33 Chiến Lược Của Chiến Tranh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

CẶP SỪNG THÚ DỮ

Tháng 12/1878, người Anh tuyên chiến với người Zulu, một bộ tộc chiến binh ở Nam Phi ngày nay. Cái cớ hời hợt bề ngoài là những rắc rối ở vùng biên giới giữa vương quốc Zululand và bang Natal của Anh; nhưng mục tiêu thật sự là tiêu diệt quân đội Zulu, lực lượng thổ dân cuối cùng còn sót lại đang đe dọa các lợi ích của người Anh ở khu vực đó, và để sáp nhập lãnh thổ của Zulu vào một liên bang do nước Anh cai trị. Chỉ huy quân đội Anh, Trung tướng Lord Chelmsford, đã vạch ra kế hoạch xâm lược Zulu với ba phân đội, quân đội trung tâm tiến tới thủ phủ Ulundi, trung tâm của vương quốc.

Có nhiều người Anh ở Natal bị khích động bởi viễn cảnh chiến tranh và những lợi ích tiềm tàng của việc đánh chiếm Zululand, nhưng không người nào xúc động bằng viên đại tá 48 tuổi Anthony William Durnford. Trong nhiều năm Durnford đã chuyển từ tiền đồn hiu quạnh này của Đế quốc Anh sang tiền đồn khác, và cuối cùng đã tới Natal. Trong suốt những năm phục vụ quân đội, người ta chưa hề trông thấy Durnford hành động lần nào. Ông khao khát chứng tỏ lòng dũng cảm và tư cách chiến binh của mình, nhưng ông đã tới cái tuổi mà những giấc mơ trai trẻ không còn bao lâu thời gian nữa để hoàn thành. Lúc này, đột nhiên cuộc chiến tranh sắp diễn ra đã tạo cho ông một cơ hội.

 

 

Nôn nóng gây ấn tượng, Durnford tình nguyện tổ chức một lực lượng tinh nhuệ những binh sĩ thổ dân ở Natal để cùng chiến đấu với quân Anh. Đề nghị của ông được chấp nhận, nhưng khi quân Anh xâm lược Zululand vào đầu tháng 1/1879, ông nhận ra mình đã bị bỏ lại bên lề. Lord Chelmsford không tin tưởng ông, cho rằng sự khao khát vinh quang khiến ông trở nên quá bốc đồng; còn nữa, với một ai đó chưa có kinh nghiệm chiến đấu, thì Durnford đã già rồi. Thế là Durnford và binh lính của ông đóng quân tại Rorke’s Drift, phía tây Zuduland, để giúp kiểm soát các vùng giáp giới với Natal. Durnford làm theo mệnh lệnh với tinh thần bổn phận nhưng lòng đầy cay đắng.

Trong những ngày đầu tiên sau cuộc xâm lược, quân Anh không thể xác định được vị trí của lực lượng Zulu then chốt, chỉ phát hiện ra những nhóm nhỏ ở đây đó. Họ trở nên chán nản. Ngày 21/1, Chelmsford đưa phân nửa phân đội trung tâm, đang đóng quân ở chân một ngọn núi gọi là Isandlwana, tiến về hướng đông để tìm kiếm quân Zulu. Khi đã tìm ra quân thù, ông sẽ điều số quân còn lại tiến lên - nhưng quân đội Zulu hay lảng tránh một khi có thể tấn công doanh trại vào lúc ông đang ở xa, và binh sĩ ở Rorke’s Drift là lực lượng dự bị gần nhất. Cần phải chi viện cho Isandlwana, ông ra lệnh cho Durnford đưa đại đội của ông ta tới đó. Với cấp bậc đại tá, Durnford lúc này là người chỉ huy cao cấp nhất ở doanh trại, nhưng Chelmsford không lo về các phẩm chất chỉ huy của Durnford - trận đánh sắp tới là điều duy nhất trong tâm trí của ông.

