| CHIẾN DỊCH LỚN Lớn lên trong hoàng cung Macedonia, Alexander (356-322 Tr. CN.) được xem là một thanh niên khá lạ lùng. Ông thích những trò tiêu khiển trai trẻ thông thường, như ngựa và chiến tranh; từng chiến đấu bên cạnh cha ông, Vua Philip II, trong nhiều trận đánh, ông đã chứng tỏ được sự dũng cảm của mình. Nhưng ông cũng yêu thích triết học và văn học. Thầy của ông là triết gia vĩ đại Aristotle, và chịu ảnh hưởng của ông ấy, ông thích tranh luận về chính trị và khoa học, nhìn nhận thế giới một cách rất mực thản nhiên. Olympias, mẹ của ông, là một phụ nữ bí ẩn, tin vào những điều huyền hoặc. Bà đã có những viễn tượng vào ngày sinh ra Alexander rằng một ngày nào đó ông sẽ thống trị toàn thế giới được biết đến. Bà kể cho ông nghe về chúng và những câu chuyện về Achilles, người mà gia đình của bà xem là một bậc gia tiên. Alexander yêu quí mẹ của ông (trong khi đó ghét cha mình) và xem những tiên đoán của bà là điều nghiêm túc. Ngay từ rất sớm, ông đã tự xem mình là một con người nào đó cao hơn cả một vị hoàng tử. Alexander được đưa lên làm người kế vị vua Philip, và đất nước mà ông sắp thừa kế đã lớn mạnh một cách đáng kể trong thời kỳ vua cha của ông trị vì. Trong suốt nhiều năm, vua Philip đã xây dựng quân đội Macedonia thành một lực lượng đứng đầu trong toàn cõi Hy Lạp. Ông ta đã đánh bại Thebes và Athens và đã thống nhất tất cả những thành bang của Hy Lạp (ngoại trừ Sparta) vào một liên minh Hy Lạp dưới quyền lãnh đạo của mình. Ông ta là một nhà cai trị mánh khóe, đáng sợ. Thế rồi, năm 336 TrCN., một quý tộc bất bình đã ám sát ông ta. Đột nhiên thấy Macedonia có thể dễ xâm hại, Athens tuyên bố ly khai khỏi liên minh. Những thành bang khác cũng làm theo. Lúc bấy giờ, các bộ tộc ở phía bắc đe dọa sẽ xâm lược Macedonia. Hầu như chỉ trong một đêm đế quốc bé nhỏ của Philip đã tan rã. |
Khi Alexander lên ngôi, ông mới hai mươi tuổi, và nhiều người cho là ông chưa sẵn sàng. Đó là một thời điểm tồi tệ để học hỏi công việc trị vì; các tướng lĩnh và những lãnh tụ chính trị ở Macedonia muốn che chở ông dưới đôi cánh của họ. Họ khuyên ông đi chầm chậm để củng cố vị trí của ông trong quân đội lẫn ở Macedonia và rồi sẽ dần dần cải cách liên minh thông qua sức mạnh và mưu mẹo. Đó là điều mà Philip đã làm. Nhưng Alexander không nghe theo; ông có một kế hoạch khác, hay có vẻ là như vậy. Không để cho những kẻ thù bên trong và bên ngoài Macedonia có thời gian tổ chức chống lại ông, ông dẫn quân đội nam tiến và tái chinh phục Thebes trong một loạt hành binh nhẹ nhàng. Kế đến, ông tiến quân tới Athens. Sợ ông trừng phạt, họ cầu xin tha thứ và xin tái nhập liên minh. Alexander chấp nhận thỉnh cầu của họ.
| Vị hoàng tử trẻ lập dị đã chứng tỏ bản thân là một vị vua táo bạo và không thể nào lường trước – tấn công một cách táo bạo, thế nhưng lại tỏ ra thương hại Athens một cách bất ngờ. Khó mà hiểu được ông, nhưng những cuộc hành binh đầu tiên của ông với tư cách nhà vua đã khiến cho nhiều người ngưỡng mộ. Tuy nhiên, động thái tiếp theo của ông còn lạ lùng và táo bạo hơn: thay vì hoạt động để củng cố những thành quả và liên minh mong manh của mình, ông dự tính tiến hành một cuộc thánh chiến chống đế quốc Ba Tư, kẻ thù lớn nhất của Hy Lạp. Khoảng 150 năm trước đó, quân Ba Tư đã cố xâm lăng Hy Lạp. Họ gần như thành công, và việc cố gắng thêm lần nữa để chinh phục hẳn Hy Lạp vẫn còn là giấc mơ của họ. Với sự đe dọa thường trực của Ba Tư, người Hy Lạp không bao giờ được sống yên thân, và ngành thương mại hàng hải của họ bị hải quân Ba Tư câu thúc. Năm 334 TrCN., Alexander chỉ huy một đạo quân thống nhất gồm 35.000 binh lính Hy Lạp băng qua eo biển Dardanelle tiến vào vùng Tiểu Á, phần cực tây của đế quốc Ba Tư. Trong trận giao chiến đầu tiên với kẻ thù ở Granicus, quân Hy Lạp đã đánh tan tác quân Ba Tư. Các tướng lĩnh của Alexander chỉ có thể ngưỡng mộ sự táo bạo của ông: có vẻ như ông đã sẵn sàng chinh phục Ba Tư, hoàn thành lời tiên tri của mẹ ông khi trước. Ông thành công nhờ tốc độ và nắm lấy thế chủ động. Lúc này, các tướng lĩnh và binh sĩ mong ông sẽ tiến thẳng vào Ba Tư để kết liễu quân thù vốn đang có vẻ yếu ớt một cách đáng ngạc nhiên. |
Một lần nữa Alexander làm tiêu tan những kỳ vọng này, đột ngột quyết định thực hiện điều mà ông chưa bao giờ làm trước đó: dành thời gian củng cố. Điều này có vẻ khôn ngoan khi ông mới lên cầm quyền, nhưng lúc này dường như việc đó đem đến cho quân Ba Tư cái mà họ cần: thời gian để phục hồi và củng cố. Thế là Alexander dẫn quân không phải về hướng tây mà là hướng nam, xuống miền duyên hải Tiếu Á, giải phóng những thị trấn địa phương khỏi sự cai trị của Ba Tư. Kế tiếp, ông hành quân theo đường zích zắc về hướng tây rồi lại quay về nam, băng qua Phoenicia và tiến vào Ai Cập, nhanh chóng đánh bại những lực lượng đồn trú yếu ớt ở đó. Người Ai Cập ghét những nhà cầm quyền Ba Tư và chào đón Alexander như là kẻ giải phóng cho họ. Lúc này Alexander có thể sử dụng những kho ngũ cốc mênh mông của Ai Cập để nuôi quân Hy Lạp và giúp cho nền kinh tế Hy Lạp vững chắc, trong khi tước khỏi Ba Tư những nguồn tài nguyên quý giá.
Khi quân Hy Lạp tiến xa khỏi quê hương hơn, hải quân Ba Tư – có thể đổ bộ một lực lượng ở bất kỳ nơi nào trong vùng Địa Trung Hải để tấn công họ từ phía sau hoặc hai bên sườn – là một mối đe dọa đáng ngại. Trước khi Alexander sắp xếp cuộc viễn chinh, nhiều người đã khuyên ông xây dựng hải quân Hy Lạp và chiến đấu với quân Ba Tư trên biển cũng như trên đất liền. Alexander đã làm ngơ. Thay vì thế, ông băng qua Tiểu Á và tiến dọc theo miền duyên hải của Phoenicia, chiếm đóng những hải cảng chủ chốt của Ba Tư, khiến hải quân của họ trở nên vô dụng.
Như vậy, những chiến thắng nhỏ này có một mục đích chiến lược lớn lao hơn. Nhưng ngay cả như vậy, chúng chưa có nghĩa là Hy Lạp có thể đánh bại Ba Tư trong chiến trận – và dường như Alexander làm cho chiến thắng này trở nên khó khăn hơn. Darius, vua Ba Tư, đang tập trung các lực lượng của ông ta ở đông ngạn sông Tigris; ông có quân số đông, chọn được những vị trí tốt và có thể chờ đợi một cách thoải mái cho đến khi Alexander vượt sông. Chẳng lẽ Alexander đã đánh mất sở thích chiến đấu của mình? Chẳng lẽ văn hóa Ba Tư và Ai Cập đã làm cho ông ta mềm yếu? Có vẻ là như thế: ông bắt đầu mặc trang phục và làm theo các tập quán của Ba Tư. Thậm chí người ta còn trông thấy ông thờ phụng những thần linh của người Ba Tư.
Khi quân Ba Tư rút lui về bờ đông sông Tigris, những khu vực rộng lớn của đế quốc Ba Tư đã lọt vào tay của Hy Lạp. Lúc này Alexander dành nhiều thời gian không phải cho chiến tranh mà cho chính trị, cố tìm xem cách nào tốt nhất để cai trị những khu vực này. Ông quyết định xây dựng trên hệ thống của người Ba Tư đã có sẵn, giữ nguyên những chức vụ trong bộ máy cầm quyền, thu cống nạp giống như Darius đã làm. Ông chỉ thay đổi những phương diện khắc nghiệt vốn không được người dân ưa thích từ nhà cầm quyền Ba Tư. Tin đồn về sự quảng đại và cao thượng của ông nhanh chóng lan rộng tới những đối tượng mới. Thị trấn nối tiếp thị trấn đầu hàng quân Hy Lạp mà không hề chống cự, họ còn vui mừng được trở thành một bộ phận của đế quốc đang phát triển của Alexander, rộng lớn hơn Hy Lạp và Ba Tư. Ông là một nhân tố hợp nhất, vị thần linh giám hộ nhân từ.
