chiến binh Athens thân mình vấy máu đến từ phía bắc đã báo cho họ biết rằng họ đã thua trận ở đó, và tinh thần của họ đã sụp đổ. Rút lui là chọn lựa duy nhất.
Có những lúc trong đời bạn phải đối mặt với một kẻ thù đầy thế lực- một đối thủ đang tìm cách phá hoại bạn, một loạt những nan đề dường như không thể khắc phục cùng lúc ập lên đầu bạn. Lẽ tự nhiên là bạn cảm thấy bị đe dọa trong những tình huốngvốn có thể làm bạn tê liệt không làm được trò trống gì hoặc khiến bạn đợi chờ trong vô vọng rằng thời gian sẽ đem tới một giải pháp. Nhưng chiến tranh có một quy luật là bằng cách cho phép một lực lượng lớn đến gần bạn ,với toàn bộ sức mạnh và sự thống nhất ,bạn đã làm tăng lên những thứ chống lại bạn; một quân đội đông đảo và hùng mạnh trên bước tiến sẽ tạo nên một xung lực không thể nào chống nổi nếu cứ để mặc không kiểm soát nó. Bạn sẽ thấy mình nhanh chóng bị áp đảo. Việc làm khôn ngoan nhất là đánh liều một phen, gặp quân thù trước khi nó tới chỗ bạn, và cố bào mòn xung lực của nó bằng cách bắt buộc hoặc dụ dỗ cho nó phân tán lực lượng. Và cách tốt nhất để khiến cho kẻ thù phân tán là chiếm lấy vị trí trung tâm.
Hãy nghĩ về một trận đánh hay một sự xung đột như nó đang nằm trên một bàn cờ. Trung tâm của bàn cờ có thể mang tính chất vật chất- một địa điểm thật sự như Marathon-hoặc vi tế và có tính tâm lý hơn: những đòn bẩy quyền lực trong một nhóm, sự hỗ trợ của một đồng minh chủ chốt, một kẻ gây rối ở mắt bão. Hãy chiếm lấy trung tâm của bàn cờ và tự nhiên kẻ thù sẽ vỡ ra thành từng phần, cố gắng tấn công bạn từ nhiều phía. Lúc này, những bộ phận nhỏ hơn này có thể bị đánh bại từng phần hoặc buộc phải chia ra nhỏ hơn. Và khi một cái gì lớn bị chia nhỏ ra, nó có xu hướng chia nhỏ hơn, để vỡ tan không còn gì nữa.
Khi quân đội bạn giáp mặt với quân thù có vẻ hùng mạnh, hãy cố tấn công kẻ thù ở một điểm cụ thể. Nếu bạn thành công trong việc phá vỡ điểm cụ thể đó, rời khỏi nó và tấn công vào điểm khác, và cứ thế mà tiếp tục, như thể bạn đi xuống một con đường uốn lượn.Miyamoto musashi (1584-1645)TẤN CÔNG VÀO NHỮNG MỐI NỐI
Khi còn trẻ, Samuel Adams (1722-1803) ở thành phố Boston thời thuộc địa đã có một ước mơ: anh tin rằng một ngày nào đó những thuộc địa châu Mỹ sẽ hoàn toàn độc lập với Anh Quốc và thiết lập một chính phủ dựa trên các tác phẩm của triết gia Anh John Locke. Theo Locke, một chính phủ phải phản ánh ý chí của các công dân; một chính phủ không thực hiện điều này sẽ đánh mất quyền tồn tại của nó. Adams thừa kế một nhà máy bia từ cha anh, nhưng anh không quan tâm tới việc làm ăn, và trong khi nhà máy bia đang có chiều hướng phá sản, anh dành thời gian để viết những bài báo về Locke và nhu cầu độc lập. Anh là một tác giả xuất sắc, đủ để các bài viết của anh được công bố, nhưng ít người quan tâm một cách nghiêm túc tới ý tưởng của anh: anh có vẻ huênh hoang, hơi xa rời thực tế. Trong mắt anh lóe lên một tia sáng ám ảnh khiến mọi người cho rằng anh là một gã lập dị. Vấn đề là mối liên hệ giữa Anh và Mỹ quá mạnh mẽ; những người thực dân có những nỗi bất bình, nhưng hầu như không có một lời hô hào đòi độc lập. Adams bắt đầu có cảm giác chán nản; sứ mệnh tự gánh vác của anh dường như vô vọng.
Nước Anh rất cần tiền từ các thuộc địa, và năm 1765 họ thông qua Đạo luật Stamp để bất kì một giấy tờ nào được hợp pháp, các ngành thương mại Mỹ phải mua và dán lên đó một con tem của triều đình Anh Quốc. Những người thực dân đang lao đao vì những khoản thuế mà họ phải đóng cho Anh; họ xem Đạo luật Tem như là một dạng thuế trá hình, và một vài tiếng nói bất bình đã cất lên trong những quán rượu thành phố. Ngay cả như thế,đối với phần đông vấn đề có vẻ nhỏ nhặt- nhưng Adams xem Đạo luật Tem là cơ hội mà anh đã chờ đợi bấy lâu. Nó đem lại cho anh một thứ hữu hình để tấn công, và anh phủ đầy những tờ báo trên khắp những thuộc địa bằng những bài xã luận, tất cả đều ầm ĩ chống lại Đạo luật đó. Anh viết, không tham khảo ý của các thuộc địa, nước Anh đã ban hành một loại thuế mới, và loại thuế này, theo một cụm từ dễ nhớ, là đánh thuế mà không cần tuyên bố, bước đầu tiên dẫn đến sự chuyên chế.
