33 Chiến Lược Của Chiến Tranh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Năm 1807, Napoleon Bonaparte của Pháp và Sa hoàng Alexander I của Nga ký một hiệp ước liên minh. Lúc bấy giờ, hai thế lực quân sự lớn của thời kì đó đã liên kết với nhau. Nhưng bản hiệp ước này không được triều đình Nga ủng hộ - ngoài nhiều điều khác, nó cho phép Napoleon gần như tự do thống trị Ba Lan, “sân trước” truyền thống của Nga. Các quý tộc Nga tìm cách tác động để sa hoàng từ bỏ nó. Ít lâu sau, Alexander bắt đầu có những hành động mà ông biết sẽ không làm cho Pháp hài lòng, cho tới tháng 8/1811, Napoleon đã chịu đựng quá đủ: đã tới lúc phải dạy Nga một bài học. Ông bắt đầu đặt kế hoạch xâm lược Nga. Chiếm được vùng lãnh thổ mênh mông phía đông này sẽ biến ông thành người cai trị đế quốc lớn nhất trong lịch sử.

Một số bộ trưởng của Napoleon cảnh báo ông về những mối nguy khi xâm lăng một đất nước to lớn như thế, nhưng vị hoàng đế nói chung cảm thấy tuyệt đối tự tin. Quân Nga vô kỷ luật, các sĩ quan của nó hay gây gổ với nhau. Hai lực lượng ở Lithuania được bố trí để ngăn chặn một cuộc xâm lấn từ phía tây, nhưng tình báo đã phát hiện rằng họ không có sự chuẩn bị. Napoleon sẽ tiến quân vào một vị trí trung tâm giữa hai lực lượng này và đánh bại họ từng phần. Ông bảo đảm cho chiến thắng bằng cách huy động một quân đội lớn hơn gấp ba lần những quân đội mà ông từng chỉ huy trước đó: 65 vạn sẽ tiến vào Nga, 45 vạn là bộ phận tấn công chủ lực, số còn lại bảo đảm an toàn cho các tuyến thông tin và tiếp tế. Với một lực lượng quân đội như thế, ông có thể thống trị những vùng đất to lớn của Nga, áp đảo kẻ thù yếu kém không chỉ bằng những mưu mẹo thông minh mà cả với hỏa lực trội hơn.

 

 

Napoleon có thể cảm thấy chắc chắn về thắng lợi, nhưng ông không phải là một kẻ khinh suất. Như thường lệ, ông nghiên cứu hoàn cảnh từ mọi góc độ. Chẳng hạn, ông biết rằng những con đường ở Nga rất tệ hại, các nguồn tiếp tế địa phương nghèo nàn, thời tiết nóng và lạnh một cách cực đoan, và những khoảng cách rộng lớn khiến cho việc bao vây kẻ thù trở nên khó khăn hơn – luôn luôn sẽ có những chỗ trống để rút lui. Ông nhớ lại cuộc xâm lăng Nga thất bại của vua Thụy Điển Charles XII năm 1709, và lường trước rằng quân Nga sẽ trở lại với chính sách tiêu thổ kháng chiến. Quân đội của ông phải tự cung ứng với mọi khả năng có thể (các khoảng cách quá lớn, để mở rộng các tuyến tiếp tế từ châu Âu), nhưng với quân số to lớn, việc này đòi hỏi hoạch định và tổ chức phải cực kỳ cẩn trọng.

Để cung cấp cho quân đội của mình, Napoleon có những kho lớn gần các biên giới của Nga chứa đầy lúa mì và gạo. Ông biết việc cung cấp cỏ khô cho 15 vạn con ngựa là điều bất khả, và thế là, suy nghĩ đón đầu, ông quyết định sẽ đợi tới tháng 6 để tấn công, khi đó cỏ trên các thảo nguyên Nga rất nhiều và tươi non. Vào phút cuối, ông biết rằng Nga có rất ít cối xay để xay hạt thành bột, vì thế ông bổ sung thêm vào danh sách đang lớn dần nhu cầu đem theo những vật liệu để xây dựng các cối xay dọc theo đường. Với những vấn đề đã được giải quyết và chiến lược đã xây dựng trong tay, Napoleon bảo với các bộ trưởng của ông rằng ông đã nhìn thấy trước thắng lợi hoàn toàn trong vòng ba tuần. Trong quá khứ những dự đoán này của Napoleon đã chính xác một cách phi phàm.

      Tháng 6/1812, đoàn quân to lớn gồm binh sĩ và các đồ tiếp tế của Napoleon băng vào Nga. Napoleon luôn trù hoạch cho sự bất ngờ, nhưng lần này những khó khăn không thể xử trí được bắt đầu chất cao hầu như ngay lập tức: mưa, những con đường tồi tệ, nhiệt độ mùa hè căng thẳng biến cuộc hành quân thành một cuộc bò lê. Trong vài ngày, hơn 1 vạn con ngựa ăn cỏ thối bị chết. Các tuyến tiếp tế không thể tới đủ nhanh cho các cánh quân phía trước, và họ buộc phải cướp phá, nhưng những nông dân Nga bất hợp tác dọc theo đường tiếp quân không chỉ từ chối bán thực phẩm với bất kỳ giá nào mà còn đốt cháy rơm rạ của họ hơn là để lọt vào tay quân Pháp. Nhiều ngựa bị chết và phải ăn rơm trên mái nhà. Hai lực lượng Nga ở Lithuania rút lui quá xa khó có thể đuổi kịp và khi bỏ đi, họ đốt cháy hết hoa màu và phá hủy mọi nhà chứa thực phẩm. Bệnh lỵ nhanh chóng lan rộng trong các cánh quân Pháp; mỗi ngày có hơn chín trăm người chết.