Cuối cùng, năm 331 Tr. CN., Alexander tiến quân tấn công lực lượng chủ yếu của Ba Tư ở Arbela. Điều mà các tướng lĩnh của ông không hiểu là, bị tước đi dụng ích của hải quân, vùng đất trù phú ở Ai Cập, nguồn cung cấp và cống vật của hầu hết các thuộc địa của nó, đế quốc Ba Tư đã sụp đổ ngay từ khi đó. Chiến thắng của Alexander ở Arbela chỉ đơn giản xác nhận về mặt quân sự điều mà ông đã đạt được nhiều tháng trước: giờ đây ông là người cai trị của đế quốc Ba Tư một thời hùng mạnh. Hoàn thành lời tiên tri của bà mẹ, ông đã kiểm soát được hầu hết thế giới được biết đến.
Diễn dịch
Những thủ thuật của Alexander Đại đế đã làm cho ban tham mưu của ông bối rối: chúng dường như không có một lô gích, một sự nhất quán nào cả. Chỉ sau đó, khi nhìn lại, người Hy Lạp mới thật sự nhận ra thành tựu tuyệt vời của ông. Lý do mà họ không hiểu ông là vì Alexander đã phát minh ra một cách tư duy và hành động rất tân kỳ: nghệ thuật của tổng chiến lược.
Trong tổng chiến lược, bạn nhìn ra bên ngoài thời điểm hiện tại, vượt khỏi những trận chiến và những quan ngại ngay trước mắt. Thay vì thế, bạn tập trung vào điều mà bạn muốn thành tựu ở cuối con đường. Kiểm soát được sự cám dỗ để đối phó với những sự kiện khi chúng xảy ra, bạn xác định từng hành động theo các mục tiêu tối hậu của bạn. Bạn suy nghĩ không phải trong phạm vi những trận đánh đơn lẻ mà là toàn chiến dịch.
Alexander có được phong cách chiến lược tân kỳ là nhờ ở mẹ ông và Aristotle. Mẹ ông đã cho ông một phần nhận thức về định mệnh và một mục tiêu: thống trị toàn thế giới đã biết. Từ tuổi lên ba, ông có thể trông thấy bằng con mắt tinh thần vai trò mà ông giữ khi ông lên ba mươi tuổi. Từ Aristotle ông học được quyền năng kiểm soát các cảm xúc của mình, nhìn sự vật một cách bình thản, suy nghĩ đón đầu trước về hậu quả của các hành động.
Lần theo dấu vết những động thái ngoắt ngoéo trong các cuộc hành binh của Alexander, bạn sẽ thấy tính nhất quán trong tổng chiến lược của chúng. Những hành động nhanh chóng chống lại đầu tiên là quân Thebes, rồi Ba Tư của ông, đã tác động đến tâm lý của binh lính và những người chỉ trích ông. Không có gì giúp một đội quân bình ổn lại tốt hơn là chiến trận; cuộc thập tự chinh đột ngột của ông chống lại kẻ thù đáng ghét Ba Tư là con đường hoàn hảo nhất để thống nhất người Hy Lạp. Tuy vậy, khi đã đến Ba Tư, tốc độ là một chiến thuật sai lầm. Nếu Alexander tiến tới, ông có thể nhận ra mình kiểm soát quá nhiều đất đai trong thời gian quá nhanh; việc điều hành nó có thể làm cạn kiệt những nguồn lực của ông, và trong khi đuổi theo một quyền lực rỗng không, những kẻ thù có thể nổi lên ở mọi nơi. Tốt hơn là tiến tới một cách chậm rãi, xây dựng trên cái đã có sẵn, để chiếm được lòng dân. Thay vì lãng phí tiền của để xây dựng hải quân, tốt hơn chỉ cần làm cho hải quân Ba Tư trở thành vô dụng. Để chi trả cho kiểu chiến dịch mở rộng sẽ mang tới một thành công dài hạn, trước hết phải nắm bắt những vùng đất phì nhiêu của Ai Cập. Không một hành động nào của Alexander là phí phạm. Những ai nhìn thấy các kế hoạch của ông đã đơm hoa kết quả, theo những cách mà tự thân họ không thể nào đoán trước, đều nghĩ ông là một dạng thần linh – và tất nhiên, sự kiểm soát của ông đối với những sự kiện tụt sâu vào tương lai có vẻ giống với thần linh hơn là phàm nhân.
Để trở thành một chiến lược gia tổng thể trong cuộc sống, bạn phải đi theo con đường của Alexander. Đầu tiên, phải gạn lọc đời bạn – giải mã câu đố cá nhân của chính bạn – bằng cách xác định định mệnh của bạn là đạt được điều gì, chiều hướng mà theo đó các kỹ năng và tài ba của bạn có vẻ như thôi thúc bạn. Tự mường tượng tới việc hoàn thành định mệnh này một cách chi tiết, như Aristotle đã khuyên, hãy tập làm chủ các cảm xúc của mình và tự rèn luyện để suy nghĩ sâu xa: “Hành động này sẽ đưa tôi tiến tới mục tiêu, hành động kia chẳng đưa tôi đến đâu cả.” Được dẫn dắt bởi những tiêu chuẩn đó, bạn sẽ có thể tồn tại trong đời.
| Hãy làm ngơ sự khôn ngoan theo quy ước về điều mà bạn nên hoặc không nên làm. Nó có thể đúng ở một vài khía cạnh, nhưng điều đó không có nghĩa là nó có liên quan tới các mục tiêu và định mệnh của chính bạn. Bạn cần có đủ nhẫn nại để xếp đặt trước nhiều bước – để tiến hành một chiến dịch thay vì giao tranh trong những trận đánh. Con đường đi tới mục tiêu của bạn có thể là gián tiếp, những hành động của bạn có thể kỳ lạ đối với những kẻ khác, nhưng càng như thế thì càng tốt: càng hiểu ít về bạn bao nhiêu, họ càng dễ bị lừa dối, lôi kéo và dẫn dụ. Đi theo con đường này, bạn sẽ đạt được sự bình thản, viễn cảnh của Olympia sẽ phân biệt bạn khỏi những khả tử khác, dù đó là những kẻ mộng mơ không hề thực hiện được điều gì hay là những kẻ thực tế tầm thường chỉ đạt được những điều bé nhỏ. Cái mà tôi đặc biệt ngưỡng mộ ở Alexander không phải là các chiến dịch… mà là ý thức chính trị của ông. Ông đã thủ đắc nghệ thuật chiếm được cảm tình của mọi người. Napoleon Bonaparte (1769 – 1821) CHIẾN TRANH TỔNG LỰC Năm 1967, những nhà lãnh đạo cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam nghĩ rằng cuối cùng họ đã tạo nên một bước tiến triển. Họ đã tổ chức một loạt các cuộc hành quân để truy lùng và tiêu diệt quân Giải phóng và đã kiểm soát được nhiều vùng quê. Những chiến binh du kích này rất giỏi lảng tránh, nhưng quân Mỹ đã giáng cho họ những tổn thất nặng nề trong một vài trận đánh mà họ buộc phải giao chiến trong năm đó. Chính phủ mới ở miền Nam, được sự ủng hộ của người Mỹ, có vẻ tương đối bền vững, có thể giúp cho nhân dân Nam Việt Nam chấp nhận người Mỹ. Ở miền Bắc, những cuộc oanh tạc đã đánh tan nhiều sân bay và phá hủy nặng nề không lực tại đây. Dù nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh nổ ra ở Mỹ, các cuộc trưng cầu dân ý cho thấy phần đông dân Mỹ ủng hộ cuộc chiến tranh và tin rằng sự kết thúc cuộc chiến đã nằm trong tầm ngắm. |
Dù quân giải phóng không chiếm được ưu thế trong những trận đánh mặt đối mặt với sự hùng mạnh của hỏa lực và công nghệ Mỹ, song chiến lược này theo cách nào đó sẽ dẫn dụ họ lao vào một trận giao chiến chủ yếu. Đó sẽ là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Và vào cuối năm 1967, tin tức tình báo chỉ ra rằng lính Bắc Việt Nam sắp sửa rơi vào cái bẫy đó: chỉ huy của họ, Tướng Võ Nguyên Giáp, đang hoạch định một cuộc công kích chủ yếu chống lại tiền đồn hải quân Mỹ tại Khe Sanh. Hiển nhiên là ông muốn lặp lại thành công lớn nhất của mình, trận Điện Biên Phủ năm 1954, trong đó ông đã đánh bại quân đội Pháp, trục xuất người Pháp ra khỏi Việt Nam mãi mãi.