Những bài xã luận này được viết rất khá và rất táo bạo với những lời chỉ trích đến mức nhiều người bắt đầu có những cái nhìn kĩ hơn vào Đạo luật Tem, và họ không thích cái mà họ thấy. Trước đó, Adams chưa hề tiến xa hơn việc viết lách, nhưng lúc bấy giờ, khi đã nhen lên một ngọn lửa bất bình, anh nhìn thấy sự khẩn thiết phải đẩy nó tiến xa hơn bằng hành động. Suốt nhiều năm, anh đã kết thân với nhiều người thuộc giai cấp công nhân mà xã hội thanh lịch xem là tầng lớp tiện dân – những công nhân khuân vác ở bến tàu và những người tương tự; lúc này anh tập hợp họ lại trong một tổ chức gọi là Những người con của Tự do. Nhóm người này diễu hành qua những đường phố Boston, hét vang câu khẩu hiệu do Adams đề ra: “Tự do,sở hữu và không có tem!”. Họ đốt cháy hình nộm các nhân vật chính trị đã đề cao Đạo luật Tem. Họ phân phát những tờ truyền đơn chứa các luận điểm chống lại điều khoản của Adams. Họ cũng hành động để dọa dẫm những nhà phân phối tem tương lai, đi xa tới mức phá hủy một trong những văn phòng của họ. Hành động càng có kịch tính, Adams càng được lòng công chúng, một công chúng mà anh đã tiêm nhiễm vào đó những lập luận chống lại đạo luât.
Khi đã có xung lực, chàng trai Adams vốn chưa hề nao núng đã không dừng lại đó. Anh tổ chức một cuộc bãi công toàn quốc vào ngày điều khoản được đưa vào luật: các cửa tiệm đóng cửa, các tòa án trống trơn. Vì không có hoạt động kinh doanh nào diễn ra ở Massachusetts nên không có con tem nào được mua. Cuộc tẩy chay đã thành công rực rỡ.
Những bài xã luận của Adams, các cuộc biểu tình và cuộc tẩy chay tạo nên một tiếng vang ở Anh, và có những đại biểu Quốc hội đồng cảm với những người thực dân và lên tiếng phản đối Đạo luật Tem. Cuối cùng Vua George III thấy ngán ngẩm. Tháng 4/1766, điều luật này bị bãi bỏ. Người Mỹ đã nối kết với nhau ở lần phô diễn sức mạnh đầu tiên của mình. Tuy nhiên, người Anh thấy khó chịu với thất bại này, và vào năm sau đó họ lại lén lút đưa ra một loạt thuế gián tiếp gọi là Hệ thống Townshend.
Rõ ràng họ đã đánh giá quá thấp đối thủ của mình: Adams tiến tới chiến tranh. Như đã làm với Đạo luật Tem, anh viết vô sốbài báo về bản chất các sắc thuế mà Anh đã cố che đậy, một lần nữa khuấy động sự giận dữ. Anh cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình thông qua Những người con của Tự do, lúc này có tính đe dọa và bạo động hơn bao giờ hết- trên thực tế, Anh buộc phải điều những đoàn quân tới Boston để gìn giữ hòa bình. Điều này chính là mục tiêu lâu nay của Adams; anh đã đẩy lên đỉnh điểm sự căng thẳng. Những cuộc chạm trán giữa Những người con của Tự do và các đội quân Anh đặt những người lính vào tình thế khó khăn, và cuối cùng một nhóm binh lính đã nổ súng vào đám đông, giết chết nhiều người Boston. Adams gọi đây là Vụthảm sát Boston và truyền bá những ngôn từ dữ dội về nó khắp các thuộc địa.
Với dân chúng Boston lúc này đang bừng bừng lửa giận, Adams tổ chức một cuộc tẩy chay khác: không một công dân nào của Massachusetts, ngay cả một cô gái điếm, bán bất cứthứ gì cho những binh lính Anh. Không ai cho họ thuê chỗ ởMọi người tránh xa họ trên đường phố và các quán rượu; ngay cả việc tiếp xúc bằng mắt cũng bị lẩn tránh. Tất cả những điều này có một tác động to lớn về tinh thần đối với binh lính Anh. Cảm thấy bị cô lập và phản kháng, nhiều người trong số họ bắt đầu đào ngũ hoặc tìm cách để được đưa về nước.
Thông tin về những vấn đề ở Massachusetts lan rộng đến miền bắc và miền nam. Những người thực dân ở khắp nơi bắt đầu nói về những hành động của nước Anh ở Boston, việc sử dụng bạo lực, những sắc thuế trá hình và thái độ bề trên của nó. Thế rồi, vào năm 1773, Quốc hội thông qua Đạo luật Trà ( Tea Act), trên bề mặt là một nỗ lực khá vô hại để giải quyết các vấn đề kinh tế của công ty Đông Ấn bằng cách cho nó được độc quyền bán trà ở các nước thuộc địaĐạo luật cũng ban hành một sắc thuế không đáng kể, nhưng, ngay cả như thế, nó cũng khiến cho trà rẻ hơn ở các nước thuộc địa, vì những người thuộc tầng lớp trung lưu- những nhà nhập khẩu thuộc địa- bị hất cẳng ra khỏi cuộc chơi. Tuy nhiên, Đạo luật Trà có tính chất trá ngụy trong tác động của nó và gây rối loạn; và Adams xem đó là một cơ hội để áp dụng đòn kết liễu: nó sẽ hủy diệt nhiều nhà nhập khẩu trà thuộc địa, và nó còn bao gồm một khoản thuế ngụy trang,một hình thức khác của sự đánh thuế mà không cần tuyên bố. Trong việc trao đổi để có loại trà rẻ hơn, người Anh đang chế giễu nền dân chủ. Bằng những ngôn từ dữ dội hơn bao giờ hết, Adams bắt đầu tung ra những bài báo khoét sâu vào những vết thương cũ, từ Đạo luật Tem cho tới Cuộc thảm sát Boston.