Rạng sáng ngày 22/1, Durnford nhận được những thông tin mà ông đã chờ suốt đời mình. Hầu như không thể kiềm nổi cơn xúc động, ông dẫn 400 quân của mình tiến về đông và tới Isandlwana vào khoảng 10 giờ sáng. Khi khảo sát vùng đất này, ông hiểu vì sao Chelmsford đã đặt khu trại chính của ông ta ở đây: ở phía đông và phía nam là hàng dặm dài thảo nguyên - có thể nhìn thấy rõ sự tiếp cận của quân Zulu từ hướng đó. Ở phía bắc là Isandlwana, và bên ngoài nó là những cánh đồng cỏ của Nqutu. Phía này kém an toàn hơn chút ít, nhưng lính trinh sát đã được bố trí ở những điểm then chốt trên đồng cỏ và những con đèo qua núi; tấn công từ hướng đó gần như chắc chắn sẽ bị phát hiện ngay.

Ngay sau khi tới nơi, Durnford nhận được báo cáo rằng một lực lượng Zulu có vẻ đông đã xuất hiện rải rác trên những đồng cỏ của Nqutu đang tiến quân về đông, có lẽ để tấn công phân đội trung tâm của Chelmsford từ phía sau. Chelmsford đã để lại những mệnh lệnh dứt khoát phải duy trì 1.800 quân ở Isandlwana.

Trong trường hợp bị tấn công, họ có đủ hỏa lực để đánh bại toàn bộ quân đội Zulu - miễn là họ giữ được sự tập trung và giữ các tuyến theo trật tự. Nhưng đối với Durnford, điều quan trọng hơn là tìm ra lực lượng quân Zulu chủ yếu. Binh lính Anh đã bắt đầu trở nên cáu kỉnh, không biết là kẻ thù mờ ảo này đang ở nơi nào. Quân Zulu không có kỵ binh, và nhiều chiến binh chiến đấu bằng giáo; khi đã tìm ra nơi ẩn nấp của họ, phần việc còn lại có thể dễ dàng - sự vượt trội về vũ khí và tính kỷ luật của quân Anh sẽ thắng thế. Durnford nghĩ rằng Chelmsford quá cẩn thận. Với tư cách là người cao cấp nhất ở trại, ông quyết định bất tuân thượng lệnh và dẫn 400 quân của mình tiến ra hướng đông bắc, song song với các cánh đồng cỏ của Nqutu để tìm xem quân Zulu sắp làm gì.

Khi Durnford tiến quân ra khỏi trại, một lính trinh sát trên đồng cỏ của Nqutu nhìn thấy một vài người Zulu đang chăn gia súc cách đó khoảng vài dặm. Anh ta quất ngựa đuổi theo, nhưng những người Zulu biến mất. Khi cưỡi ngựa tới nơi họ đã biến mất, anh ta dừng ngựa lại vừa kịp lúc: bên dưới chân anh ta là một khe sâu và rộng, hoàn toàn nằm khuất khỏi bề mặt của đồng cỏ, và đông nghẹt bên dưới khe sâu đó, nơi mà anh ta có thể trông thấy ở cả hai đầu, là những chiến binh Zulu trong quân phục, mắt ánh lên một vẻ dữ dội lạ lùng. Trong thoáng giây, người lính Anh quá sửng sốt đến bất động, nhưng khi hàng trăm ngọn giáo đột nhiên phóng tới, anh ta quay ngựa bỏ chạy. Quân Zulu nhanh chóng lao ra khỏi khe sâu.