 

Trong nỗ lực cố đuổi kịp và tiêu diệt ít nhất là một phần kẻ thù lẩn như chạch, Napoleon buộc phải tiến quân xa hơn về phía Đông. Có những lúc ông đã đến khá gần phần nằm ở phía bắc của hai lực lượng Nga, nhưng binh lính và ngựa của ông đã kiệt sức không đi đủ nhanh để chạm trán hay bao vây họ, và lần nào họ cũng dễ dàng thoát khỏi những cái bẫy của ông. Tháng 6 chuyển sang tháng 7. Lúc này rõ rằng quân Nga đã có thể sáp nhập hai lực lượng lại ở Smolensk, cách 200 dặm về phía đông nơi mà Napoleon dự tính giao chiến với họ, và cách Moscow khoảng 280 dặm. Napoleon phải tạm dừng quân và suy nghĩ lại về kế hoạch.

  

 

Hàng ngàn lính Pháp đã không chịu nổi bệnh tật và đói khát khi chưa có một trận đánh nào xảy ra. Quân đội đã rải ra trên một tuyến đường dài 500 dặm, một phần của nó vẫn thường xuyên bị những toán kỵ binh Cô – dắc nhỏ quấy nhiễu, gieo rắc kinh hoàng với những cuộc đột kích đẫm máu. Napoleon không thể cho phép cuộc đuổi bắt kéo dài hơn được – ông sẽ tiến quân tới Smolensk và đánh trận quyết định ở đó. Smolensk là một thành phố thánh địa có ý nghĩa tình cảm lớn lao đối với nhân dân Nga. Chắc chắn là quân Nga sẽ chiến đấu để bảo vệ nó chứ không để nó bị hủy diệt. Ông biết rằng chỉ cần giao chiến với quân Nga, ông sẽ thắng.

Thế là quân Pháp tiến tới Smolensk, và tới nơi vào giữa tháng 8, lực lượng tấn công 45 vạn đã giảm xuống còn có 15 vạn và kiệt quệ vì sức nóng. Cuối cùng, như Napoleon đã dự đoán, quân Nga đã trụ lại đó, nhưng chỉ một thời gian ngắn; sau nhiều ngày đánh nhau, họ lại rút lui, để lại sau lưng một thành phố cháy trụi và đổ nát, không còn gì để ăn hay là cướp bóc. Napoleon không thể hiểu được dân Nga, với ông có vẻ như họ muốn tự sát – họ thà tiêu hủy đất nước của mình hơn là đầu hàng.

Lúc này ông phải quyết định có tiến quân tới Moscow hay không. Có vẻ như chờ đợi ở Smolensk cho tới hết mùa đông là điều khôn ngoan, nhưng điều đó sẽ cho sa hoàng có đủ thời gian để xây dựng một đội quân lớn mà Napoleon khó lòng giải quyết với những lực lượng kiệt quệ của ông. Vị hoàng đế Pháp cảm thấy chắc chắn sa hoàng sẽ bảo vệ Moscow, trái tim và tâm hồn của Nga. Khi Moscow thất thủ, Aexander sẽ phải đề nghị hòa giải. Thế là Napoleon tiến các đoàn quân phờ phạc của mình xa hơn về phía đông.

 

  Cuối cùng, lúc này quân Nga đã quay lại giao chiến với Pháp. Ngày 7/9, hai quân đội chạm trán ở gần làng Borodino, cách Moscow khoảng 70 dặm. Napoleon không còn đủ lực lượng hay kỵ binh để thực hiện chiến thuật bọc sườn của ông, vì thế ông buộc phải tấn công trực diện với kẻ thù. Quân Nga chiến đấu quyết liệt, dữ dội hơn bất kỳ quân đội nào mà Napoleon từng đối mặt. Nhưng dù như thế, sau nhiều giờ chiến đấu khốc liệt, quân Nga lại rút lui. Con đường tới Moscow đã mở ngỏ. Nhưng quân đội Nga vẫn còn nguyên vẹn, còn các lực lượng của Napoleon đã chịu những tổn thất nặng nề. 

Bảy ngày sau, quân đội của Napoleon, giờ giảm còn có 10 vạn quân, lê bước vào Moscow không có người bảo vệ. Một viên thống chế Pháp viết thư cho vợ rằng “niềm hân hoan của hoàng đế tràn đầy”. Ông nghĩ, “quân Nga sẽ đề nghị hòa giải, và ta sẽ thay đổi bộ mặt thế giới.” Nhiều năm trước, ông đã tiến quân vào Vienna và Berlin, đã được những quan chức đón tiếp ông như một vị anh hùng chinh phục, nộp cho ông những thứ chủ chốt của các thành phố đó. Nhưng Moscow trống rỗng: không cư dân, không thực phẩm. Một ngọn lửa khủng khiếp bùng lên ngay lập tức và kéo dài năm ngày; tất cả máy bơm nước của thành phố đã bị tháo đi – một sự phá hoại tinh vi để biến Moscow thành nơi không thể nào trú ngụ.

 

Napoleon gửi nhiều thư cho sa hoàng, đưa ra những điều khoản hòa giải khoan dung. Lúc đầu người Nga có vẻ như sẵn lòng đàm phán, nhưng nhiều tuần trôi qua, và cuối cùng hóa ra họ kéo dài đối thoại là để có thêm thời gian xây dựng quân đội – và để cho mùa đông tới gần hơn.