Khi những con tàu của Công ty Đông Ấn cập bến cảng Boston vào cuối năm đó, Adams hợp lực tổ chức một cuộc tẩy chay toàn quốc trà của nó. Không một công nhân bến cảng nào chịu khuân vác các kiện trà, không nhà kho nào chịu chứa chúng. Thế rồi, một đêm giữa tháng 12, sau khi Adams tới dự một cuộc họp về Đạo luật Trà, một nhóm thành viên của Những người con của Tự do, ngụy trang thành người da đỏ Mohawk, sơn vằn vện lên thân người vv…- thét lên những tiếng thét xung trận, tấn công vào những cầu tàu, leo lên các boong tàu chở trà và phá hủy những kiện trà, tháo banh những thùng trà, và trút chúng xuống cảng, tất cả được làm với sự ồn ào dữ dội.
Hành động khiêu khích này, sau đó được gọi là Tiệc Trà Boston, là một bước ngoặt. Người Anh không thể khoan thứ nó và nhanh chóng đóng cửa cảng Boston và áp dụng thiết quân luật đối với Massachusetts. Giờ đây mọi ngờ vực đã tan biến: bị Adams dồn vào chân tường, người Anh đã hành động một cách chuyên quyền như anh đã tiên đoán. Sự có mặt nặng nề của quân đội ở Massachusetts có thể biết trước là không làm dân chúng hài lòng và chỉ trong vòng vài tháng đã nổ ra bạo lực; tháng 4/1775 binh lính Anh nổ súng vào dân quân Massachusetts ở Lexington. “Vụ nổ súng được toàn thế giới nghe thấy” này trở thành tia lửa cho cuộc chiến tranh Adams đã hoạt động một cách cần mẫn để nhen lên từ hai bàn tay trắng.
Diễn dịch
Trước năm 1765, Adams làm việc với niềm tin rằng những luận điểm hợp lí đã đủ để thuyết phục những người dân về lập trường đúng đắn của anh. Nhưng sau nhiều năm thất bại, anh đã đối mặt với thực tế rằng những người thực dân đã có một mối gắn bó tình cảm sâu nặng với nước Anh, giống như con cái đối với cha mẹ. Sự tự do đối với họ ít có ý nghĩa hơn so với những điều khoản bảo vệ của nước Anh và cảm giác nằm trong một môi trường đầy đe dọa. Khi Adams nhận ra điều này, anh đã cải cách các mục tiêu của mình; thay vì thuyết giảng về sự độc lập và những ý tưởng của John Locke, anh bắt tay vào việc cắt đứt những mối ràng buộc của các nhà thực dân với nước Anh. Anh làm cho những đứa con bất tín vào cha mẹ, kẻ mà chúng nhận ra không phải là người bảo vệ mà là một ông chủ chuyên quyền bóc lột chúng vì lợi ích của mình. Mối liên hệ với nước Anh đã lơi lỏng, các luận điểm về độc lập của Adams bắt đầu có tiếng vang. Giờ đây, những nhà thực dân bắt đầu tìm thấy những cảm giác về cá tính không phải đối với mẫu quốc Anh mà là đối với chính họ.
Khi đó, với chiến dịch Đạo luật Tem, Adams khám phá ra chiến lược, cây cầu nối giữa những ý tưởng của anh và thực tế. Các bài viết của anh lúc này hướng vào việc khuấy động sự tức giận. Những cuộc biểu tình mà anh tổ chức cũng được bố trí để kích lên sự giận dữ ở các tầng lớp trung lưu và thấp hơn, những thành tố chủ yếu của cuộc cách mạng trong tương lai. Việc sử dụng có tính cải cách các cuộc tẩy chay của Adams được xác định để khiêu khích người Anh và nhử họ tiến tới hành động khinh suất. Phản ứng bạo lực của họ tương phản rõ ràng với những phương pháp tương đối hòa bình của những tên thực dân, khiến cho họ có vẻ chuyên quyền như anh đã mô tả. Adams cũng hoạt động để khuấy động sự bất đồng giữa những người Anh. Đạo luật Tem và Trà thật ra khá là vặt vãnh, nhưng Adams đã vận dụng chúng một cách đầy chiến lược để tạo nên sự phẫn nộ, biến chúng thành những cái nêm chèn vào giữa hai bên.
Thấu hiểu: Những lập luận hợp lý chui vào lỗ tai này rồi lại chui ra lỗ tai kia. Không một ai thay đổi, bạn đang giảng đạo cho một kẻ cải đạo. Trong chiến tranh, để thu hút sự chú ý của mọi người và tác động tới họ, bạn phải cách ly họ khỏi bất kì điều gì ràng buộc họ với quá khứ, và khiến cho họ cưỡng lại sự thay đổi. Bạn phải nhận ra rằng những mối dây này nói chung không mang tính chất lý trí mà mang tính cảm xúc. Bằng cách thu hút các cảm xúc của mọi người, bạn có thể làm cho các mục tiêu của bạn nhìn vào quá khứ dưới một ánh sáng mới mẻ, nhưlà một cái gì đó có tính chất độc đoán, đáng chán, xấu xa và vô đạo đức. Lúc bấy giờ bạn đã có chỗ trống để rót vào những ý tưởng mới, làm chuyển biến tầm nhìn của mọi người, giúp họ phản ứng với một nhận thức mới về lợi ích bản thân, và gieo những hạt mầm cho một lập trường mới, một ràng buộc mới. Để làm cho mọi người đi theo bạn, hay tách họ ra khỏi quá khứ của họ. Khi bạn phóng to các mục tiêu của mình lên, hãy tìm xem điều gì đã nối kết họ với quá khứ, nguồn cội của sự cưỡng kháng lại cái mới của họ.