Thoáng sau, những người lính trinh sát khác nhìn thấy cảnh tượng khủng khiếp tương tự: một hàng rộng quân Zulu phủ kín chân trời, với lực lượng khoảng 2 vạn quân. Ngay cả từ một khoảng cách xa, rõ ràng họ đang di động trong đội hình, mỗi đầu của hàng quân tiến về phía trước trong hình dáng trông giống như những chiếc sừng sắc nhọn. Quân trinh sát nhanh chóng báo tin về trại rằng quân Zulu đang tiến tới. Vào lúc Durnford nhận được tin, ông nhìn lên sườn núi bên trên và trông thấy một hàng quân Zulu đang đổ ào xuống dốc. Ông nhanh chóng tập hợp binh lính thành các tuyến để chiến đấu trong khi rút lui trở về trại. Quân Zulu hành binh với sự chính xác không thể tin nổi. Điều mà Durnford không thể nhìn thấy là những chiến binh ở nhánh sừng bên trái đang di động qua lớp cỏ cao hướng về sau lưng doanh trại, để nối liền với nhánh sừng kia và hoàn tất vòng vây.

Những chiến binh Zulu đối mặt với Durnford và binh lính của ông dường như mọc lên từ lòng đất, từ phía sau những tảng đá hay từ những lùm cỏ cao ngày càng đông đảo. Một nhóm năm hay sáu người đột ngột tấn công, phóng giáo hay nổ súng, rồi lại biến mất trong đám cỏ. Bất cứ lúc nào quân Anh dừng lại để nạp đạn, quân Zulu lại tiến tới gần hơn, đôi khi có tên tiến tới những tuyến quân của Durnford và hạ sát một lính Anh bằng ngọn giáo Zulu sắc bén, tạo nên một âm thanh không thể chịu nổi khi nó đâm vào và rút ra khỏi thân thể.

Durnford cố đưa được binh lính của ông vào trại. Quân Anh đã bị vậy chặt, nhưng họ thắt chặt hàng ngũ và bắn ra, giết chết nhiều chiến binh Zulu và giữ họ ở mé ngoài chiến lũy. Giống như tập bắn bia: như Durnford đã dự đoán, vũ khí hơn hẳn của họ đã tạo nên khác biệt. Ông nhìn quanh; trận chiến đã lâm vào thế bế tắc, và binh lính của ông phản công một cách tương đối tự tin. Tuy vậy, ở mức gần như gần như không thể nhận ra, Durnford chú ý tới một sự chùng xuống trong ngọn lửa chiến đấu của họ. Những người lính đang cạn dần đạn dược, và khi họ tháo băng đạn ra để nạp đạn, quân Zulu lại xiết chặt thêm vòng vây và một làn sóng sợ hãi tràn qua những người lính khi đây đó lại có một người ở tuyến ngoài bị đâm xiên qua người. Quân Zulu chiến đấu với một sự dữ dội mà quân Anh chưa bao giờ nhìn thấy; lao mình lên phía trước như thể đạn không thể làm hại được, trông họ có vẻ như đang bị thôi miên.

Đột nhiên, nhận ra bước ngoặt của trận chiến, quân Zulu bắt đầu chĩa giáo tựa vào khiên và hét to tiếng thét xung trận: “Usuthu!”  Đó là một âm thanh rền rĩ kinh hoàng. Ở đầu hướng bắc của doanh trại, một nhóm binh lính Anh bỏ chạy - chỉ một vài người, kinh hoàng vì cảnh tượng và tiếng thét của quân Zulu lúc này chỉ còn cách có vài mét, nhưng quân Zulu đã tràn qua khoảng trống đó. Như thể một tín hiệu, những chiến binh trong vòng tròn giữa hai chiếc sừng hướng mũi giáo về quân Anh, giết chết nhiều người và phá vỡ các tuyến phòng ngự. Không biết từ đâu, một lực lượng Zulu dự bị lao về phía trước, tản rộng theo hình nan quạt quanh vòng tròn và nhân đôi sức mạnh nghiền nát của nó. Durnford cố duy trì trật tự, nhưng đã muộn: trong vòng vài giây sự kinh hoàng lan tỏa và lúc này hồn ai nấy giữ.