Khe Sanh là một tiền đồn chiến lược chủ chốt. Nó nằm cách khu vực phi quân sự phân cách miền Bắc và miền Nam Việt Nam chừng 14 dặm. Nó cũng cách biên giới Lào 6 dặm, tại vị trí nối dài của Đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng, con đường tiếp vận của miền Bắc Việt Nam cho quân giải phóng ở miền Nam. Tướng William C. Westmoreland, tổng tư lệnh quân đội Mỹ, đã sử dụng Khe Sanh để giám sát những hoạt động của kẻ thù ở hướng bắc và tây. Điện Biên Phủ cũng đã giữ vai trò tương tự đối với quân Pháp, và Tướng Giáp đã có thể cô lập và tiêu diệt nóWestmoreland sẽ không cho phép ông Giáp lặp lại kỳ tích đó. Ông xây dựng những bãi đáp được bảo vệ nghiêm ngặt xung quanh Khe Sanh, bảo đảm cho việc phục vụ tối đa những chiếc trực thăng và cho việc kiểm soát vùng trời. Ông tập trung những đạo quân mạnh từ phía nam đến khu vực Khe Sanh, để sẵn sàng khi ông cần đến. Ông cũng điều thêm 6.000 thủy quân lục chiến chi viện cho tiền đồn. Nhưng một trận tấn công lớn vào Khe Sanh không phải là điều ông không muốn: trong trận đánh mặt đối mặt, kẻ thù cuối cùng sẽ tự bộc lộ bản thân để bị thất bại trầm trọng.
Trong vài tuần đầu năm 1968, mọi cặp mắt đều tập trung vào Khe Sanh. Nhà Trắng và giới truyền thông Mỹ chắc chắn rằng trận đánh mang tính quyết định của cuộc chiến tranh sắp sửa bắt đầu. Cuối cùng, vào rạng sáng ngày 12/1/1968, quân đội chủ lực của miền Bắc Việt Nam tiến hành một cuộc tấn công dữ dội. Khi cả hai phía đều vào cuộc, trận đánh trở thành một cuộc vây hãm.
Chẳng bao lâu sau khi cuộc giao chiến bắt đầu, người Việt chào đón Tết Mậu Thân. Đó là một thời kỳ vui chơi chè chén, và trong thời chiến, nó cũng là một thời điểm truyền thống để tuyên bố đình chiến. Năm đó cũng không khác; cả hai bên đồng ý tạm dừng đánh nhau trong Tết. Tuy nhiên, sáng sớm ngày 31/1, ngày mồng 1 tháng Giêng âm lịch, các báo cáo bắt đầu nhỏ giọt về từ khắp nơi ở miền Nam: gần như mọi thành phố và thị trấn chủ yếu, cũng như những căn cứ quan trọng nhất của quân Mỹ đã bị bộ đội Việt Nam tấn công. Một viên tướng, khi theo dõi sa bàn các cuộc tấn công đã nói nó “giống như một máy bắn đạn, sáng lên với từng điểm tấn công.”
Những bộ phận ở Sài Gòn cũng bị tàn phá. Một số bộ đội Việt Nam đã mở đường xuyên quan tường rào của Đại sứ quán Mỹ, biểu tượng của sự hiện diện của Mỹ ở Việt Nam. Thủy quân lục chiến Mỹ đoạt lại quyền kiểm soát Đại sứ quán trong một trận đánh đẫm máu, được phát sóng rộng rãi trên truyền hình Mỹ. Bộ đội Việt Nam cũng tấn công đài phát thanh của thành phố, dinh tổng thống, và hành dinh của chính Westmoreland trong căn cứ sân bay Tân Sơn Nhất. Thành phố nhanh chóng trở thành một trận đánh trên đường phố và đầy sự hỗn loạn. Ở ngoại vi Sài Gòn, các thành phố thuộc tỉnh cũng bị bao vây. Nổi bật nhất là việc bộ đội chiếm giữ Huế, cố đô của Việt Nam, một thành phố được những tín đồ Phật giáo sùng kính. Quân khởi nghĩa đã kiểm soát hầu như toàn bộ thành phố.
Trong khi đó, những cuộc tấn công vào Khe Sanh vẫn tiếp tục dồn dập. Westmoreland khó mà nói được mục tiêu chủ yếu của Bắc Việt Nam là gì: có phải những trận đánh ở phía nam chỉ đơn giản là phương tiện để thu hút các lực lượng khỏi Khe Sanh, hay là ngược lại? Trong vòng vài tuần, trên khắp các vùng ở miền Nam, quân Mỹ đã lấy lại thế thượng phong, tái chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn và bảo vệ an toàn những căn cứ không quân của họ. Những cuộc bao vây ở Huế và Khe Sanh kéo dài hơn, nhưng pháo binh và máy bay ném bom cuối cùng đã dập tan quân khởi nghĩa, cũng như san bằng mọi khu vực ở Huế.
Sau khi Cuộc Tổng tấn công đã kết thúc, Westmoreland so sánh nó với trận Bulge hồi cuối Thế chiến II. Ở đó quân Đức đã tìm cách gây kinh ngạc cho quân Đồng minh bằng cách tổ chức một cuộc tấn công táo bạo vào miền đông nước Pháp. Trong vài ngày đầu, họ đã tiến quân rất nhanh, gây hoảng loạn, nhưng khi quân Đồng minh hồi phục, họ đã đẩy lùi quân Đức – và cuối cùng mọi sự rõ ràng rằng trận đánh đó là hồi chuông báo tử, là phát súng cuối cùng của quân đội Đức. Westmoreland lập luận, với bộ đội chính qui ở Khe Sanh và quân giải phóng ở khắp miền Nam cũng như vậy: họ đã chịu những tổn thất khủng khiếp, hơn quân Mỹ gấp nhiều lần – trên thực tế, toàn bộ cơ sở hạ tầng của quân giải phóng đã bị quét sạch. Họ sẽ không bao giờ hồi phục được; trong trận chiến lâu dài cuối cùng kẻ thù đã tự bộc lộ và đã bị nện tả tơi.
Người Mỹ nghĩ rằng Tết [Mậu Thân] là một thảm họa chiến thuật cho miền Bắc. Nhưng một quan điểm khác bắt đầu nhỏ giọt sang từ quê nhà: tấn thảm kịch ở Đại sứ quán Mỹ, cuộc bao vây Huế, và các cuộc tấn công vào các căn cứ không quân đã khiến cho hàng triệu người Mỹ dán mắt vào những chiếc ti vi của họ. Cho tới lúc đó, lực lượng giải phóng chỉ hoạt động phần lớn ở cùng ngoại ô, hiếm khi được công chúng Mỹ nhìn thấy. Lúc này, lần đầu tiên, họ xuất hiện rõ ràng ở những thành phố lớn, tàn phá và hủy diệt. Người Mỹ đã được bảo rằng cuộc chiến tranh đang xuống thang và có thể chiến thắng, nhưng những hình ảnh đã nói lên điều ngược lại. Đột nhiên, mục đích của cuộc chiến có vẻ mơ hồ hơn. Làm thế nào miền Nam có thể bền vững trước một đối phương có mặt ở khắp nơi này? Làm sao quân Mỹ có thể tuyên bố một thắng lợi rõ ràng? Thật sự không có một kết thúc nào trong tầm mắt cả.
Những cuộc trưng cầu dân ý đánh dấu một bước ngoặt lớn chống lại cuộc chiến tranh. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra trên khắp nước Mỹ. Các cố vấn quân sự của Tổng thống Lyndon Johnson, từng bảo với ông rằng miền Nam đang đi vào vòng kiểm soát, lúc này thú nhận rằng họ không còn lạc quan như thế. Trong hội nghị tuyển chọn ứng cử viên của phe Dân chủ New Hampshire tháng 3 năm đó, Johnson đã choáng váng vì bị đánh bại bởi Thượng nghị sĩ Eugene MacCarthy, người đã khích động cảm xúc chống chiến tranh đang lớn dậy. Sau đó ít lâu, Johnson thông báo rằng ông sẽ không tham dự cuộc chạy đua tái cử tổng thống sắp tới và rằng ông sẽ dần dần rút các lực lượng quân đội Mỹ khỏi Việt Nam. Cuộc Tổng tấn công năm Mậu Thân thật sự là bước ngoặt trong cuộc chiến tranh giành độc lập của Việt Nam, nhưng không phải theo hướng mà Westmoreland và ban tham mưu của ông đã tiên đoán.
Diễn dịch
Đối với những chiến lược gia Mỹ, thành công của cuộc chiến tùy thuộc phần lớn vào quân sự. Bằng cách sử dụng quân đội và vũ khí siêu cường để giết càng nhiều quân giải phóng càng tốt và giành quyền kiểm soát vùng ngoại ô, họ sẽ bảo đảm được sự bền vững của chính phủ miền Nam. Khi miền Nam đã đủ mạnh, Bắc Việt Nam sẽ từ bỏ cuộc chiến. Miền Bắc nhìn cuộc chiến tranh theo cách rất khác. Do bản chất và thực tế, họ quan sát cuộc xung đột trong một phạm vi rộng lớn hơn. Họ nhìn vào hoàn cảnh chính trị ở miền Nam, nơi những cuộc truy lùng và tiêu diệt của quân Mỹ đang đẩy những người nông dân Việt Nam ra xa hơn. Đồng thời, Bắc Việt Nam đã làm mọi việc có thể làm để lấy lòng dân và đã xây dựng cho họ một đội quân hàng triệu cảm tình viên lặng lẽ. Làm thế nào miền Nam được an toàn khi quân Mỹ đã thất bại trong việc nắm giữ trái tim và tâm hồn của những nông dân Việt Nam? Bắc Việt Nam cũng nhìn vào chính trường Mỹ, nơi mà, trong năm 1968, sắp sửa có một cuộc bầu cử tổng thống. Và họ nhìn vào nền văn hóa Mỹ, nơi sự ủng hộ chiến tranh rộng nhưng không sâu. Cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến được phát hình đầu tiên trong lịch sử, nhưng những hình ảnh trên ti vi đã nói thay cho chính họ.