Một mối nối là phần yếu nhất trong bất kì cấu trúc nào. Hãy phá vỡ nó và bạn đã chia cắt mọi người về mặt nội tại, khiến cho họ dễ chịu tác động của sự đề xuất và thay đổi. Chia cắt tâm trí họ để chinh phục họ.
Hãy làm cho kẻ thù tin rằng không có sự hỗ trợ…cắt đứt, tấn công bên sườn, vu hồi, theo hàng ngàn cách để làm cho quân binh của anh ta tin rằng họ đã bị cô lập. Hãy cô lập theo cung cách đó các phân đội, tiểu đoàn, lữ đoàn và sư đoàn của anh ta; và chiến thắng thuộc về bạn.Đại tá Ardant du picq (1821-1870)CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN
Hàng ngàn năm trước, những tổ tiên nguyên thủy của chúng ta nghiêng theo những cảm giác về sự khiếm khuyết lớn lao và khả năng dễ bị tổn thương. Để tồn tại trong môi trường thù địch của thế giới nguyên sơ, các loài thú có tốc độ, răng nanh, móngvuốt và có bộ lông để chống lại mùa đông lạnh lẽo cùng những lợi thế khác về sức mạnh và khả năng tự vệ. Loài người không có thứ nào trong những thứ này; và ắt phải cảm thấy bị phơi trần và lẻ loi một cách khủng khiếp. Cách duy nhất để bù đắp cho khiếm khuyết đó là hình thành những nhóm. Các nhóm hay bộ lạc tạo nên một khả năng tự vệ chống lại những con thú săn mồi và hiệu quả cao hơn trong săn bắn. Trong nhóm có đủ người để theo dõi sau lưng bạn. Nhóm càng lớn, nó càng có khả năng cho phép các thành viên cải tiến phát minh vĩ đại của loài người- sự phân công lao động- và càng có nhiều cá thể khác nhau trong nhóm thoát khỏi những nhu cầu tồn tại trước mắt, họ càng có nhiều thời gian và năng lượng để cống hiến cho những công việc cao cấp hơn. Những vai trò khác nhau này có tính chất đồng hỗ trợ và củng cố, và kết quả là một mạng lưới rộng lớn trong sức mạnh của loài người.
Qua nhiều thế kỉ các nhóm trở nên lớn hơn và phức tạp hơn. Bằng cách học cách sống trong các thị trấn và cụm dân cư, người ta phát hiện ra rằng họ có thể thoát khỏi cảm giác về sự nguy hiểm và nhu cầu sắp tới. Việc sống với những người khác cũng đem lại nhiều khả năng bảo vệ về tâm lý tinh tế hơn. Đến lúc nào đó, con người bắt đầu quên đi nỗi sợ hãi đã khiến họ tạo thành những bộ lạc vào thủa ban đầu. Nhưng trong một loại nhóm- quân đội- nỗi sợ nguyên sơ đó vẫn còn mạnh mẽ như thường.
Kiểu hình chuẩn mực của việc tiến hành chiến tranh cổ đại là đánh nhau xáp lá cà, một tấm kịch đáng sợ trong đó những cá thể lúc nào cũng phơi người ra trước cái chết đến từ mọi phía. Các viên chỉ huy quân đội hiểu rất sớm cách thành lập những đội hình cố kết và chặt chẽ. Tin chắc rằng đồng đội ở hai bên của mình sẽ không rút lui và bỏ mình lại, một người lính có thể chiến đấu với kẻ thù trước mặt với tinh thần và lòng tự tin cao hơn. Người La Mã đã mở rộng chiến lược này bằng cách đặt những chiến binh trẻ khỏe nhất ở hàng quân tiên phong,và những người còn lại khác ở giữa. Điều này có nghĩa là những chiến binh yếu kém nhất- những người có khuynh hướng sợ hãi nhất- được vây quanh bằng những người dũng cảm và vững vàng hơn, tạo cho họ một cảm giác mạnh mẽ về sự an toàn. Không có quân đội nào giao chiến với sự cố kết và lòng tự tin hơn những quân đoàn La Mã.
Trong việc nghiên cứu chiến tranh cổ đại, tác giả quân sự lớn thế kỷ 19, Đại tá Ardant du Picq đã lưu ý tới một hiện tượng đặc thù: trong một số trận đánh được ca tụng nhất( ví dụ chiến thắng của Hannibal với quân La Mã ở Cannae và cuiar Julius Caesar với Pompey ở Parsalus), sự tổn thất của mỗi bên không cân xứng một cách lạ lùng- chỉ vài trăm ở phía thắng trận, hàng ngàn hoặc hàng vạn ở phía bị tiêu diệt. Theo du Picq, điều đã xảy ra trong các trường hợp đó là thông qua chiến thuật, quân đội đạt thắng lợi cuối cùng đã gây bất ngờ cho kẻ thù và xẻ các tuyến của nó thành nhiều phần. Nhìn thấy hàng quân của mình bị phá vỡ, đánh mất cảm giác về sự vững chắc và hỗ trợ, và cảm thấy lẻ loi, những người lính kinh hoàng, vứt bỏ vũ khí và bỏ chạy- và một người lính quay lưng lại phía quân thù là một người lính dễ bị hạ sát. Hàng ngàn người đã bị giết theo cách đó. Nhưvậy, những chiến thắng vĩ đại này, chủ yếu là về mặt tâm lý cảm thấy bị tổn thương và thấy bị cô lập; ông đã khiến cho họ phản ứng thái quá và rút lui trong hỗn loạn: Những món bở dễ dàng xơi tái.