 

Napoleon không thể đánh liều ở lại Moscow thêm nữa; chẳng bao lâu quân Nga có thể bao vây lực lượng lúc này đã suy nhược của ông. Ngày 19/10, ông đưa số quân còn lại ra khỏi thủ đô nước Nga. Mục tiêu của ông là tới Smolensk càng nhanh càng tốt. Lúc này những nhóm quân Cô – dắc lại đã hình thành những sư đoàn lớn quấy rối ông trên đường đông tiến – những lực lượng du kích quân khoảng 500 người – và mỗi ngày họ lại hạ sát nhiều binh lính Pháp hơn. Hành quân trong nỗi lo sợ thường xuyên, lính của Napoleon hiếm khi ngủ được. Hàng ngàn người không chịu nổi sự mệt nhọc và đói khát. Napoleon buộc phải dẫn họ qua những cánh đồng Borodino đầy ác mộng, vẫn còn ngổn ngang thi hài quân Pháp, nhiều xác đã bị sói ăn mất nửa thân người. Tuyết bắt đầu rơi – mùa đông nước Nga đã tới. Những con ngựa chết vì lạnh, và từng người cuối cùng phải lê chân đi bộ qua mặt tuyết. Còn chưa tới 40.000 người tới được Smolensk.

 

Cái lạnh ngày càng tệ hơn. Không còn thời gian để nấn ná ở Smolensk. Thông qua một vài mưu mẹo sâu sắc, Napoleon đã xoay xở đưa được các cánh quân qua sông Berezina, cho phép họ có một tuyến rút lui rõ ràng về phía tây. Thế rồi, vào đầu tháng 12, nghe thấy có một cuộc đột kích chớp nhoáng ở quê hương, ông để lại các cánh quân ở phía sau và tiến về Paris. Trong số 45 vạn người trong lực lượng chủ công, chỉ còn khoảng 25.000 người quay lại. Napoleon đã trốn thoát một cách thần kỳ để giao tranh nhiều cuộc chiến nữa, nhưng ông không bao giờ bù đắp được những tổn thất về nhân lực và ngựa. Nước Nga thực sự là mồ chôn của ông.

Diễn dịch

 

Trước khi Napoleon xâm lược Nga, Sa hoàng Alexander I đã gặp ông nhiều lần và đã khá hiểu về ông. Vị hoàng đế này, Alexander thấy, là một người hung hăng, yêu thích mọi dạng chiến đấu, ngay cả khi thế yếu nghiêng về phía ông. Ông cần chiến trận như một cơ hội để sử dụng tài năng. Bằng cách khước từ giao chiến với ông, Alexander có thể làm ông rối trí và dẫn dụ ông vào một chốn hư không: những vùng đất mênh mông nhưng không có thực phẩm để cướp bóc, những thành phố trống rỗng không có gì để tước đoạt, những cuộc đàm phán rỗng, thời gian rỗng trong đó không có sự cố gì xảy ra, và cuối cùng là cái chết của mùa đông. Thời tiết khắc nghiệt của Nga đã biến thành lò sát sinh đối với thiên tài tổ chức của Napoleon. Và như mọi chuyện diễn ra, chiến lược của Alexander đã đạt hiệu quả hoàn hảo. Napoleon không thể giao chiến với một kẻ thù đã đi guốc trong bụng của ông: một vài dặm nữa về phía đông, một trận đánh ra trò, và ông sẽ dạy cho kẻ thù hèn nhát này một bài học. Các cảm xúc của ông – cáu kỉnh, giận dữ, bối rối – đã chế ngự khả năng chiến lược của ông. Ví dụ, làm sao ông có thể tin rằng việc thất thủ Moscow sẽ buột sa hoàng phải đầu hàng? Quân đội của Alexander vẫn còn nguyên vẹn, quân Pháp đã suy yếu kinh khủng, và mùa đông sắp đến. Đầu óc Napoleon đã không chịu nổi sự thu hút đầy sức mạnh của hư không đến mức ông đã tiến vào, và điều đó đã đưa ông đi lạc lối quá xa.

 

Chiến lược của Alexander còn tàn phá cả binh sĩ Pháp, những người nổi tiếng về tính kỷ luật và tinh thần chiến đấu siêu hạng. Một người lính có thể chịu đựng gần như mọi thứ ngoại trừ việc chờ đợi một trận đánh không bao giờ đến và một sự căng thẳng không bao giờ giãn xả được. Thay vì chiến trận, quân Pháp chịu những cuộc đột kích và đánh lén vô tận như từ trên trời rơi xuống, một mối đe dọa liên tiếp dần dần tạo nên lòng sợ hãi. Trong khi hàng ngàn binh sĩ ngã xuống vì bệnh tật, nhiều người hơn thế đã đánh mất ý chí chiến đấu.

 

Tự thân bản chất con người không thể chịu đựng bất kỳ loại hư vô trống rỗng nào. Chúng ta ghét sự im lặng, những chuỗi dài không hành động, sự cô quạnh. (Có lẽ nỗi sợ này liên quan tới nỗi sợ của chúng ta đối với sự trống rỗng hư vô cuối cùng, cái chết của chính mình). Chúng ta phải phủ đầy, chiếm lĩnh những khoảng trống, bằng cách không cho mọi người thứ gì để tấn công, càng hư ảo càng tốt, bạn đã lợi dụng được yếu điểm này. Tức điên lên vì sự thiếu vắng không chỉ một trận đấu mà bất kỳ loại tương tác nào, mọi người có xu hướng điên cuồng đuổi theo bạn, đánh mất mọi năng lực tư duy chiến lược. Đó là khía cạnh khó nắm bắt, bất kể lực lượng của nó mạnh yếu thế nào, nắm quyền kiểm soát động lực.