Cứ thế, Bắc Việt Nam tiếp tục mở rộng tầm nhìn và phân tích bối cảnh toàn cầu của cuộc chiến. Và từ nghiên cứu này họ xây nên chiến lược sáng chói nhất của mình: Cuộc Tổng tấn công. Sử dụng đội quân cảm tình nông dân ở miền Nam, họ có thể xâm nhập vào mọi miền của đất nước, lén lút đưa vào vũ khí và tiếp tế dưới lớp vỏ bọc của lễ hội Tết. Các mục tiêu họ nhắm tới không chỉ là quân sự mà cả việc phát sóng trên đài truyền hình: những cuộc tấn công ở Sài Gòn, cứ địa của phần lớn giới truyền thông Mỹ (bao gồm cả phóng viên Walter Cronkite của đài CBS lúc đó đang sang thăm Sài Gòn) rất thu hút sự chú ý; Huế và Khe Sanh cũng là những nơi đông nghẹt những nhà báo Mỹ. Họ còn tấn công vào những vị trí mang tính biểu tượng – những tòa đại sứ, các dinh thự, các căn cứ không quân – thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Trên đài truyền hình, tất cả những điều này sẽ tạo nên một ấn tượng đầy kịch tính (và giả tạo) rằng quân giải phóng có mặt ở khắp nơi trong khi các cuộc tấn công bằng bom và các chương trình bình định của Mỹ đã không đi tới đâu cả. Về mặt hiệu quả, mục tiêu của Cuộc Tổng tấn công không phải là quân đội mà là công chúng Mỹ ở trước chiếc ti vi của họ. Khi dân chúng Mỹ đã mất niềm tin – và trong một năm có bầu cử - cuộc chiến tranh sẽ tận số. Bắc Việt Nam không thắng được một trận đơn lẻ nào trên chiến trường, và thực tế họ chưa bao giờ thắng. Nhưng bằng cách mở rộng tầm nhìn ra khỏi chiến trường hướng tới chính trị và văn hóa, họ đã thắng trong cuộc chiến.
| Chúng ta luôn có xu hướng nhìn vào cái gần trước mắt chúng ta nhất, chọn con đường trực tiếp hướng tới những mục tiêu của chúng ta và cố thắng cuộc chiến tranh bằng cách thắng càng nhiều trận đánh càng tốt. Chúng ta tư duy trong phạm vi nhỏ bé, vi mô và phản ứng lại những sự kiện hiện tại – nhưng đây là một chiến lược tầm thường. Không có gì trong cuộc đời diễn ra trong sự tách rời; mọi thứ đều có quan hệ đến mọi thứ khác và có một bối cảnh rộng lớn hơn. Bối cảnh đó bao gồm những người nằm bên ngoài vòng tiếp cận của bạn mà các hành động của bạn sẽ tác động đến, công chúng ở tầm rộng hơn, và toàn thế giới;nó bao gồm chính trị, vì mỗi chọn lựa trong đời sống hiện đại có những phân nhánh chính trị; nó bao gồm văn hóa, truyền thông, cách thức mà công chúng nhìn bạn. Công việc của bạn với tư cách một chiến lược gia tổng thể là mở rộng tầm nhìn của bạn về mọi hướng – không chỉ nhìn xa hơn vào tương lai mà còn nhìn nhiều hơn vào thế giới xung quanh bạn – hơn kẻ thù của bạn. Những chiến lược của bạn sẽ trở nên quỷ quyệt và không thể nào ngăn trở được. Bạn sẽ có thể kết chặt mối liên hệ giữa các sự kiện, một trận đánh sẽ thiết lập nên trận kế tiếp, một sự kiện văn hóa phi thường sẽ tạo nên một sự kiện chính trị phi thường. Bạn sẽ mang cuộc chiến tới những đấu trường nơi mà kẻ thù của bạn không biết đến, nắm lấy họ bằng sự bất ngờ. Chỉ có tổng chiến lược mới có thể đưa tới những kết quả lớn lao. Chiến tranh là sự tiếp diễn của chính trị bằng những phương tiện khác. Carl von Clausewitz (1780 – 1831)
|
CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN
Hàng ngàn năm trước đây, loài người chúng ta đã tự nâng cao bản thân lên trên thế giới loài vật và không bao giờ quay nhìn lại. Nói một cách bóng bẩy, yếu tố cơ bản đối với sự tiến hóa này là những khả năng nhìn nhận của chúng ta: ngôn ngữ, và khả năng suy luận mà nó mang tới cho chúng ta, để cho chúng ta nhìn thấy nhiều hơn về thế giới xung quanh. Để tự bảo vệ nó khỏi một con thú săn, một con vật dựa vào các giác quan và bản năng của nó; nó không thể nhìn vòng quanh góc rừng hay tới đầu kia của khu rừng. Trái lại, loài người chúng ta có thể vẽ lại bản đồ của toàn bộ khu rừng, nghiên cứu [quy luật] và tập quán của những con vật nguy hiểm và ngay cả của tự nhiên, có được kiến thức sâu hơn, rộng hơn về môi trường xung quanh. Chúng ta có thể nhìn thấy những nguy hiểm đang đến trước khi chúng có mặt. Tầm nhìn mở rộng này có tính trừu tượng: trong lúc một con vật bị khóa chặt vào hiện tại, chúng ta có thể nhìn vào quá khứ và thoáng nhìn tới tương lai trong phạm vi lý trí chúng ta cho phép. Tầm nhìn của chúng ta ngày càng mở rộng hơn về thời gian và không gian, và chúng ta đi đến chỗ thống trị thế giới.
Tuy nhiên, ở đâu đó trên đường, chúng ta đã ngưng tiến hóa với tư cách những sinh vật có lý trí. Dù tiến bộ, luôn luôn có một phần trong chúng ta là thú vật, và phần thú đó chỉ có thể phản ứng lại cái gần trước mắt nhất trong môi trường sống của chúng ta – nó không có khả năng tư duy vượt khỏi hiện tại. Tình thế lưỡng nan vẫn còn ảnh hưởng tới chúng ta: hai chiều tính cách của chúng ta, lý trí và thú tính, thường xuyên nằm trong xung đột, khiến cho phần lớn những hành động của chúng ta trở nên rối loạn. Chúng ta suy luận và hoạch định để đạt tới một mục tiêu, nhưng trong độ nóng của hành động chúng ta trở nên cảm tính và đánh mất tầm nhìn. Chúng ta sử dụng trí thông minh và chiến lược để nắm lấy cái chúng ta muốn, nhưng chúng ta thôi không nghĩ tới việc cái chúng ta muốn có cần thiết hay không, hoặc hậu quả của việc có được nó sẽ là gì. Tầm nhìn mở rộng mà lý trí mang tới cho chúng ta thường bị che khuất bởi con thú cảm tính, hay phản ứng đối phó bên trong – phía mạnh hơn của bản chất chúng ta.
Người Hy Lạp cổ đại gần với chặng đua của loài người từ thú vật sang có lý trí hơn hẳn chúng ta ngày nay. Đối với họ, bản chất hai mặt của chúng ta đã gây nên thảm kịch, và cội nguồn của bi kịch là tầm nhìn giới hạnTrong những bị kịch cổ điển của Hy Lạp như Vua Oedipus, vai chính có thể nghĩ rằng ông biết được chân lý và biết đủ về thế giới để hành động, nhưng tầm nhìn của ông đã bị giới hạn bởi những dục vọng và cảm xúc. Ông chỉ có một tầm nhìn cục bộ về cuộc sống và về những hành động và cá tính của chính ông, vì thế ông hành động một cách khinh suất và gây ra bất hạnh cho mình. Khi cuối cùng Oedipus hiểu ra vai trò của chính mình trong toàn bộ những bất hạnh của ông, ông móc bỏ hai mắt – biểu tượng của sự giới hạn bi thảm của ông. Ông có thể nhìn ra thế giới nhưng đã không thể nhìn vào chính bản thân mình.
Tuy nhiên, người Hy Lạp cũng nhận ra một tiềm năng cao xa ưu việt hơn của con người. Ở xa bên trên quả cầu của những loài khả tử là những thần linh trên đỉnh núi Olympus, những người có tầm nhìn hoàn hảo về thế giới và cả quá khứ lẫn tương lai; và loài người có chung một vài điều gì đó với họ cũng như với loài vật – chúng ta không chỉ có một phần thú tính mà còn có một phần thần tính. Hơn nữa, những người có khả năng nhìn xa hơn người khác, kiểm soát được bản năng thú vật của mình và tư duy trước khi hành động, là những con người theo ý nghĩa sâu sắc nhất của “con người” – những người có khả năng tốt nhất để sử dụng các quyền năng lý trí đã phân biệt chúng ta với thú vật. Tương phản với sự ngu xuẩn của con người (tầm nhìn giới hạn), người Hy Lạp tưởng tượng ra một con người khôn ngoan lý tưởng. Biểu tượng của nó là Odysseus, người luôn luôn suy nghĩ trước khi hành động. Đã từng viếng thăm Hades, vùng đất của những người chết, ông đã tiếp xúc với lịch sử tổ tiên và quá khứ; và ông luôn hiếu kỳ, khao khát được hiểu biết, và có thể quan sát những hành động của con người, cả chính mình hay người khác, với một con mắt thản nhiên, cân nhắc những hậu quả lâu dài của nó. Nói cách khác, giống như các thần linh, nhưng ở một mức độ thấp hơn, ông có kỹ năng nhìn thấu tương lai. Odysseus, con người thực tế tột bậc, con người của tầm nhìn, chỉ là một nhân vật trong thiên anh hùng ca của Homer, nhưng cũng có những phiên bản lịch sử của hình tượng lý tưởng này: ví dụ, nhân vật chính trị và nhà chỉ huy quân sự Themistocles; và Alexander Đại đế, đã lên tới đỉnh cao của sự kết hợp giữa trí tuệ và hành động nhờ có Aristotle.