Hiện tượng này có tính phí thời gian: Người lính cảm thấy không còn sự hỗ trợ của mọi người xung quanh, bị đẩy vào một nỗi kinh hoàng nguyên sơ khủng khiếp. Anh ta sợ sẽ giáp mặt với cái chết một mình. Nhiều nhà quân sự lớn đã biến sự khiếp hãi này thành chiến lược. Thành Cát Tư hãn là một bậc thầy: sử dụng khả năng cơ động của kỵ binh Mông Cổ để cắt đứt các đường thông tin liên lạc của kẻ thù, ông sẽ cô lập những bộ phận của địch quân, làm cho họ thấy lẻ loi và không được bảo vệ. Ông cố tình khơi dậy sự kinh hoàng. Chiến lược chia rẽ và chinh phục cũng được Napoleon và các lực lượng quân du kích của Mao Trạch Đông sử dụng với hiệu quả lớn lao.
Bản chất của chúng ta không thay đổi. Lẩn khuất sâu trong ngay cả những kẻ văn minh nhất trong số chúng ta vẫn là nỗi sợ hãi cơ bản đối với sự lẻ loi, không ai hỗ trợ và đối đầu với nguy hiểm. Ngày nay mọi người sốngphân tán hơn và xã hội ít cố kết hơn trước, nhưng điều đó chỉ làm tăng thêm nhu cầu thuộc về một nhóm, có một hệ thống đồng minh mạnh mẽ của chúng ta- để cảm thấy sự hỗ trợ và được bảo vệ về mọi phía. Mất đi cảm giác này chúng ta lại quay về với cảm giác kinh hoàng nguyên sơ về khả năng dễ bị làm hại của chúng ta. Chiến lược chia rẽ và chinh phục chưa bao giờ có hiệu quả cao như ngày nay: cắt rời mọi người khỏi nhóm của họ- làm cho họ cảm thấy bị xa cách, lẻ loi và không được bảo vệ- bạn sẽ làm họ yếu đi rất nhiều. Khoảnh khắc yếu ớt đó tạo cho bạn khả năng lớn lao để dồn họ vào chân tường, hoặc bằng cách dẫn dụ hoặc bằng cách khơi gợi sự sợ hãi và rút lui.
Xuyên suốt thập niên 1960, một trong những thuộc hạ trung thành và được tin cậy nhất của Mao Trạch Đông là Lâm Bưu- bộ trưởng quốc phòng của ông. Không có ai ca tụng nhà lãnh tụ Trung Quốc này một cách thái quá hơn Lâm. Thế nhưng khoảng năm 1970, Mao đã ngờ rằng sự xu nịnh này là một thủ đoạn để che đậy những dự tính của ông ta: Lâm đang bày mưu tính kế để là người kế vị của ông. Và cái làm cho Lâm đặc biệt trở nên nguy hiểm, với tư cách là bộ trưởng quốc phòng, ông ta đã hình thành được một hệ thống vây cánh đồng minh trong quân đội.
Mao bắt tay vào hành động một cách tinh vi. Trước công chúng, ông tiếp tục ủng hộ Lâm, như thể ông cũng xem người bộ trưởng này là kế vị của mình. Điều này xoa dịu sự cảnh giác của kẻ mưu mô. Tuy nhiên, cùng lúc đó, Mao cũng tấn công và giáng cấp một số người ủng hộ quan trọng của Lâm trong quân đội. Lâm là người khá cấp tiến, thiên về cánh tả trong phần lớn các vấn đề; Mao thôi thúc ông tađề xuất một số ý tưởng cực đoan nhất về việc tái tổ chức quân đội, ngầm biết rằng những ý tưởng này nhất định sẽ bị bài bác. Sự ủng hộ Lâm ở những ngành cao cấp trong quân đội dần dần mỏng đi.
Cuối cùng Lâm nhận ra ý đồ thật sự của Mao, nhưng đã quá muộn. Ông ta đã mất đi cứ địa quyền lực của mình. Nản lòng và sợ hãi, ông ta mưu tính đến một cuộc binh biến, một hành động tuyệt vọng nằm gọn trong lòng bàn tay của Mao. Năm 1971, Lâm chết trong một tình huống tai nạn máy bay khả nghi.
Như Mao hiểu, trong những môi trường chính trị mọi người dựa vào những mối quan hệ kết nối của họ còn nhiều hơn là tài năng. Trong một thế giới như thế, một người đang xuống dốc trong sự nghiệp là kẻ ít ai muốn biết tới. Và những người cảm thấy bị cô lập thông thường sẽ phản ứng một cách thái quá và làm một điều gì đó tuyệt vọng- tất nhiên sẽ khiến cho họ càng bị cô lập hơn. Vì thế, Mao tạo ra một ấn tượng rằng Lâm đang đánh mất các quan hệ kết nối của mình. Nếu ông trực tiếp tấn công Lâm, ông hẳn đã sa lầy vào một cuộc chiến tồi tệ. Cách ly người bộ trưởng khỏi cứ địa quyền lực của ông ta, và trong tiến trình này khiến cho ông ta có vẻ như đang xuống dốc, sẽ có hiệu quả hơn rất nhiều.
Trước khi bạn tiến hành một cuộc tấn công trực diện vào kẻ thù, hãy luôn luôn khôn ngoan để trước hết là làm suy yếu họ bằng cách tạo nên một sự chia rẽ càng nhiều càng tốt trong nội bộ của họ. Một nơi tốt để đóng một con nêm là giữa giới lãnh đạovà quần chúng, dù là binh lính hay thường dân; những nhà lãnh đạo sẽ hoạt động yếu kém khi họ đánh mất sự hỗ trợ của công chúng. Vì thế, hãy làm sao để khiến cho họ có vẻ chuyên quyền hoặc khó gần. Hoặc lén lút chiếm lấy nền tảng của họ, như tổng thống phe Cộng hòa Richard Nixon đã làm vào năm 1972 bằng cách tranh thủ sự ủng hộ của những người lao động, vốn có truyền thống bầu cho phe Dân chủ: Ông đã phân rẽ cơ sở của phe Dân chủ. Hãy ghi nhớ: khi kẻ thù của bạn bắt đầu tan vỡ theo bất kỳ cách nào, sự đổ vỡ đó sẽ có khuynh hướng tìm lại xung lực. Sự chia rẽ thường dẫn tới nhiều chia rẽ hơn.