Kẻ thù càng lớn, chiến lược này càng hữu hiệu: đấu tranh để tới gần bạn, đối thủ to lớn đưa ra những mục tiêu cho bạn tấn công. Để tạo ra sự rối loạn tâm lý tối đa, bạn phải làm sao cho các cuộc tấn công của mình tuy nhỏ nhưng liên tục không ngừng, duy trì sự giận dữ và rối loạn của kẻ thù ở một độ sôi thường trực. Làm cho sự trống rỗng của bạn trở nên hoàn hảo: những cuộc đàm phán rỗng, những cuộc trò chuyện chẳng đi tới đâu, thời gian trôi qua mà không hề có chiến thắng hay thất bại. Trong một thế giới ngày càng tăng nhịp bước và hành động. Chiến lược này có hiệu quả làm suy nhược thần kinh của mọi người. Càng ít khả năng tấn công, thất bại của họ càng nặng nề.

      Đa số các cuộc chiến tranh đều là những cuộc chiến về tiếp xúc, cả hai lực lượng cố tiếp xúc nhau… Cuộc chiến tranh Ả Rập là một cuộc chiến tách rời: kềm giữ kẻ thù bằng sự đe dọa im lặng của miền sa mạc hoang vắng mênh mông, không lộ diện cho tới lúc tấn công… Từ lý thuyết này cuối cùng đã phát triển một tập quán vô thức về việc không bao giờ giao chiến với kẻ thù. Điều này hòa hợp với việc không bao giờ đưa ra cho kẻ thù một mục tiêu.
TELawrence, Bảy cột trụ của minh triết (1926)

 

 

 

CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN

Qua nhiều thế kỷ chiến tranh có tổ chức – trong mọi biến thể vô hạn của nó, từ cổ sơ tới hiện đại, từ châu Á tới phương Tây – đã luôn có xu hướng đi theo một lô gích nhất định, đã phổ quát đến mức gần như cố kết với tiến trình. Lô gích đó là: Một viên chỉ huy quyết định tiến hành chiến tranh và xây dựng một quân đội cho mục đích đó. Mục tiêu của quân đội này là gặp và đánh bại kẻ thù trong một trận chiến quyết định, buộc nó phải đầu hàng và chấp nhận những điều khoản hòa bình có lợi cho mình. Nhà chiến lược chỉ huy chiến dịch phải xử lý một lãnh địa đặc thù, một vũ đài chiến tranh. Lãnh địa này thông thường tương đối hạn chế; dàn trận trong những không gian lớn sẽ làm phức tạp thêm khả năng đưa cuộc chiến đến kết thúc. Khi đó, hoạt động trong vũ đài chiến tranh này, chiến lược gia cố đưa quân đội của mình đến trận đánh quyết định theo một cách thức làm kẻ thù bất ngờ hay đặt nó vào thế bất lợi – nó bị dồn vào góc kẹt, hay bị tấn công ở cả phía trước lẫn phía sau, hay phải đánh lên đồi. Để duy trì các lực lượng của mình đủ mạnh cho một đòn chí tử, ông ta tập trung họ lại chứ không phân tán họ. Khi trận đánh bắt đầu, tự nhiên quân đội sẽ tạo thành một phía sườn và hậu quân mà nó phải bảo vệ chống lại sự bao vây, cũng như những tuyến thông tin và tiếp tế. Có thể sẽ phải giao tranh nhiều trận để kết thúc cuộc chiến, vì mỗi bên đều hoạt động để chiếm lấy những vị trí then chốt đem tới cho nó quyền kiểm soát vũ đài, nhưng các nhà chỉ huy quân sự phải kết thúc nó càng nhanh càng tốt. Cuộc chiến càng kéo dài, các tiềm lực quân đội càng bị dàn trải tới một điểm tan vỡ, nơi khả năng chiến đấu của nó sụp đổ. Tinh thần của binh lính cũng suy sụp theo thời gian.

Tuy nhiên, như với bất kỳ hoạt động nào của con người, khía cạnh tích cực, theo trình tự này sản sinh ra một khía cạnh tiêu cực, nằm khuất trong bóng tối chứa đựng một hình thái sức mạnh và lô gích nghịch đảo của chính nó. Khía cạnh bóng tối này là chiến tranh du kích. Những nguyên lý cơ bản của chiến tranh du kích đã bắt nguồn cách đây mấy ngàn năm, khi những quốc gia nhỏ bé thấy mình bị các lân bang hùng mạnh hơn xâm lấn; để sống còn, quân đội của họ buộc phải chạy trốn quân xâm lược, vì bất kỳ cuộc giao tranh trực tiếp nào cũng có thể tiêu diệt họ. Chẳng bao lâu trở nên rõ ràng rằng càng bỏ chạy và tránh né đánh nhau, họ càng phá hoại các chiến lược của kẻ thù và làm nó rối trí do không tuân theo lô gích giao chiến thông thường. Bước kế tiếp là đẩy điều này xa hơn: những chiến binh du kích sơ khai này học được giá trị của việc hoạt động theo những nhóm nhỏ, phân tán để chống lại một quân đội tập trung, luôn luôn di động, không bao giờ hình thành một trận tuyến trước mặt, bên sườn hay phía sau để đối phương tấn công. Kẻ thù muốn duy trì cuộc chiến ở một không gian cụ thể; vậy thì tốt hơn nên mở rộng nó trên một lãnh địa càng lớn càng tốt, xâm nhập vào vùng nông thôn, buộc kẻ thù phải phân tán để truy đuổi, để lộ nó ra cho các cuộc đột kích và phục kích. Tự nhiên kẻ thù sẽ muốn nhanh chống kết thúc cuộc chiến, vì thế cứ kéo dài nó ra, càng lâu càng tốt, biến thời gian thành một thứ vũ khí tấn công tiêu hao kẻ thù bằng xung đột chiến tranh và suy sụp tinh thần.