Con người khôn ngoan có vẻ lạnh lùng, dường như lý trí của anh ta đã hút cạn niềm vui cuộc sống. Không phải thế. Giống như những vị thần yêu thích hoan lạc trên đỉnh Olympus, anh ta có một viễn tượng, sự dửng dưng bình thản, khả năng cười lớn, điều có được nhờ tầm nhìn chân thật, khiến cho mọi thứ mà anh ta thực hiện có một phẩm chất của ánh sáng – những đặc tính này bao hàm trong cái mà Nietzsche gọi là “mẫu hình lý tưởng như Apollon”. (Chỉ những người không thể nhìn xa khỏi mũi của họ mới xem mọi thứ một cách nặng nề). Alexander, chiến lược gia vĩ đại và con người của hành động, cũng nổi tiếng vì sự chè chén vui chơi. Odysseus thích mạo hiểm; không ai giỏi hơn ông về kinh nghiệm vui thú này. Ông chỉ đơn giản có lý trí hơn, cân bằng hơn, ít bị xâm hại tới những cảm xúc và tâm trạng hơn, và ông để lại ít thảm kịch và náo động hơn trong những chuyến hải trình của mình. Sinh vật bình tĩnh, thản nhiên, có lý trí, nhìn xa trông rộng, được người Hy Lạp gọi là “Người khôn ngoan” này, là kẻ mà chúng ta sẽ gọi là “chiến lược gia tổng thể”.
Tất cả chúng ta ở một mức độ nào đó là những chiến lược gia: một cách tự nhiên, chúng muốn kiểm soát cuộc đời của chúng ta, và chúng ta xếp đặt mưu đồ để đạt được quyền lực, một cách ý thức hay vô ý thức luồn lách để đạt cái mà chúng ta muốn. Nói cách khác, chúng ta sử dụng những chiến lược, nhưng chúng có xu hướng tuyến tính và phản ứng đối phó; và thường bị đứt đoạn cũng như bị đánh bật khỏi tiến trình bởi những phản ứng cảm tính. Những chiến lược gia thông minh có thể đi xa, nhưng hầu hết ngoại trừ một vài người đều phạm sai lầm. Nếu họ thành công, họ tiếp tục đi tới và vượt quá xa; nếu họ đối mặt với những thất bại – và những thất bại là điều chắc chắn trong suốt một đời người – họ sẽ dễ dàng bị chế ngự. Điều khiến các chiến lược gia lớn trở nên nổi bật là khả năng nhìn sâu hơn cả vào bản thân lẫn những người khác, để hiểu thấu và học hỏi từ quá khứ và có một ý thức rõ ràng về tương lai, tới một mức độ mà nó có thể được đoán trước. Đơn giản là họ nhìn thấy nhiều hơn, và tầm nhìn mở rộng của họ giúp họ thực hiện những kế hoạch đôi khi khá lâu dài – lâu đến mức những người quanh họ thậm chí không nhận ra là họ đang có một hoạch định trong đầu. Họ nhằm vào những gốc rễ của một vấn đề chứ không phải là những hiện tượng của nó. Trong khi hướng tới việc trở thành một chiến lược gia tổng thể, bạn đi theo con đường của Odysseus và vươn tới điều kiện của các thần linh. Các chiến lược của bạn không thông minh hơn hay hấp dẫn hơn cho bằng chúng tồn tại ở một mặt bằng cao hơn. Bạn đã thực hiện được một bước nhảy vọt về phẩm chất.
Trong một thế giới mà mọi người ngày càng ít đi khả năng tư duy đến đầu đến đũa, có nhiều thú tính hơn bao giờ hết, việc thực hành tổng chiến lược sẽ dần dần nâng bạn lên cao hơn những người khác. Việc trở thành một tổng chiến lược gia không liên quan đến việc có nhiều năm nghiên cứu hay việc hoàn toàn thay đổi cá tính của bạn. Nó chỉ đơn giản có nghĩa là sử dụng hữu hiệu hơn cái mà bạn có – đầu óc, lý trí và tầm nhìn của bạn. Đã tiến triển với vai trò là một giải pháp cho các vấn đề của chiến tranh, tổng chiến lược là một khái niệm quận sự. Và việc kiểm nghiệm sự phát triển lịch sử của nó sẽ hé lộ yếu tố cơ bản khiến nó giúp bạn một cách hữu hiệu trong đời sống hàng ngày.
| Trong buổi đầu lịch sử chiến tranh, một kẻ cầm quyền hay một vị tướng thấu hiểu chiến lược và thuật hành binh có thể thực thi quyền lực. Ông ta có thể thắng những trận chiến, tạo nên một đế quốc, hay ít nhất bảo vệ được thành phố hay quốc gia của mình. Nhưng đã nảy sinh những vấn đề về chiến lược ở cấp độ này. Hơn hẳn bất kỳ một hành vi nào khác của con người, chiến tranh tàn phá cảm xúc, khuấy động thú tính bên trong. Khi xếp đặt chiến tranh, một vị vua sẽ dựa vào những thứ như kiến thức về địa thế và sự thấu hiểu cả về các tiềm lực của kẻ thù lẫn của chính mình; thành công của ông ta phụ thuộc vào khả năng nhìn những điều này một cách rõ ràng. Nhưng tầm nhìn này có khả năng bị che khuất. Ông ta có những cảm xúc để phản ứng lại, những dục vọng để được công nhận; ông ta không thể suy nghĩ tới các mục tiêu một cách cặn kẻ. Mong muốn chiến thắng, ông ta sẽ đánh giá quá thấp sức mạnh của kẻ thù hay đánh giá quá cao sức mạnh của mình. Khi xâm lăng Hy Lạp năm 480 Tr. CN., Xerxes của Ba Tư nghĩ rằng ông ta có một kế hoạch hợp lý đến mức hoàn hảo. Có quá nhiều thứ ông ta không quan tâm tới, và thảm họa đã theo sau. Những nhà cai trị khác thực ra đã chiến thắng chỉ để say sưa trên chiến thắng đó và không biết lúc dừng lại, khơi dậy lòng căm ghét, ngờ vực và mong muốn phục thù từ mọi người quanh họ, lên đến tột đỉnh trong chiến tranh ở nhiều mặt trận và hoàn toàn bại trận – như trong sự sụp đổ của đế quốc hiếu chiến Assyria, thủ đô Nineveh của nó vĩnh viễn bị vùi chôn dưới cát bụi. Ở những trường hợp như thế, chiến thắng trong chiến trận chỉ mang lại nguy hiểm, phơi bày kẻ thống trị ra trước những chu kỳ phá hủy của tấn công và phản công. Vào thời cổ đại, các chiến lược gia và sử gia, từ Tôn Tử cho tới Thucydides đã ý thức được khuôn mẫu tự hủy diệt này trong chiến tranh và bắt đầu tìm ra nhiều phương thức chiến đấu hợp lý hơn. Bước đầu tiên là tư duy vượt khỏi trận chiến trước mắt. Giả sử bạn chiến thắng, nó sẽ đem lại cho bạn điều gì – tốt hơn hay xấu hơn? Để giải đáp câu hỏi đó một cách lô gích, phải suy nghĩ đón đầu, tới những trận chiến thứ ba và thứ tư, có sự nối kết liên hệ với nhau trong một chuỗi mắt xích. Kết quả là khái niệm về chiến dịch, trong đó chiến lược gia đặt ra một mục tiêu thực tế và bố trí nhiều bước tiến để đạt tới đó. Những trận chiến đơn lẻ chỉ quan trọng trên con đường họ xếp đặt những trận kế tiếp cho đến hết chặng đường; một quân đội thậm chí có thể chủ tâm thua một trận đánh như là một phần kế hoạch lâu dài. Chiến thắng có ý nghĩa là chiến thắng của toàn bộ chiến dịch, và mọi thứ đều nằm dưới mục tiêu đó. Kiểu chiến lược này thể hiện một bước tiến về phẩm chất. Hãy nghĩ về môn đánh cờ, trong đó một kỳ thủ bậc thầy, thay vì chỉ tập trung vào nước đi trước mắt và chỉ nhằm đối phó lại nước cờ mà đối thủ vừa thực hiện, phải nhìn toàn bộ bàn cờ sâu hơn vào tương lai, vạch ra một chiến lược tổng thể, sử dụng nước đi của những con tốt lúc này để chuẩn bị cho nước đi của những con cờ mạnh hơn sau đó. Tư duy trong phạm vi chiến dịch đem đến cho chiến lược một chiều sâu mới. Chiến lược gia sử dụng tấm bản đồ ngày càng nhiều hơn. Chiến tranh ở cấp độ này đòi hỏi một chiến lược gia phải suy nghĩ sâu xa trong mọi chiều hướng trước khi tiến hành chiến dịch. Ông ta phải hiểu biết toàn thế giới. Kẻ thù chỉ là một phần của bức tranh; chiến lược gia cũng phải lường trước những phản ứng của các nước đồng minh và lân bang – bất kỳ một bước sai lầm nào với họ và với kế hoạch tổng thể cũng có thể phá hủy tất cả. Ông ta phải biết kẻ thù có khả năng gì theo thời gian và không đòi hỏi gì hơn thế nữa. Ông ta phải thực tế. Đầu óc của ông ta phải mở rộng để đáp ứng cho những phức tạp của công việc trước khi tung ra một đòn duy nhất. Như thế, tư duy chiến lược ở cấp độ này đem lại những lợi ích vô hạn. Một chiến thắng trên trận địa sẽ không quyến rũ người chỉ huy vào một động thái khinh suất mà sau đó có thể phá hỏng chiến dịch, và cả thất bại cũng như không làm ông ta nản chí. Khi một sự bất ngờ nào đó xảy ra – và sự bất ngờ là cái phải được dự liệu trước trong chiến tranh – giải pháp mà ông ta tiến hành để đáp ứng nó phải phù hợp với những mục tiêu xa ở chân trời. Sự hạ thấp các cảm xúc xuống bên dưới tư duy chiến lược sẽ đem lại cho ông ta khả năng kiểm soát nhiều hơn trong tiến trình của chiến dịch. Ông ta có thể duy trì được tầm nhìn xa rộng của mình trong độ nóng của chiến cuộc. Ông ta không để mình bị lôi cuốn vào khuôn mẫu đối phó và tự hủy diệt vốn đã từng tiêu diệt nhiều quân đội và nhà nước. |
Nguyên tắc về chiến dịch này chỉ tương đối gần đây mới được mệnh danh là “tổng chiến lược”, nhưng nó đã tồn tại trong nhiều hình thức khác nhau từ thời cổ đại. Có thể nhìn thấy nó một cách rõ ràng trong cuộc chinh phục Ba Tư của Alexander, trong sự kiểm soát những lãnh thổ mênh mông với những quân đội nhỏ bé của các đế quốc Byzantine và La Mã, trong việc Nữ hoàng Elizabeth I đánh bại hạm đội Tây Ban Nha, trong những chiến dịch xuất sắc của Công tước xứ Marlborough chống lại quân Hapsburgs. Ở thời hiện đại, chiến thắng của Việt Nam với trước hết là Pháp, rồi sau là Mỹ - ở trường hợp sau không hề có một chiến thắng trong trận đánh đơn lẻ chủ yếu nào – phải được xem là một sự vận dụng tài tình nghệ thuật này.