Năm 338 tr .CN., thành Rome đã đánh bại kẻ thù lớn nhất của nó vào thời đó, Liên minh Latin- một liên minh của các thành phố Ý đã được hình thành để ngăn chận sự mở rộng của Rome. Tuy nhiên, với chiến thắng đó, người La Mã đối mặt với một nan đề mới: làm cách nào để cai trị khu vực đó. Nếu họ tiêu diệt những thành viên của liên minh, họ sẽ để lại một quyền lực rỗng, và cuối con đường một kẻ thù khác sẽ nảy sinh và có thể là mối đe dọa lớn hơn. Nếu họ chỉ đơn giản nuốt trọn những thành phố của liên minh, họ sẽ làm loãng đi sức mạnh và thanh thế của thành Rome, tự tạo cho mình một khu vực quá rộng lớn để bảo vệ và kiểm soát.
Giải pháp của người La Mã đã đến với phương pháp mà sau đó họ gọi là divide et impera(chia và trị), và nó đã trở thành một chiến lược nhờ đó họ đã thống trị đế quốc của mình. Về cơ bản, họ phá vỡ liên minh nhưng không đối xử với tất cả các bộ phận của nó như nhau mà tạo nên một hệ thống trong đó một số thành phố được sáp nhập vào lãnh thổ La Mã và cư dân của chúng có đủ các đặc quyền như công dân La Mã; một số khác bị tước đi phần lớn lãnh thổ nhưng được ban cho sự độc lập gần như hoàn toàn; và số còn lại vẫn bị phá vỡ và bị thống trị nặng nề bởi những công dân La Mã. Không một thành phố đơn lẻ nào còn đủ thế lực để thách thức La Mã, và nó vẫn duy trì vị trí trung tâm. (Như tục ngữ nói, mọi con đường đều dẫn về La Mã).
Yếu tố cơ bản đối với hệ thống trên là nếu một thành phố độc lập tự chứng tỏ rằng nó khá trung thành với La Mã hoặc chiến đấu tốt vì La Mã, nó sẽ có cơ may được sáp nhập vào đế quốc. Những thành phố đơn lẻ lúc này thấy rằng họ quan tâm hơn việc có được sự ủng hộ của La Mã so với việc liên minh với nơi khác. Thành Rome đưa ra viễn cảnh về quyền lực, tài sản và sự bảo vệ, trong khi sự cách ly khỏi Rome là điều nguy hiểm. Và thế là những thành viên một thời kiêu hãnh của Liên minh Latin giờ đây cạnh tranh với nhau để có được sự chú ý của Rome.
Chia và trị là một chiến lược đầy sức mạnh để điều hành bất kì một nhóm nào. Nó dựa vào một nguyên tắc cơ bản: trong phạm vi bất kì một tổ chức nào, tự nhiên mọi người sẽ hình thành những nhóm nhỏ hơn dựa vào những lợi ích chung- một khát vọng nguyên thủy để tìm thấy sức mạnh ở số đông. Những nhóm nhỏ này tạo nên những cứ địa quyền lực mà nếu cứ để mặc hoặc không kiểm soát có thể đe dọa tới tổ chức với tư cách một tổng thể. Sự hình thành các phe phái có thể là mối đe dọa lớn nhất của một nguời lãnh đạo, vì đến lúc nào đó những phe phái này tự nhiên sẽ hoạt động để bảo vệ cho lợi ích riêng của chúng trước những lợi ích của các nhóm lớn hơn. Giải pháp là chia ra để trị. Để làm như thế trước hết bạn phải tự thiết lập bản thân như là trung tâm của quyền lực; các cá thể phải biết họ cần phải cạnh tranh để được sự công nhận của bạn. Làm cho người lãnh đạo hài lòng sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn là cố hình thành một cứ địa quyền lực trong phạm vi nhóm.
Khi Elizabeth I trở thành nữ hoàng, nước Anh là một quốc gia chia cắt. Những tàn dư của chế độ phong kiến tạo nên nhiều trung tâm thế lực tranh chấp lẫn nhau, và bản thân triều đình cũng đầy những phe cánh. Giải pháp của Elizabeth là làm cho giới quý tộc suy yếu đi bằng cách cố tình làm cho các gia tộc kình chống lẫn nhau. Đồng thời, bà chiếm lĩnh vị trí trung tâm, biến bản thân thành một biểu tượng của chính nước Anh, một trục xoay mà quanh nó mọi thứ phải quay theo. Cũng vậy, ngay trong phạm vi triều đình, bà đảm bảo được rằng không một cá nhân nào- tất nhiên ngoại trừ chính bà- có được uy thế. Khi bà thấy rằng đầu tiên là Robert Dudley, và sau đó là Bá tước xứ Essex, tự tin là người được bà yêu thích nhất, bà nhanh chóng cắt đứt với họ.