Durnford chạy tới một chỗ trống ở vòng vây và cố giữ nó mở rộng để số binh lính còn lại của ông có thể rút lui về Rorke’s Drift. Vài phút sau ông bị đâm chết. Chẳng bao lâu sau trận đánh ở Isandlwana kết thúc. Khoảng vài trăm người chạy thoát được qua chỗ trống mà Durnford đã chịu chết để bảo toàn: số còn lại trên bốn trăm người bị giết chết.

Sau thất bại thê thảm đó, các lực lượng Anh nhanh chóng rút lui khỏi Zululand. Trong thời gian ấn định, cuộc chiến tranh đã thật sự kết thúc, nhưng không như người Anh mong đợi.

Diễn dịch

Vài tháng sau trận thua ở Isandlwana, quân Anh đã tiến hành một cuộc xâm lược lớn hơn và cuối cùng đã đánh bại quân Zulu. Nhưng bài học ở Isandlwana vẫn còn nóng hổi, đặc biệt khi xét đến sự không nhất quán đến khó tin về mặt kỹ thuật.

Cách chiến đấu của người Zulu đã được hoàn thiện từ đầu thế kỷ 19 bởi Vua Shaka của Zulu. Trước thập niên 1820 ông đã biến cái từng là một bộ tộc tương đối nhỏ yếu thành lực lượng chiến đấu lớn nhất trong khu vực. Shaka đã phát minh ra loại giáo Zulu nặng mũi rộng, loại giáo assengai, có tính tàn phá rất cao trong chiến tranh. Ông đặt ra một kỷ luật khắt khe, huấn luyện quân Zulu tiến công và bao vây kẻ thù với một độ chính xác như máy móc. Vòng tròn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong văn hóa Zulu - một biểu tượng của sự thống nhất quốc gia, một môtíp trong tác phẩm nghệ thuật, và là đội hình tiến hành chiến tranh của họ. Người Zulu không thể chiến đấu trong khoảng thời gian kéo dài, vì nền văn hóa của họ đòi hỏi những nghi lễ thanh tẩy kéo dài sau khi tắm máu trong chiến trận. Trong thời gian hành lễ, họ hoàn toàn dễ bị tổn thương nếu bị tấn công - không người Zulu nào có thể chiến đấu trở lại, hay thậm chí quay lại sống với bộ lạc của mình, cho tới khi anh ta đã được thanh tẩy. Việc duy trì quân đội to lớn của Zulu trên chiến địa cũng rất tốn phí. Một khi đã vận hành, quân đội không chỉ phải đánh bại các kẻ thù của nó trong chiến trận, mà còn phải tiêu diệt cho tới kẻ cuối cùng, loại trừ khả năng một cuộc phản công trong thời gian thanh tẩy dễ bị tổn thương và cho phép một cuộc giải trừ quân đội nhanh chóng. Bao vây là phương pháp của người Zulu để đạt được kiểu chiến thắng này.

Trước mỗi trận đánh, quân Zulu sẽ trinh sát địa hình để tìm nơi ẩn nấp. Khi người ta nhìn những đồng cỏ cao và thảo nguyên ở Nam Phi, có vẻ như chúng mở rộng ra trước tầm nhìn, nhưng thông thường chúng che giấu những khe sâu và đường rãnh không thể phát hiện ra từ bất kỳ khoảng cách nào. Ngay khi đã tới gần, những bụi cỏ và tảng đá cũng làm thành những vật che đậy rất hoàn hảo. Quân Zulu thường tiến nhanh tới những nơi ẩn nấp, chân của họ đã cứng như da thuộc sau nhiều năm chạy trên đồng cỏ. Và họ cử những nhóm trinh sát tản ra thu hút sự chú ý để che giấu sự di động của lực lượng chính.