 

Theo cách này, trải qua hàng ngàn năm, qua nhiều lần thử và sai, nghệ thuật du kích chiến đã phát triển và được cải tiến thành hình thức hiện đại ngày nay. Việc huấn luyện và tư duy quân sự theo truyền thống xoay quanh việc tập trung cho trận đánh, dàn trận trong những khu vực giới hạn và cố tàn sát nhanh chóng. Sự nghịch đảo tiến trình chiến tranh tự nhiên này của du kích chiến đã khiến cho một quân đội chính qui không thể phản công được. Trong vùng bóng tối của chiến tranh nghịch đảo, nơi không một nguyên tắc thông thường nào được áp dụng, quân đội chính qui trở nên lúng túng. Nếu được thực hiện đúng, du kích chiến hoàn toàn bất khả chiến bại.

 

Từ “du kích” [guerrilla] – “chiến tranh nhỏ” trong tiếng Tây Ban Nha – được đặt ra để chỉ cuộc chiến tranh Bán đảo năm 1808- 14, khởi đầu khi Napoleon xâm lược Tây Ban Nha. Hòa lẫn vào các vùng núi non và những địa hình không thể cư trú, quân Tây Ban Nha đã hành hạ quân Pháp, khiến nó không thể chiếm ưu thế từ quân số và hỏa lực hùng hậu của mình. Napoleon đã điêu đứng với một kẻ thù tấn công mà không hình thành một tuyến trước hoặc tuyến sau. Những chiến binh Cô- dắc từng phá rối ông ở Nga năm 1812 đã học được khá nhiều từ người Tây Ban Nha và đã hoàn thiện việc sử dụng du kích chiến; sự quấy rối của họ tạo ra nhiều tổn hại hơn bất kỳ thứ gì mà quân đội Nga khá kém cỏi có thể thực hiện.

 

Chiến lược này đã trở thành một công cụ đầy uy lực và phổ biến trong chiến tranh hiện đại vì nhiều lí do: Thứ nhất, bằng cách khai thác các tiến bộ công nghệ trong sản xuất vũ khí và thuốc nổ, một nhóm nhỏ du kích quân có thể gây ra sự tổn thất không thể tả. Thứ hai, chiến tranh kiểu Napoleon đã mở rộng qui mô của các đoàn quân chính qui, khiến nó dễ bị tổn hại hơn nhiều đối với các chiến thuật tấn công bỏ chạy của các lực lượng cơ động nhẹ. Cuối cùng, du kích chiến đã được thực hiện vì các mục đích chính trị, đạt hiệu quả cao. Bằng cách truyền cho dân địa phương nhiệt tình của một lý tưởng, một lãnh tụ cách mạng có thể ngấm ngầm nhân lên sức mạnh của mình: những ủng hộ viên dân sự của ông ta có thể ngầm phá hoại kẻ thù xâm lược, cung cấp các tin tình báo giá trị và biến vùng nông thôn thành một doanh trại vũ trang.

  

Sức mạnh của chiến tranh du kích chủ yếu là về mặt tâm lý. Trong chiến tranh truyền thống, mọi thứ đồng quy về việc giao tranh giữa hai quân đội trong chiến trận. Bằng cách trì hoãn vô hạn độ sự đồng quy này, nhà chiến lược du kích đã tạo ra sự thất vọng đầy căng thẳng. Sự gặm mòn tinh thần này càng kéo dài, nó càng gây suy nhược. Napoleon thua người Nga vì sức chịu đựng chiến lược của ông đã cạn; tâm trí ông thất bại trước khi quân đội ông thất bại.

 

Vì chiến lược du kích có tính cách tâm lý, nó có thể được áp dụng vô hạn vào xung đột xã hội. Trong cuộc sống cũng như trong chiến tranh, các suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta tự nhiên đồng quy vào những thời điểm tiếp xúc và gặp gỡ những người khác. Chúng ta thấy mọi người cố tình lảng tránh tiếp xúc, cực kỳ gây rối. Hoặc vì chúng ta muốn tóm lấy và ghim họ xuống hoặc vì chúng ta bực mình với họ tới mức muốn đập họ, họ hút chúng ta về phía họ, nên dù ở trường hợp nào kẻ lẩn tránh cũng kiểm soát động lực. Một số người đi xa hơn, họ tấn công chúng ta theo những cách thức không thể đoán được. Những đối thủ này có thể làm tâm trí chúng ta rối loạn, và họ càng kéo dài, chúng ta càng bị dẫn dụ đi tới chỗ chiến đấu theo các điều kiện của họ. Với những tiến bộ công nghệ giúp cho việc duy trì một sự hiện diện hư ảo dễ dàng hơn, và việc sử dụng phương tiện truyền thông như vừa là một màn ảnh vừa là một kiểu du kích chiến phụ trợ, sức mạnh và hiệu quả của kiểu chiến tranh này trong xung đột chính trị hay xã hội đã được nâng cao ghê gớm. Trong những thời điểm dầu sôi lửa bỏng về chính trị, một chiến dịch theo kiểu du kích – liên minh với một mục tiêu nào đó – có thể được dùng để phát động một cuộc chiến tranh nhân dân chống lại những tập đoàn, thế lực to lớn hơn. Trong hình thức chiến tranh nhân dân này, mọi người thích chiến đấu theo phía của những người du kích vì các thành viên có quan hệ sâu hơn trong cuộc đấu tranh, chứ không phải chỉ là những bánh xe răng trong một cổ máy khổng lồ.