| Lịch sử quân sự cho thấy rằng yếu tố cơ bản đối với tổng chiến lược – điều phân cách nó với chiến lược đơn giản tầm thường – là phẩm chất tư duy đón trước đặc thù của nó. Những chiến lược gia tổng thể tư duy và hoạch định sâu vào tương lai trước khi bắt tay hành động. Việc hoạch định của họ cũng không chỉ đơn giản là vấn đề tích lũy kiến thức và thông tin; nó bao gồm việc nhìn vào thế giới với một con mắt tỉnh táo, tư duy trong phạm vi chiến dịch, hoạch định ra những bước gián tiếp, tinh vi dọc theo con đường mà mục đích của nó chỉ hiện lên dần dần trước mắt những kẻ khác. Kiểu hoạch định này không chỉ làm kẻ thù bị lừa phỉnh và mất phương hướng; đối với chiến lược gia, nó có những hiệu quả về tâm lý để giữ sự bình thản, ý thức về viễn cảnh, sự linh hoạt để thay đổi theo thời điểm trong khi vẫn duy trì mục tiêu tối hậu trong đầu. Cảm xúc được kiểm soát một cách dễ dàng hơn; tầm nhìn xa và rõ ràng hơn. Tổng chiến lược là chóp đỉnh của sự hợp lý. Tổng chiến lược có bốn nguyên tắc cơ bản, được rút ra từ những trường hợp lịch sử của những nhà thực hành thành công nhất nghệ thuật này. Bạn càng có khả năng kết hợp những nguyên tắc này vào kế hoạch của mình, kết quả càng khả quan. |
Tập trung vào mục tiêu lớn, vào định mệnh của bạn. Bước đầu tiên để trở thành một chiến lược gia lớn – bước làm cho mọi thứ khác sẽ rơi vào đúng quỹ đạo – là bắt đầu với một mục tiêu chi tiết, rõ rệt, hướng tới mục đích trong đầu, một mục tiêu bắt nguồn từ thực tại. Chúng ta thường tưởng tượng rằng nói chung chúng ta hoạt động theo một dạng kế hoạch nào đó, rằng chúng ta đang cố đạt được những mục tiêu. Nhưng thông thường, chúng ta hay tự phỉnh gạt mình; cái mà chúng ta có không phải là mục tiêu mà là ước muốn. Cảm xúc của chúng ta đầu độc chúng ta bằng dục vọng mơ hồ: chúng ta muốn có danh vọng, thành công, sự an toàn – một thứ gì đó lớn lao và trừu tượng. Sự mơ hồ này làm các kế hoạch của chúng ta mất cân bằng ngay từ đầu và đặt chúng ta vào một tiến trình hỗn loạn. Cái đã làm nổi bật những chiến lược gia lớn trong lịch sử, và cũng có thể làm nổi bật bạn, là những mục tiêu cụ thể, chi tiết, tập trung. Suy nghĩ về chúng suốt đêm ngày, hình dung việc đạt tới chúng sẽ có cảm giác thế nào, và sẽ có kết quả ra sao. Bởi một định luật tâm lý riêng biệt đối với loài người, sự hình dung rõ ràng về chúng theo cách này sẽ biến thành một sự tiên tri đối với việc tự hoàn thành ước nguyện.
| Có những đối tượng rõ ràng là điều cốt tủy đối với Napoleon. Ông hình dung ra các mục tiêu của mình một cách cực kỳ chi tiết – khi bắt đầu một chiến dịch, ông có thể nhìn thấy một cách rõ ràng trong tâm trí trận đánh cuối cùng của nó. Khi xem xét một tấm bản đồ với những viên phụ tá, ông có thể chỉ ra địa điểm chính các nơi nó kết thúc – có vẻ như đó là một tiên đoán lố lăng, không chỉ vì trong bất kỳ giai đoạn nào, chiến tranh cũng có xu hướng thay đổi và kẻ thù có thể gây ra bất kỳ điều bất ngờ nào, mà còn vì những tấm bản đồ ở thời Napoleon nổi tiếng là không thể tin cậy được. Thế nhưng lần này sang lần khác, những tiên đoán của ông đã tỏ ra chính xác một cách phi thường. Ông cũng hình dung ra những hậu quả của chiến dịch: việc ký kết hòa ước, các điều kiện của nó, Sa hoàng Nga hay vua Áo đã bại trận trông ra sao, và một cách chính xác thành tựu của mục tiêu cụ thể này sẽ xác định vị thế của ông ra sao trong chiến dịch kế tiếp. Khi còn trẻ, Lyndon BJohnson, dù học vấn còn hạn chế, đã quyết tâm trở thành tổng thống vào một ngày nào đó. Ước mơ biến thành nỗi ám ảnh: ông có thể hình dung ra mình với tư cách tổng thống, đang oai vệ bước trên vũ đài thế giới. Khi tiến sâu vào sự nghiệp, ông không bao giờ làm điều gì mà không để mắt tới mục tiêu tối hậu đó của mình. Năm 1957, Johnson, khi đó là nghị sĩ bang Texas, ủng hộ một dự luật về quyền công dân. Điều đó gây tổn hại cho ông ở Texas nhưng lại nâng ông lên tầm quốc gia: rõ ràng một nghị sĩ ở miền Nam đã ló cổ ra rồi, và đang đánh liều với địa vị của mình. Johnson đã lọt vào sự chú ý của John FKennedy. Và trong cuộc vận động năm 1960, ông đã đề cử Johnson làm phó tổng thống - một địa vị tối hậu làm bệ phóng cho chức tổng thống của ông. Những đối tượng dài hạn rõ ràng đem lại phương hướng cho tất cả mọi hành động lớn nhỏ của bạn. Bạn dễ dàng ra những quyết định quan trọng hơn. Nếu một viễn cảnh lấp lánh nào đó đe dọa lôi cuốn bạn khỏi mục tiêu, bạn sẽ biết để cưỡng lại nó. Bạn có thể biết khi nào cần hy sinh một con tốt, thậm chí thua một trận đánh, nếu có ích cho mục đích cuối cùng của bạn. Đôi mắt bạn tập trung vào sự chiến thắng của chiến dịch chứ không phải điều gì khác. Các mục tiêu của bạn phải bắt nguồn từ thực tại. Nếu chúng chỉ đơn giản nằm ngoài phương tiện của bạn, chủ yếu là bạn không thể nhận ra chúng, bạn sẽ trở nên thất vọng, và sự thất vọng có thể nhanh chóng chuyển sang một thái độ chủ bại. Mặt khác, nếu mục tiêu của bạn thiếu một tầm cỡ và độ lớn nhất định, nó sẽ khó trở thành động cơ thôi thúc. Đừng e ngại đánh liều. Ở một ý nghĩa lớn lao hơn, bạn đang tự mình thực hiện cái mà Alexander đã trải nghiệm như là định mệnh của ông và cái mà Friedrich Nietzsche gọi là “công việc đời người” của bạn – cái mà những thiên hướng và năng khiếu, sở trường và ước vọng của bạn dường như đang chỉ ra để bạn hướng tới. Việc tự ấn định cho mình một công việc đời người sẽ gây hứng khởi và dẫn dắt bạn. Bản chất của mục tiêu là điều quan trọng: có một số đối tượng, nếu nhận thức được, rốt cuộc sẽ làm bạn tổn thương. Những đối tượng của tổng chiến lược theo nghĩa chân chính là việc xây dựng một nền tảng vững chắc để mở rộng tương lai, là việc làm cho bạn an toàn hơn, là việc gia tăng quyền năng của bạn. Khi Israel chiếm sa mạc Sinai trong cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967, có vẻ như nó đang tạo ra một vùng đệm giữa nó và Ai Cập. Trên thực tế, điều này chỉ có nghĩa là có thêm lãnh thổ để tuần tra kiểm soát, và nó tạo ra nguyên nhân thúc đẩy mối thù địch lâu dài trong công chúng Ai Cập. Sa mạc Sinai cũng dễ bị bất ngờ tấn công, và đó là diễn biến kết thúc trong chiến tranh Yom Kippur năm 1973. Vì việc nắm giữ sa mạc đó, dù rất hấp dẫn, cuối cùng đã làm phương hại tới những nhu cầu an ninh; trong phạm vi tổng chiến lược, nó rõ ràng là một sai lầm. Đôi khi khó mà biết được những tác động lâu dài của việc đạt được một mục tiêu sẽ là gì, nhưng càng xem xét một cách nghiêm túc và thực tế những khả năng có thể xảy ra, bạn càng ít phạm sai lầm trong dự tính. |