Khi đã lao ra khỏi nơi ẩn nấp và tiến vào chiến địa, quân Zulu hình thành cái mà họ gọi là “cặp sừng, lồng ngực và thắt lưng”. Lồng ngực là trung tâm của hàng quân, chặn giữ và thọc qua lực lượng kẻ thù. Trong lúc đó, cặp sừng từ hai phía sẽ bao vây nó lại, di động vào từ hai cánh và phía sau. Thường là mũi của một nhánh sừng vẫn nằm ẩn sau lớp cỏ cao hay đá tảng; khi nó xuất hiện để hoàn tất vòng vây nó cũng đồng thời tạo nên một cú sốc tâm lý tồi tệ cho kẻ thù. Thắt lưng là lực lượng dự bị được giữ lại để tung ra cho đòn kết liễu. Những người này thật sự thường đứng quay lưng vào chiến địa, để không trở nên quá kích động và lao vào trước thời điểm đúng lúc.

Nhiều năm sau trận Isandlwana, một ủy ban điều tra đã đổ trách nhiệm của thảm họa này lên Durnford, nhưng thật ra đó không phải là lỗi của ông. Đúng là quân Anh đã tự để cho mình bị vây hãm, nhưng họ đã cố hình thành được những tuyến phòng thủ trật tự nghiêm chỉnh và chống trả một cách anh dũng và hữu hiệu. Cái đã hủy diệt họ cũng là cái đã hủy diệt mọi đối thủ của người Zulu: sự kinh hoàng tạo nên bởi sự chính xác của những di động của họ, cảm giác bị vây hãm trong một không gian chật hẹp, cảnh tượng thỉnh thoảng lại có một đồng đội bị chiếc giáo Zulu khủng khiếp xuyên thủng qua người, những tiếng thét xung trận, những cơn mưa giáo trút xuống vào thời điểm suy yếu nhất, cảnh tưởng như ác mộng của một lực lượng dự bị đột nhiên nối vào vòng vây. Dù có mọi vượt trội về vũ khí, quân Anh vẫn xụp đổ dưới áp lực tâm lý đã được trù tính này.

Loài người chúng ta là những tạo vật cực kỳ thông minh: trong tai họa hay thất bại, chúng ta thường tìm ra một cách để thích nghi, để xoay chuyển tình thế. Chúng ta tìm bất kỳ chỗ trống nào và thường là tìm được nó; chúng ta tiếp tục hy vọng, toan tính và mong muốn. Lịch sử chiến tranh đầy rẫy những câu chuyện về những sự điều chỉnh và hoán vị đầy kịch tính, ngoại trừ một chỗ: sự bao vây. Dù về mặt vật chất hay tâm lý, đây là ngoại lệ thật sự đối với khả năng xoay chuyển tình thế.

Khi được thực hiện một cách đúng đắn, chiến lược này không tạo ra một khoảng trống, một hy vọng nào để đối thủ của bạn khai thác. Họ bị bao vây, và vòng vây đang thắt chặt. Trong không gian trừu tượng của xã hội và thực hiện chiến tranh, sự bao vây có thể là bất kỳ thủ đoạn nào đem đến cho đối thủ cảm giác bị tấn công từ mọi phía, bị dồn vào chân tường và hoàn toàn vô vọng không còn cách phản công. Cảm thấy vị vây bủa, năng lực ý chí của họ sẽ suy yếu. Giống như quân Zulu, hãy giữ lại một lực lượng dự bị, những thắt lưng để hành động kết hợp với cặp sừng của bạn - tấn công họ với những lực lượng này khi bạn nhận ra sự yếu kém của họ đang lớn dần. Hãy để tình thế tuyệt vọng của họ bủa vây tâm trí họ.

Bạn phải làm cho đối thủ nhận biết sự thất bại    từ đáy tim của anh ta.