 

Franklin Roosevelt là một dạng chiến binh du kích chính trị. Ông thích chiến đấu một cách lảng tránh và vạch chiến lược để không tạo ra mục tiêu nào cho phe Cộng hòa tấn công. Ông sử dụng truyền thông để làm cho mình có vẻ như có mặt khắp nơi và đang phát động một loại chiến tranh nhân dân chống lại các quan tâm về tiền bạc. Theo một phương cách du kích chiến cổ điển, ông còn tái tổ chức đảng Dân chủ để làm cho nó ít tập trung hơn, năng động và linh hoạt hơn cho các cuộc chiến địa phương. Dù vậy, đối với Roosevelt, cách tiếp cận du kích không phải là một phong cách chiến lược cố kết. Như nhiều người khác, ông cảm nhận một cách vô ý thức sức mạnh trong sự lảng tránh và đấu tranh đạt hiệu quả cao theo cách đó – nhưng để chiến lược này thật sự hiệu quả, tốt hơn nên dùng nó một cách ý thức và hợp lý. Chiến lược du kích có thể là khía cạnh ngược đảo của chiến tranh; nhưng nó có lô gích riêng của mình, lạc hậu nhưng chặt chẽ. Bạn không thể chỉ ứng biến nó một cách hỗn loạn; bạn phải suy nghĩ và hoạch định theo một cách mới mẻ - năng động, có chiều kích và trừu tượng.

 

Ban đầu, luôn luôn nên cân nhắc xem một chiến dịch du kích có thích hợp với những hoàn cảnh mà bạn đang đối mặt không. Nó đặc biệt hữu hiệu, chẳng hạn, để chống một đối thủ hung hăng nhưng thông minh – một kẻ giống như Napoleon. Những dạng này không thể chịu nổi sự thiếu tiếp xúc với một kẻ thù. Nếu không có gì để trung hòa trí thông minh, sự hung hăng sẽ biến thành thất bại của họ. Điều thú vị là chiến lược này cũng có hiệu quả trong tình yêu giống như trong chiến tranh, và ở đây, Napoleon cũng là một nạn nhân, bởi một sự cám dỗ theo phong cách du kích – bằng cách khiêu gợi để ông đuổi theo, đưa ra những vẻ quyến rũ trêu ngươi nhưng chẳng có gì để ông nắm bắt – nữ hoàng Josephine đã biến ông thành nô lệ của bà ta.

 

Chiến lược hư không này có hiệu quả tuyệt vời đối với những người quen với chiến tranh truyền thống. Việc thiếu tiếp xúc nằm ngoài kinh nghiệm của họ tới mức nó phá hoại bất kỳ sức mạnh chiến lược nào họ có. Những bộ máy chính quyền lớn thường là các mục tiêu tối hảo cho một chiến lược du kích vì cùng một lí do: nó chỉ có thể phản ứng theo cung cách chính thống nhất. Ở bất kì trường hợp nào, các chiến binh du kích cần có một đối thủ to lớn, chậm chân và có những xu hướng hay bắt nạt.

 

Khi đã quyết định một cuộc du kích chiến là thích hợp, hãy nhìn lại quân đội mà bạn sẽ sử dụng. Một quân đội lớn theo truyền thống không bao giờ phù hợp; điều quan trọng là sự linh hoạt và khả năng tấn công từ nhiều góc độ. Mô hình tổ chức là tế bào – nhóm tương đối nhỏ nam giới và nữ giới, nối kết chặt chẽ, tận tâm, năng động và trải rộng.  Những tế bào này sẽ thâm nhập vào doanh trại kẻ thù. Đây là cách mà Mao Trạch Đông tổ chức quân đội của mình trong Cách mạng Trung Hoa, nó thâm nhập vào phe Quốc dân, ngầm phá hoại các thành phố, tạo nên một ấn tượng trá ngụy và kinh khủng rằng người của ông có mặt ở mọi nơi.

 

Khi Đại tá không lực Mỹ John Boyd gia nhập Lầu năm góc vào cuối thập niên 1960 để giúp phát triển các phản lực cơ chiến đấu, ông đối mặt với một bộ máy phản kháng bị thống trị bởi những lợi ích thương mại hơn là quân sự. Lầu năm góc đang cần được cải cách, nhưng một cuộc chiến tranh bàn giấy truyền thống – một nỗ lực thuyết phục một cách trực tiếp và trực diện ban tham mưu chủ chốt về ý nghĩa quan trọng của mục tiêu – sẽ là một cú liều vô vọng. Boyd sẽ chỉ bị cô lập và đẩy ra khỏi hệ thống. Ông quyết định phát động một cuộc chiến tranh du kích. Bước đầu tiên và quan trọng của ông là tổ chức những tế bào bên trong Lầu năm góc. Những tế bào này nhỏ và khó phát hiện, khiến những kẻ chống đối không có gì để tấn công khi họ nhận ra đang nằm trong cuộc chiến. Boyd tuyển những du kích quân của mình trong số những người bất mãn với hiện trạng, nhất là những người trẻ tuổi – thanh niên luôn có ý thức chấp nhận thay đổi nhiều hơn, và họ thích kiểu chiến đấu này.

 

Với các tế bào đã nằm vào vị trí, Boyd có những tình báo viên để theo dõi những gì xảy ra trong Lầu năm góc và có thể lường trước thời điểm và nội dung của các cuộc tấn công vào ông. Ông còn có thể sử dụng các tế bào này để lan rộng tầm ảnh hưởng thông qua lời nói, thâm nhập sâu hơn nữa vào cơ quan. Điểm chính yếu là tránh lập ra những kênh tổ chức và xu hướng tập trung với tổ chức lớn. Thay vì thế, phải chọn sự năng động; để quân đội bạn nhẹ nhàng và bí mật. Bạn còn có thể đem đội quân du kích của mình tấn công vào một đội quân chính quy, giống như những chiến binh Cô-dắc hỗ trợ cho các lực lượng của Alexander. Sự hòa trộn giữa truyền thống và phi truyền thống này có thể đạt tới hiệu quả cực kỳ.