Mở rộng viễn cảnh của bạn. Tổng chiến lược là việc thực hiện chức năng của tầm nhìn, của việc nhìn sâu xa vào thời gian và không gian hơn kẻ thù. Tiến trình của việc nhìn thấy trước có tính phi tự nhiên: chúng ta chỉ có thể sống trong hiện tại, đó là nền tảng cho ý thức của chúng ta, và những kinh nghiệm, tham vọng của chúng ta đã thu hẹp tầm nhìn – chúng giống như một căn nhà tù nơi chúng ta cư ngụ. Công việc của bạn với tư cách một chiến lược gia lớn là buộc bản thân bạn phải mở rộng tầm nhìn, để thấy nhiều hơn về thế giới quanh bạn, để nhìn những sự vật theo thực tế và biết chúng có thể đóng vai trò gì trong tương lai, chứ không phải để nhìn chúng theo mong muốn của bạn. Mỗi sự kiện đều có lý do, có một chuỗi quan hệ nhân quả khiến cho nó xảy ra; bạn phải đào sâu vào thực tế đó, thay vì chỉ nhìn vào bề mặt của sự vật. Càng tới gần các đối tượng, những chiến lược của bạn càng tốt hơn và con đường tới những mục tiêu của bạn càng dễ dàng hơn. Bạn có thể bước một bước theo hướng này bằng cách luôn cố gắng nhìn vào thế giới thông qua mắt của những người khác – kể cả, một cách dứt khoát, kẻ thù của bạn – trước khi tiến hành giao chiến. Những thành kiến văn hóa của chính bạn là một lớp màn che chủ yếu khiến bạn không thể nhìn vào thế giới một cách khách quan. Trong chiến tranh Việt Nam, phe Bắc Việt đã nghiêm túc nghiên cứu bối cảnh văn hóa Mỹ. Họ nhìn vào những biến chuyển trong dư luận công chúng và cố tìm hiểu hệ thống chính trị Mỹ cùng những tác động xã hội của truyền hình. Trái lại, các chiến lược gia Mỹ đã bộc lộ một hiểu biết cực kỳ ít ỏi về những nền văn hóa xa lạ của Việt Nam – cả văn hóa của miền Nam mà họ đang ủng hộ lẫn văn hóa của miền Bắc mà họ đang cố tấn công. Mù quáng bởi nỗi ám ảnh cố ngăn chặn việc truyền bá chủ nghĩa cộng sản, họ không nhận ra những tác động sâu sắc của văn hóa và tôn giáo trong phương thức chiến đấu của phe Bắc Việt Nam. Đó là một sai lầm chiến lược tổng thể ở mức độ cao nhất của họ.
| Các chiến lược gia lớn giữ cho độ nhạy cảm hòa hợp với chính trị ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Chính trị là nghệ thuật cổ động và bảo vệ các lợi ích của chính bạn. Bạn có thể nghĩ rằng nó là một vấn đề rộng lớn của các đảng phái, nhưng từng cá nhân, trong số những điều khác, là một sinh vật chính trị đang tìm kiến sự an toàn cho vị trí của mình. Hành vi của bạn trong thế giới luôn luôn có những hậu quả về chính trị, mọi người quanh bạn sẽ phân tích nó trong phạm vi nó có ích hay có hại cho họ. Thắng trận với cái giá phải phân ly khỏi những đồng minh tiềm năng hay tạo ra những kẻ thù cứng cổ không bao giờ là điều khôn ngoan. Quan tâm tới chính trị, bạn phải xác định tổng chiến lược của mình với ý thức tìm sự ủng hộ từ những kẻ khác – để tạo nên và củng cố một căn cứ địa. Trong cuộc Nội chiến La Mã năm 49 Tr. CN., Julius Caesar đã công khai chống đối với Pompey, nhà quân sự giàu kinh nghiệm nhất vào thời bấy giờ. Caesar chiếm thế thượng phong bằng cách hoạch định các cuộc hành binh của ông trên cơ sở tác động của chúng lên công luận ở thành Rome. Thiếu sự ủng hộ của Nghị viện, ông xây dựng sự ủng hộ trong công chúng. Caesar là một con thú chính trị xuất sắc, và đó là cái giúp cho ông nắm chặt được tâm lý của công chúng: ông hiểu tính ích kỷ của họ và uốn các chiến lược của ông theo đó. Giỏi chính trị có nghĩa là thấu hiểu mọi người – nhìn thông qua đôi mắt của họ. Cắt đứt mọi gốc rễ. Trong một xã hội mà vẻ bề ngoài đang lấn áp, nguồn cội thật sự của một vấn đề đôi khi khó mà nắm bắt. Để tạo nên một tổng chiến lược chống lại một kẻ thù, bạn phải biết cái gì thôi thúc họ hoặc nguồn gốc sức mạnh của họ. Có quá nhiều cuộc chiến và trận chiến kéo dài vì không có bên nào biết cách tấn công vào gốc rễ của đối phương. Với tư cách một chiến lược gia lớn, bạn phải mở rộng tầm nhìn không chỉ xa và rộng mà còn sâu vào bên dưới. Suy nghĩ thật cặn kẽ, đào thật sâu, đừng xem vẻ bề ngoài là hiện thực. Vạch trần được những nguồn gốc của khó khăn, bạn có thể định ra chiến lược để cắt bỏ chúng đi, chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh hay vấn đề nan giải đó. Khi viên tướng Hannibal của Carthage xâm lăng Ý vào năm 218 Tr. CN., nhiều tướng lĩnh La Mã gắng sức đánh bại ông, nhưng không thành công. Vị tướng La Mã mà về sau được gọi là Scipio Africanus nhìn vào hoàn cảnh theo cách khác: vấn đề không phải là ở bản thân Hannibal, hay cứ địa của ông ta ở Tây Ban Nha, hay khả năng bổ sung nguồn tiếp tế bằng đường biển từ Carthage của ông; vấn đề là chính bản thân Carthage. Đó là một quốc gia vô cùng căm ghét thành Rome, và một cuộc đấu tranh quyền lực lâu dài đã tồn tại giữa hai nước. Thay vì nhắm vào Hannibal, một nhà quân sự xuất sắc, khi đó đang ở Ý, Scipio tiến quân xâm lược Carthage, buộc Hannibal phải rời Ý để quay về bảo vệ tổ quốc. Cuộc tấn công vào Carthage không chỉ là một mưu mẹo đơn giản để kéo Hannibal ra xa, nó là một cuộc xâm lăng tầm cỡ. Tổng chiến lược của Scipio hữu hiệu đến mức hoàn hảo: ông ta không chỉ đánh bại Hannibal trong chiến trận mà còn hủy diệt Carthage với tư cách là một thế lực thù địch, chấm dứt vĩnh viễn khả năng chống lại thành Rome của nó. Một phần của tổng chiến lược liên quan tới việc cắt đứt mọi gốc rễ là nhìn thấy những nguy cơ khi chúng vừa mới nhú mầm, cắt sạch chúng trước khi chúng trở nên quá lớn, khó mà xử lý. Một chiến lược gia tổng thể biết giá trị của sự “tiên hạ thủ vi cường”. Chọn con đường gián tiếp để đi tới mục tiêu của bạn. Nguy hiểm lớn nhất mà bạn giáp mặt trong chiến lược là việc đánh mất thế chủ động và phát hiện ra mình thường xuyên phải đối phó với điều mà đối phương thực hiện. Lẽ đương nhiên, giải pháp là hoạch định trước kẻ thù nhưng cũng là hoạch định một cách tinh vi – chọn con đường gián tiếp. Việc ngăn cản không cho đối thủ nhìn thấy mục đích của các hành động của bạn tạo cho bạn một lợi thế lớn lao. |
Vì thế, động thái đầu tiên của bạn nên đơn thuần là một sự sắp đặt, được thiết kế để thúc đẩy một phản ứng từ phía kẻ thù, khiến nó lộ ra sơ hở cho cái sẽ xảy ra kế tiếp. Tấn công nó một cách trực tiếp và nó đối phó lại, chiếm lấy một vị trí phòng thủ có thể cho phép nó đón đỡ cú đánh kế tiếp của bạn; nhưng nếu nó không thể nhìn thấy điểm ra đòn của bạn, hoặc nếu nó không biết cú đấm kế tiếp sẽ đến từ đâu, nó sẽ trở nên mù lòa và vô phương tự vệ. Yếu tố cơ bản là duy trì sự kiểm soát các cảm xúc của bạn và xếp đặt các động thái của bạn trước, nhìn lên toàn thể bàn cờ.