Sự cám dỗ để duy trì một kẻ ưa thích nhất là điều có thể hiểu được nhưng nguy hiểm. Tốt hơn nên thay phiên các ngôi sao của bạn, thỉnh thoảng cho rơi đài một người nào đó. Đem tới cho mọi người những quan điểm khác nhau và động viên họ đấu tranh vì nó. Bạn có thể biện minh cho điều này như là một hình thức lành mạnh của sự dân chủ, nhưng hiệu quả là trong khi những người bên dưới bạn đấu tranh để được bạn cai trị
Đạo diễn Alfred Hitchcock đối mặt với kẻ thù từ mọi phía- các tác giả, những nhà thiết kê, diễn viên, nhà sản xuất, nhà tiếp thị- bất kỳ người nào cũng hoàn toàn có khả năng đặt bản ngã của họ lên trên chất lượng của cuốn phim. Những nhà biên kịch muốn thể hiện tài năng văn chương của họ, những diễn viên muốn trông như những ngôi sao, những nhà sản xuất và nhà tiếp thị muốn cuốn phim bán chạy- cả đoàn có những lợi ích tranh chấp với nhau. Giải pháp của Hitchcock, giống như của Elizabeth, là chiếm lấy vị trí trung tâm, trong một biến thể chia và trị khác. Vai trò được khắc họa một cách cẩn thận của ông như là một nhân vật nổi tiếng của công chúng là một phần của điều này: các chiến dịch quảng cáo phim của ông luôn luôn đề cao ông với tư cách là một phát ngôn viên, và ông tìm cách xuất hiện trong phần lớn những cuốn phim của mình, trở thành một nhân vật khôi hài dễ mến có thể nhận ra ngay lập tức. Ông đặt bản thân vào giữa mọi khía cạnh của việc sản xuất, từ viết kịch bản trước lúc bấm máy cho tới việc biên tập phim khi đã quay xong. Cùng lúc đó, ông giữ cho toàn bộ các bộ phận làm phim, ngay cả nhà sản xuất, có một chút tự do; thông tin về mọi chi tiết của cuốn phim đã nằm trong đầu ông, các hình vẽ và ghi chú của ông. Không ai có thể qua mặt được ông; mọi quyết định phải thông qua ông. Ví dụ, trước khi cuốn phim được bấm máy, Hitchcock thường vạch ra một cách chi tiết trang phục của nhân vật nữ chính. Nếu nhà thiết kế trang phục muốn thay đổi bất cứ điều gì, bà ta phải thông qua ông hoặc bị bác bỏ ngay từ cấp dưới. Về bản chất, ông cũng giống như La Mã: mọi con đường đều dẫn tới Hitchcok.
Trong phạm vi nhóm của bạn, các phe phái có thể nảy sinh một cách tinh vi bởi chính thực tế rằng những chuyên gia ở từng lĩnh vực sẽ không nói cho bạn biết hết tất cả mọi thứ họ đang làm. Hãy ghi nhớ: họ chỉ nhìn thấy bức tranh nhỏ; bạn phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ việc sản xuất. Nếu bạn là người chỉ huy, bạn phải chiếm lấy vị trí trung tâm. Mọi thứ phải trôi chảy qua bạn. Nếu thông tin cần phải được chiếm giữ thì chính bạn là người phải thực hiện điều đó. Đó là chia và trị: nếu các bộ phận không thể có đủ mọi thông tin, họ sẽ phải tìm đến bạn để có nó. Như thế không phải bạn điều hành một cách vi mô mà bạn duy trì một sự kiểm soát đối với mọi điều chủ yếu và cô lập bất kì một cứ địa quyền lực cạnh tranh nào.
Xuyên suốt thập niên 1950 và 60, thiếu tướng Edward Lansdale được xem là chuyên gia hàng đầu của Mỹ trong chống chiến tranh du kích. Khi làm việc với Tổng thống Ramon Magsaysay của Philippines, ông đã vạch ra một kế hoạch đánh bại phong trào du kích Huk vào đầu thập niên 1950. Chống chiến tranh du kích đòi hỏi một bàn tay khéo léo, mang tính chính trị hơn là quân sự, và đối với Lansdale yếu tố chủ chốt để thành công là dập tắt sự tham nhũng của chính quyền và đưa mọi người tới gần chính quyền hơn thông qua nhiều chương trình phổ biến khác nhau. Điều đó chối bỏ lí do của những cuộc nổi dậy, và chúng sẽ chết vì bị cô lập. Lansdale nghĩ rằng thật điên rồ khi tưởng tượng những nhóm phiến quân cánh tả có thể bị đánh bại bằng sức mạnh; trên thực tế, sức mạnh đang bị họ lợi dụng, đem tới cho họ một lý do mà họ có thể sử dụng để kêu gọi hỗ trợ. Đối với quân du kích, bị cô lập với nhân dân là cái chết.
Kiếm sĩ vĩ đại thế kỉ 17 của Nhật Miyamoto Musashi nhiều lần giáp mặt với những nhóm chiến binh quyết tâm hạ sát ông. Cảnh tượng về một nhóm người như thể có thể làm đa số mọi người khiếp sợ, hoặc ít ra cũng phải làm cho họ phải ngần ngừ- một khuyết điểm chết người ở một võ sĩ. Một khuynh hướng khác sẽ xỉ vả một cách thô bạo, cố giết càng nhiều kẻ tấn công càng tốt ngay lập tức, nhưng có nguy cơ đánh mất sự kiểm soát tình thế. Tuy nhiên, Muashi trên hết là một chiến lược gia, và ông giải quyết những tình thế lưỡng nan này theo cách hợp lí nhất có thể được. Ông sẽ chiếm một vị trí mà các đối thủ phải đến gần ông theo một đường thẳng hoặc một góc. Khi đó ông sẽ tập trung vào việc hạ sát người đầu tiên và di động nhanh chóng tới kẻ tiếp theo. Thay vì bị áp đảo hoặc phải cố gắng vất vả, ông phá vỡ nhóm nguời đó thành từng phần. Rồi khi vừa giết được người thứ nhất ông chuyển đến vị trí để giải quyết người thứ hai và không để tâm trí bị che mờ và rối rắm bởi những đối thủ khác đang chờ ông. Hiệu quả là ông có thể duy trì sự tập trung trong khi vẫn giữ cho các đối thủ của mình mất cân bằng, vì khi ông tiến dọc xuống hàng người, họ sẽ trở thành kẻ bị đe dọa và trở nên bối rối.