Miyamoto Musashi (1584 - 1645)

CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN

Hàng ngàn năm trước, loài người chúng ta sống một cuộc sống nay đây mai đó, lang thang qua những sa mạc và thảo nguyên, săn bắt và hái lượm. Thế rồi chúng ta chuyển sang sống trong nhà và nuôi trồng thực phẩm. Sự thay đổi này đem lại cho chúng ta tiện nghi và sự kiểm soát, nhưng ở mức độ nào đó về mặt tinh thần chúng ta vẫn còn là những kẻ du cư: chúng ta không thể không cần đến không gian để lang thang rong ruổi với một cảm giác tự do. Với một con mèo, những không gian chật hẹp, bị vây kín có thể mang ý nghĩa thoải mái, nhưng với chúng ta chúng là hiện thân của sự nghẹt thở. Qua nhiều thế kỷ, phản xạ này đã mang nhiều tính chất tâm lý hơn: cảm giác rằng chúng ta có những lựa chọn trong một tình thế, một tương lai với nhiều triển vọng, chuyển dịch sang một điều gì đó giống như cảm giác về không gian thoáng đãng. Tâm trí chúng ta phát triển với nhận thức rằng có những khả năng và những không gian chiến lược để tung hoành.

Đảo lại, nhận thức về sự bao vây về mặt tâm lý rất khó chịu đối với chúng ta, thường làm chúng ta phản ứng thái quá. Khi có ai đó hay điều gì đó vây quanh chúng ta - thu hẹp những chọn lựa của chúng ta, bủa vây chúng ta từ mọi phía - chúng ta đánh mất sự kiểm soát cảm xúc và phạm những sai lầm khiến cho hoàn cảnh tuyệt vọng hơn. Trong những cuộc bao vây quân sự lớn trong lịch sử, mối nguy hiểm lớn nhất gần như luôn đến từ sự kinh hoàng và rối trí nội tại. Không thể nhìn thấy điều gì đang xảy ra ở phía ngoài vòng vây, mất liên lạc với thế giới bên ngoài, những kẻ phòng vệ cũng đánh mất ý thức về thực tại của họ. Một con thú không thể quan sát thế giới quanh nó sẽ tiêu đời. Khi tất cả những gì bạn nhìn thấy là quân Zulu đang tiến tới gần, bạn không thể chống nổi sự kinh hoàng và rối trí.

Trận chiến của cuộc sống hàng ngày không diễn ra trên bản đồ mà trong một dạng không gian trừu tượng được xác định bởi khả năng của mọi người trong việc thao túng bạn, hành động chống lại bạn, hạn chế năng lực của bạn và cắt ngang thời gian phản ứng của bạn. Nếu bạn trao cho các đối thủ bất kỳ chỗ trống nào trong không gian có tính chất trừu tượng hay tâm lý này, họ sẽ khai thác nó, bất kể quyền năng của bạn tới đâu hay các chiến lược của bạn xuất chúng cỡ nào. Vì thế hãy làm cho họ cảm thấy bị bao vây. Thu hẹp các khả năng hành động và khóa chặt những lối thoát của họ. Cũng như những cư dân của một thành phố bị bao vây có thể dần dà mất trí, đối thủ của bạn sẽ nổi khùng vì họ không có chỗ trống để tung hoành chống trả lại bạn.

Có nhiều cách để bao vây đối thủ, nhưng có lẽ cách đơn giản nhất là vận dụng tối đa bất kỳ sức mạnh hay lợi thế nào mà bạn tự nhiên có được vào một chiến lược bao vây.

Trong cuộc đấu tranh nắm quyền kiểm soát ngành công nghệ dầu khí Mỹ đang rối loạn vào thập niên 1870, John D. Rockefeller - người sáng lập và chủ tịch của Standard Oil - đã hành động trước hết là để chiếm độc quyền ngành hỏa xa, lúc đó là phương tiện vận chuyển dầu chủ yếu. Kế đến ông chuyển sang nắm quyền kiểm soát các đường ống dẫn nối liền các nhà máy lọc dầu với đường tàu. Những nhà sản xuất dầu độc lập phản ứng bằng cách kết hợp nhau lại để xây dựng một đường ống dẫn riêng của họ chạy từ Pennsylvania tới bờ biển, không cần hệ thống hỏa xa và đường ống của Rockefeller. Ông cố mua vùng đất nằm trên con đường của dự án đó, được xây dựng bởi một công ty tên gọi là Tidewater, nhưng các đối thủ của ông hoạt động quanh ông, xây nên một đường ống dẫn dầu hình zích zắc suốt con đường tới bờ biển.