 

Khi đã tổ chức được các tế bào, bạn phải tìm cách dụ kẻ thù tấn công mình. Trong chiến tranh nói chung điều này được thực hiện bằng cách rút lui, rồi quay lại tấn công kẻ thù với những cuộc đột kích và mai phục nhỏ nhưng không thể làm ngơ. Đó là chiến lược cổ điển mà TE. Lawrence tiến hành ở Ả Rập trong Thế chiến I. Nhà phù thủy tài chính thế kỷ 19 Jay Gould, một người đã thực hiện nhiều cuộc chiến tranh du kích trong cuộc đời doanh nghiệp của mình, đã làm tương tự như thế trong các cuộc chiến hàng ngày. Mục tiêu của ông là tạo ra hỗn loạn tối đa trong các thị trường – sự hỗn loạn mà ông có thể lường trước và khai thác. Một trong các đối thủ của ông là Thiếu tướng hải quân Cornelius Vanderbilt, người mà ông đã giao tranh để giành quyền kiểm soát tuyến đường sắt Erie vào cuối thập niên 1860. Gould duy trì một sự hiện diện hư ảo đến mức khó tin; ông lén lút tạo ra ảnh hưởng, ví dụ, trong cơ quan lập pháp tiểu bang New York, để ban hành những luật làm xói mòn các lợi ích của Vanderbilt. Nổi giận, Vanderbilt đuổi theo Gould để phản công, nhưng khi đó Gould đã chuyển tới một mục tiêu bất ngờ khác. Để cướp lấy thế chủ động chiến lược của Vanderbilt, Gould quấy nhiễu ông ta, nuôi dưỡng những bản năng hiếu chiến và cạnh tranh, rồi kích động cho ông ta đi xa hơn bằng cách không đưa ra một mục tiêu nào cho sự phản công.

 

Gould còn sử dụng một cách tài tình phương tiện truyền thông. Ông có thể tung ra một bài báo đột nhiên tấn công gián tiếp vào Vanderbilt, mô tả ông ta như một tên tư bản độc quyền xấu xa; Vanderbilt phải phản ứng, nhưng điều đó chỉ công khai hóa cuộc tấn công – và trong lúc đó chẳng có chứng cứ gì về cái tên của Gould trong sự vụ. Phương tiện truyền thông trong trường hợp này hoàn hảo cả ở ý nghĩa là một màn sương che đậy các chiến thuật du kích lẫn phương tiện chuyên chở chúng. Hãy sử dụng truyền thông để kích động kẻ thù, khiến họ phân tán các năng lượng để tự vệ trong khi bạn theo dõi hoặc tìm ra một mục tiêu mới để tấn công và mai phục. Thiếu một trận đánh thật sự để đương đầu, sự thất vọng của họ sẽ tăng lên và đưa họ đến những sai lầm đắt giá.

 

Trong chiến tranh truyền thống, cách tiếp vận cho quân đội của bạn là một vấn đề chủ chốt. Trái lại, trong chiến tranh du kích, bạn sống nhờ vào kẻ thù càng nhiều càng tốt, sử dụng các tiềm lực, năng lượng và sức mạnh của họ như một loại căn cứ tiếp tế. Mao đã tiếp tế cho quân đội của ông hầu như bằng các trang thiết bị và thực phẩm cướp được, Gould thật sự đã khởi đầu bằng cách thâm nhập vào nội bộ của Vanderbilt với tư cách một thành viên tài chính, rồi sử dụng các tiềm lực dồi dào của Vanderbilt để cung ứng cho mưu đồ của mình. Việc sử dụng vật chất của kẻ thù sẽ giúp bạn chịu đựng được độ dài của bất kỳ chiến dịch du kích thành công nào. Trong bất kỳ trường hợp nào, bạn phải hoạch định để tồn tại một cách tiết kiệm, dẫn dắt cái mà bạn có đến lúc cuối cùng.

 

Trong phần lớn các xung đột, thời gian là một nguy cơ, vận hành theo quy luật Murphy: nếu điều gì đó có thể sai lệch, nó sẽ sai lệch. Tuy nhiên, nếu quân đội của bạn nhỏ và tương đối có khả năng tự túc, sẽ ít khả năng đi sai hơn, đồng bạn đang hành động để chắc rằng đối với kẻ thù, sự kéo dài của thời gian là một cơn ác mộng. Tinh thần suy sụp, các tiềm lực dàn trải, ngay cả những nhà hoạch định vĩ đại như Napoleon cũng gặp phải những rắc rối mà họ không bao giờ có thể lường trước. Hiệu quả đi theo luật số mũ: khi các rắc rối bất ngờ nảy sinh, kẻ thù bắt đầu phạm sai lầm, điều này đưa tới nhiều rắc rối hơn – và nó cứ thế diễn tiến.

 

Hãy biến thời gian thành một vũ khí tấn công trong chiến lược của bạn. Thiết lập các mưu mẹo để nhử cho kẻ thù tiếp tục, luôn cho rằng thêm một trận đánh nữa sẽ có kết quả. Bạn muốn họ suy sụp dần dần; nếu có một vài thất bại sâu sắc bất ngờ, một cái nhìn rõ ràng vào cái bẫy mà bạn đặt, họ sẽ rút ra trước khi bị tổn thất. Hãy để họ chiếm những vị trí chủ chốt đưa tới cho họ ảo tưởng về sự thành công. Họ sẽ kiên trì bám chặt vào chúng khi các cuộc đột kích và tấn công quấy rối của bạn tăng lên về số lượng. Rồi, khi họ yếu đi, hãy gia tăng nhịp điệu của các cuộc tấn công này. Để cho họ hy vọng, để cho họ nghĩ rằng việc này vẫn còn đáng giá, cho tới khi cái bẫy đã giăng xong. Khi đó mới phá tan ảo tưởng của họ.