Dù bạn bị vây quanh bởi nhiều vấn đề nhỏ hay một vấn đề trọng đại, hãy lấy Misashi làm kiểu mẫu cho tiến trình tinh thần của mình. Nếu bạn để cho sự phức tạp của tình thế làm bạn rối trí và trở nên do dự hoặc mắng chửi mà không suy nghĩ, bạn sẽ đánh mất sự kiểm soát tinh thần và điều đó chỉ góp thêm xung lực cho sức mạnh tiêu cực đang ập vào bạn. Luôn luôn chia nhỏ vấn đề trước mắt, trước hết tự đặt mình vào một vị trí trung tâm, rồi tiến tới xuôi theo tuyến đó, lần lượt dứt điểm từng vấn đề của bạn. Thông thường nên khôn ngoan bắt đầu với vấn đề nhỏ nhất trong khi giữ mối nguy hiểm lớn nhất ở cuối đường. Việc giải quyết xong vấn đề đó sẽ giúp bạn tạo nên xung lực, cả về vật chất và tâm lý, để bạn có thể chế ngự tất cả các vấn đề còn lại.
Điều quan trọng nhất là di động nhanh chóng để chống lại kẻ thù, như quân Athens đã làm ở Marathon. Việc chờ đợi các khó khăn đến với bạn chỉ nhân chúng lên thêm nhiều lần và tạo cho chúng một xung lực chết người.
Tư liệu: Thời xưa, những kẻ được xem là xuất chúng trong việc sử dụng quân đội có khả năng ngăn chặn sự kết nối giữa tiền quân và hậu quân của kẻ thù; sự dựa dẫm vào nhau giữa lực lượng đông và lực lượng ít; sự cứu viện lẫn nhau giữa kẻ cao quý và ti tiện; sự tin cậy nhau giữa hàng quân trên và hàng quân dưới; các cánh quân bị tách rời nhau không thể dàn trận, và khi đã dàn trận lại trở nên rối loạn.Tôn Tử ( thế kỉ 4 tr. CN.)Hình ảnh: Cái gút. Nó lớn, thắt chặt một cách vô vọng và dường như không thể nào tháo gỡ được. Cái gút đó bao gồm hàng ngàn cái gút thắt nhỏ hơn, tất cả đều đan bện chặt vào nhau. Nếu để thời gian trôi qua, cái gút sẽ chỉ tồi tệ hơn. Thay vì cố gắng gỡ nó ở phía này hoặc phía khác, hãy rút kiếm và cắt nó làm đôi với một nhát kiếm. Khi đã tự cắt rời nó sẽ tự bung ra.
HOÁN VỊ
Việc phân tán các lực lượng của bạn như một cách thức để tạo nên tính cơ động có thể là một chiến lược hữu hiệu, như Napoleon đã chứng tỏ với hệ thống các quân đoàn linh hoạt của ông. Chúng giúp ông tấn công kẻ thù một cách bất ngờ từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng để hệ thống của mình hoạt động hiệu quả, Napoleon cần có sự kết hợp chính xác giữa các bộ phận và sự kiểm soát bao quát tất cả mọi chuyển động của chúng- và mục tiêu của ông là cuối cùng sẽ tập trung tất cả các bộ phận lại để tấn công một đòn chủ yếu. Trong tiến hành chiến tranh du kích, một viên chỉ huy sẽ phân tán các lực lượng của mình để làm cho nó khó bị tấn công, nhưng điều này cũng đòi hỏi có sự kết hợp: một lực lượng du kích không thể thành công nếu các bộ phận không thể liên lạc với nhau được. Nói chung với bất kì sự phân tán nào với các lực lượng của bạn phải có tính tạm thời, có tính chiến lược và có sự kiểm soát.
Trong khi tấn công một nhóm để gieo sự chia rẽ, hãy cẩn thận rằng đòn của bạn không được mạnh quá, vì nó có thể phản tác dụng, khiến cho mọi người hợp nhất lại trong những lúc gặp nguy hiểm lớn. Đó chính là tính toán sai lầm của Hittle trong cuộc đột kích chớp nhoáng London, chiến dịch tấn công nhằm đẩy Anh ra khỏi Thế chiến II của ông. Có mục đích là làm mất tinh thần công chúng Anh, cuộc tấn công này chỉ làm cho họ thêm quyết tâm: họ sẵn sàng chịu đựng mối nguy hiểm ngắn ngủi này để đánh bại ông vào phút cuối. Tác động ngược này là một phần của sự tàn bạo của Hittle, một phần là hiện tượng một nền văn hóa sẵn sàng gánh chịu vì sự tốt đẹp lớn hơn.
Cuối cùng trong một thế giới chia rẽ sức mạnh sẽ đến từ việc giữ cho chính bạn hợp nhất và cố kết, giữ cho tâm trí bạn minh bạch và tập trung vào các mục tiêu. Cách tốt nhất để duy trì sự thống nhất dường như là việc tạo nên nhiệt tình và tinh thần cao độ, nhưng trong khi nhiệt tình là quan trọng, đến lúc nào đó nó sẽ lụi tàn, và nếu bạn cứ dựa dẫm vào nó, bạn sẽ thất bại. Phòng thủ hơn nữa để chống lại những sức mạnh phân tán là kiến thức và tư duy chiến lược. Không một quân đội hoặc một nhóm nào có thể bị chia rẽ nếu nó nhận thức được các dự tính của kẻ thù và có một phản ứng thông minhNhư Samuel Adams đã phát hiện, chiến lược là thanh kiếm và tấm khiên có thể dựa vào duy nhất của bạn.