Nhà đạo diễn phim Alfred Hitchcock biến chiến lược này thành một nguyên tắc sống. Mỗi hành động của ông là một sự sắp đặt được thiết kế để đưa tới những kết quả trên lộ trình, ông bình thản suy nghĩ đón đầu và bước từng bước một. Mục tiêu của ông là làm một cuốn phim gắn liền với viễn tượng nguyên thủy của ông, không bị phá hoại bởi tác động của các diễn viên, nhà sản xuất và các nhân viên khác cần phải cộng tác sau đó. Bằng cách kiểm soát mọi chi tiết của việc quay phim, ông khiến cho nhà sản xuất hầu như không thể nào can thiệp vào đó. Nếu nhà sản xuất có xía ngang khi đang quay thật sự, Hitchcock luôn có một máy quay không có phim sẵn sàng cho ông ta. Ông có thể vờ vĩnh quay thêm những cảnh mà nhà sản xuất muốn, để ông ta vẫn cảm thấy mình có quyền hạn mà không ảnh hưởng tới kết quả cuối cùng. Hitchcock cũng làm điều tương tự với các diễn viên: thay vì trực tiếp bảo họ điều cần làm, ông làm cho họ nhiễm phải những cảm xúc mà ông mong muốn – sợ hãi, giận dữ, khát khao – thông qua cách đối xử của ông. Mỗi bước trong chiến dịch gắn kết một cách hoàn hảo với bước tiếp theo.
Khi hành động ở cấp độ chiến dịch chứ không phải trận chiến, bước đầu tiên của bạn là điều chủ yếu. Thông thường nó nên mềm dẻo một cách giả tạo và gián tiếp, khiến cho kẻ thù khó mà hiểu đượcVụ tấn công Trân Châu Cảng của quân Nhật trong Thế chiến II là một bất ngờ đầy tính tàn phá; nhưng với tư cách là một động thái đầu tiên của chiến dịch, nó lại là một thảm họa. Người Nhật chìa tay của họ ra quá nhanh; tập trung công luận Mỹ lại tới một mức độ giận dữ mãnh liệt, họ tin chắc rằng người Mỹ sẽ theo đuổi cuộc chiến cho tới kết thúc đắng cay – nhưng chính người Mỹ là kẻ có những tiềm lực quân sự lớn hơn. Luôn luôn chú ý tới bước đầu tiên của chiến dịch, nó thiết lập nhịp độ, xác định thái độ của kẻ thù và đẩy bạn theo một hướng mà tốt hơn nên là hướng đúng.
Lập luận nổi tiếng của lý thuyết gia quân sự Phổ Carl von Clausewitz là: “Chiến tranh là sự tiếp diễn của chính trị bằng những phương tiện khác”. Ý của ông là mỗi quốc gia đều có những mục tiêu – an ninh, an sinh xã hội, sự thịnh vượng – thông thường được theo đuổi thông qua chính trị, nhưng khi một quốc gia hoặc thế lực bên ngoài ngăn trở sự thành tựu của họ thông qua chính trị, chiến tranh là kết quả tự nhiên. Chiến tranh không bao giờ đơn thuần là chiến trường hay xâm chiếm đất đai một cách bình thường; nó là sự theo đuổi một chính sách mà không thể tìm ra một phương thức thực hiện nào khác hơn là thông qua sức mạnh.
Tuy nhiên, khi một cuộc chiến thất bại, mọi ngón tay thường chỉ về phía quân sự. Đôi khi chúng ta có thể nhìn lên bên trên các tướng lĩnh để hướng tới những chính trị gia đã tuyên chiến ngay từ đầu; trong và sau chiến tranh Việt Nam, chẳng hạn, một số người đã đổ lỗi sự thất bại cho chính phủ vì đã không tiến hành chiến tranh với toàn nỗ lực. Dù vậy, thông thường hơn, phân tích hậu chiến là về quân sự - chúng ta nghiền ngẫm những trận đánh của cuộc chiến, chỉ trích những hành động của các viên chỉ huy. Và dĩ nhiên chính giới quân sự đã hoạch định và tiến hành chiến tranh, nhưng ngay cả khi như thế, vấn đề thực chất là một vấn đề về tổng chiến lược. Theo von Clausewitz, thất bại trong chiến tranh là một thất bại về chính sách. Những mục tiêu của cuộc chiến thất bại và những chính sách dẫn dắt chúng là phi thực tế, không thích đáng và mù quáng trước các nhân tố khác.
Ý niệm này là triết lý của tổng chiến lược. Bất cứ khi nào mọi sự đi sai đường, chính bản chất con người đã đổ lỗi cho người này kẻ nọ. Cứ mặc cho những người khác dây vào sự ngu xuẩn đó, bị dẫn quanh bởi chính mũi của họ, chỉ nhìn thấy cái có thể thấy ngay trước mắt. Bạn nhìn sự việc theo cách khác. Khi một hành động chệch hướng – trong làm ăn buôn bán, trong chính trị, trong đời sống – hãy lần theo vết nó để quay lại chính sách đã khơi gợi nên nó từ buổi đầu. Mục tiêu đã sai đường. Điều này có nghĩa là bản thân bạn là một tác nhân to lớn của bất kỳ điều tệ hại nào xảy ra với bạn. Với những chính sách khôn ngoan, khéo léo hơn, và tầm nhìn rộng lớn hơn, bạn có thể tránh được nguy cơ. Vì thế khi có gì đó sai lệch, hãy nhìn sâu vào bản thân mình – không phải theo một cách đầy cảm tính, để trách móc bản thân hay nuông chiều theo cảm giác tội lỗi của bạn, mà để chắc chắn rằng bạn sẽ khởi đầu chiến dịch kế tiếp với một bước đi vững chắc và một tầm nhìn rộng lớn hơn.
Hình ảnh: Đỉnh núi. Ở lại chiến địa, mọi thứ phủ đầy khói và rối rắm. Khó mà phân biệt được bạn hay thù, để xem ai đang thắng trận, để nhìn trước động thái kế tiếp của kẻ thù. Vị tướng phải trèo lên phía bên trên nơi xung đột, lên tới đỉnh núi, nơi mọi thứ trở nên rõ ràng và tập trung hơn. Ở đó ông ta có thể nhìn ra bên ngoài chiến địa – tới sự vận động của các lực lượng dự bị, tới doanh trại quân thù, tới hình thể của trận đánh tương lai. Chỉ từ đỉnh núi, vị tướng mới có thể chỉ huy cuộc chiến tranh.Tư liệu: Khởi sự chiến tranh từ một xuất phát điểm sai, động thủ trước và chờ đợi khi tai họa tới mới thảo luận vấn đề là một lỗi lầm thường có.Thucydides (giữa năm 460-455 Tr. CN – khoảng năm 400 Tr. CN)HOÁN VỊ
Tổng chiến lược bao gồm hai mối nguy hiểm lớn mà bạn phải cân nhắc và đấu tranh. Đầu tiên, những thành công mang tới cho bạn trong những chiến dịch đầu tiên có thể tác động đến bạn giống như sự chiến thắng dễ dàng trên chiến địa mang tới cho một vị tướng: say men chiến thắng, bạn có thể đánh mất ý thức về thực tại và sự tương quan mà trên đó những động thái tương lai của bạn dựa vào. Ngay cả những chiến lược gia lớn cao cấp nhất như Julius Caesar và Napoleon cuối cùng cũng đã trở thành nạn nhân của xung lực này: đánh mất ý thức về thực tại, họ bắt đầu tin rằng bản năng của họ không thể sai lầm. Chiến thắng càng to lớn, nguy cơ càng cao. Khi bạn già hơn, khi bạn chuyển tới chiến dịch kế tiếp của mình, bạn phải biết tiết kiệm, cố sức gấp đôi để quản chế các cảm xúc, và duy trì ý thức về thực tại.
Thứ hai, sự lãnh đạm cần thiết cho tổng chiến lược có thể đưa bạn tới một điểm, nơi bạn thấy khó mà hành động. Quá hiểu thế giới, bạn nhìn thấy quá nhiều khả năng chọn lựa và trở nên lưỡng lự như Hamlet. Bất kể đã tiến bộ như thế nào, chúng ta vẫn còn một phần thú tính, và chính con thú trong chúng ta đã thắp lửa các chiến lược, đem đến cho chúng sức sống, thôi thúc chúng ta chiến đấu. Không có khao khát chiến đấu, không có khả năng khuấy động chiến tranh bạo lực, chúng ta không thể đối phó với nguy cơ.
Những kiểu người khôn ngoan như Odysseus thấy thoải mái với cả hai phương diện của bản chất của họ. Họ hoạch định đón đầu xa đến hết mức khả năng cho phép, nhìn xa và rộng, nhưng khi đã đến lúc phải tiến lên, họ tiến lên. Biết cách kiểm soát các cảm xúc của bạn có nghĩa là không đè nén chúng hoàn toàn mà sử dụng chúng ở mức độ có hiệu quả cao nhất.
13