Giống như khi bạn kéo giãn thời gian, làm trái với truyền thống, bạn cũng đã kéo giãn không gian. Bạn muốn mang trận chiến tới các khu vực ở bên ngoài vũ đài chiến tranh, để đưa vào ý kiến của công chúng và quốc tế, biến cuộc chiến tranh thành một vấn đề chính trị và có tính cách toàn cầu, đem đến cho kẻ thù một không gian quá lớn để bảo vệ. Sự ủng hộ chính trị là vô giá trị đối với một chiến dịch du kích bị lép vế; trận chiến càng bị kéo dài, kẻ thù càng có vẻ bất công và bị cô lập về chính trị. Luôn cố gắn kết chiến dịch du kích của bạn với một mục tiêu mà bạn có thể bảo vệ như là một chính nghĩa xứng đáng.

Bạn sẽ thắng cuộc chiến tranh du kích theo một hoặc hai cách. Lộ trình thứ nhất là gia tăng mức độ tấn công khi kẻ thù suy sụp, rồi kết thúc, như người Nga kết thúc Napoleon. Phương pháp thứ hai là biến sự kiệt quệ hoàn toàn thành lợi thế: bạn chỉ cần làm cho kẻ thù bỏ cuộc, vì cuộc chiến không còn đáng để làm cho trầm trọng thêm. Cách thứ hai là cách tốt hơn. Nó giảm cho bạn phí tổn về tiềm lực, và trông có vẻ tốt đẹp hơn: kẻ thù đã tự buông gươm. Nhưng ngay cả một cuộc chiến tranh du kích cũng không thể kéo dài mãi được; ở một thời điểm nhất định nó bắt đầu chống lại chính bạn. Nếu việc kết thúc bị kéo quá dài, bạn phải tiếp tục tấn công và kết thúc kẻ thù. Trong chiến tranh Việt Nam, miền Bắc đã kéo cuộc chiến tới một điểm cũng gây ra cho chính họ quá nhiều tổn thất. Đó là lý do họ phải tiến hành cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết năm 1968 – để đẩy mạnh việc làm suy yếu nỗ lực chiến tranh của Mỹ.

 

Bản chất của chiến tranh du kích là sự linh động. Kẻ thù sẽ luôn cố điều chỉnh theo điều mà bạn đang làm, cố tìm ra bàn chân của nó trong địa hình xa lạ này. Bạn phải chuẩn bị để thay đổi và vận dụng bất kỳ thứ gì trái với kỳ vọng: điều này có nghĩa là thỉnh thoảng cũng chiến đấu theo cung cách truyền thống, tập trung quân đội của bạn lại để tấn công vào nơi này nơi khác, rồi lại tản ra. Mục tiêu của bạn là sự xa lạ và hỗn loạn tối đa. Hãy nhớ: đây là cuộc chiến tranh tâm lý. Cấp độ chiến lược cao nhất là bạn không đưa ra thứ gì để kẻ thù nắm cả, không có gì hữu hình để tấn công. Đầu óc kẻ thù sẽ phải bám vào không khí và sẽ phải sụp đổ trước tiên.

 

Tư liệu: Thứ gì có hình thể có thể bị khắc phục; thứ gì có hình thể có thể bị tấn công. Đó là lý do vì sao các thánh nhân che giấu hình dạng của họ trong cõi hư vô và để tâm trí họ bay bổng trong cõi chân không.
      Hoài Nam Tử (thế kỷ 2 tr. CN.)
Hình ảnh: Con muỗi. Đa số những con vật đều để lộ ra mặt, lưng hay hai bên sườn có thể bị tấn công hay bị đe dọa. Tuy vậy, những con muỗi chẳng đem lại gì cho bạn ngoài tiếng vo ve khó chịu, từ mọi phía và mọi góc. Đồng thời, da thịt bạn tạo cho chúng vô số mục tiêu. Khi đã bị đốt khá đủ, bạn nhận ra rằng cách duy nhất là thôi chống đỡ và bỏ đi càng xa càng tốt.

 

 

HOÁN VỊ

 

      Một chiến lược du kích cực kỳ khó đối phó, vì thế mà nó vô cùng hữu hiệu. Nếu bạn nhận ra mình đang chiến đấu với những du kích quân và vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống để giao tranh với họ, bạn sẽ nằm trong lòng bàn tay họ. Cách phản công có hiệu quả duy nhất là xoay ngược lại sự hoán vị của quân du kích, trung hòa các lợi thế của họ. Bạn phải khước từ không cung cấp cho họ sự tự do về thời gian và không gian mà họ cần có để hoạt động. Bạn phải hành động để cô lập họ - về mặt tâm lý, chính trị và tinh thần. Trên hết, bạn không bao giờ được phản ứng theo một cung cách kinh viện, bằng cách cho các lực lượng của mình nâng dần từng bước, như Mỹ đã thực hiện trong chiến tranh Việt Nam. Bạn cần một chiến thắng nhanh chóng quyết định đối với một đối thủ như thế. Nếu điều này dường như bất khả, tốt hơn nên rút ra trong khi bạn có thể hơn là sa lầy vào cuộc chiến kéo dài mà du kích quân đang cố dụ bạn bước vào.

ta đã bắt kịp cậu.” Và chẳng bao lâu, cả hai chúng tôi gõ (đánh máy chữ) liên tục không ngừng, nhanh hết mức chúng tôi có thể làm. Jones thường không chấp hành tốt các mệnh lệnh, nhưng anh ta thấy rằng mình ngày càng làm việc chăm chỉ hơn
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Robert Greene

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.