Rockefeller đã đối mặt với một mô hình cổ điển trong chiến tranh: một kẻ thù năng động đang tận dụng mọi khoảng trống trong sự phòng vệ để né tránh sự kiểm soát của ông, điều chỉnh và học cách chống lại ông suốt dọc đường. Giải pháp của ông là một thủ thuật bao vây. Đầu tiên, Rockefeller xây dựng đường dẫn tới bờ biển của chính ông, to hơn của công ty Tidewater. Rồi ông bắt đầu một chiến dịch mua cổ phần trong công ty Tidewater, kiếm được một khoản lãi thứ yếu trong đó và hoạt động từ bên trong để phá hủy uy tín và khuấy động mối bất đồng. Ông phát động một cuộc chiến tranh về giá, quyết định lãi suất trong đường ống Tidewater. Và ông mua các nhà máy lọc dầu trước khi chúng trở thành thân chủ của Tidewater. Năm 1882, cuộc bao vây của ông hoàn tất: Tidewater buộc phải thực hiện một giao dịch trao cho Standard Oil quyền kiểm soát vận chuyển dầu theo đường hàng hải thậm chí còn lớn hơn mức nó có trước cuộc chiến tranh. 

Phương pháp của Rockefeller là tạo nên một áp lực không ngừng từ càng nhiều phía càng tốt. Kết quả là sự bối rối của những nhà sản xuất dầu độc lập - họ không thể biết ông đã mở rộng sự kiểm soát tới mức nào, nhưng dường như nó rất rộng lớn. Họ vẫn còn khả năng chọn lựa ở thời điểm bị bao vây, nhưng họ đã kiệt sức và buộc phải tin rằng cuộc chiến đấu là vô vọng. Cuộc bao vây Tidewater có thể thực hiện được là nhờ ở những tiềm năng dồi dào theo cách bố trí của Rockefeller, nhưng ông sử dụng những tiềm lực này không chỉ về mặt thực tế mà còn về mặt tâm lý, tạo nên một ấn tượng về chính ông như là một kẻ thù không biết mệt mỏi, kẻ không để lộ một kẽ hở nào cho đối thủ luồn qua. Ông chiến thắng không chỉ nhờ đã chi ra khá nhiều mà còn bởi cách sử dụng các tiềm lực để tạo ra áp lực tâm lý.

Để bao vây kẻ thù, bạn phải sử dụng bất cứ thứ gì mình thừa thãi. Nếu bạn có một quân đội lớn, hãy dùng nó để tạo ra một bề ngoài rằng lực lượng của bạn có ở khắp nơi, một áp lực vây quanh. Đó là cách mà Toussaint I’Ouverture đã chấm dứt chế độ nô lệ ở nơi ngày nay là Haiti, vào cuối thế kỷ 18, và giải phóng hòn đảo khỏi ách thống trị của Pháp: ông sử dụng quân số lớn hơn của mình để tạo cảm giác trong những người da trắng trên đảo rằng họ bị vây quanh một cách vô vọng bởi một lực lượng thù địch. Không một nhóm thiểu số nào có thể chịu đựng nổi cảm giác đó lâu.

Ghi nhớ: sức mạnh của sự bao vây nói cho cùng là về mặt tâm lý. Khiến cho đối thủ cảm thấy dễ bị tổn thương trên nhiều phía cũng tốt như bao vây họ về mặt vật chất.

Ở giáo phái Shiite của đạo Islam vào thế kỷ 11 và 12, có một nhóm về sau gọi là Nhóm ám sát đã phát triển chiến lược giết những lãnh tụ Islam giáo chủ chốt đã cố khủng bố giáo phái này. Phương pháp của họ là cài một kẻ ám sát vào nội bộ của mục tiêu, thậm chí là làm vệ sĩ cho người đó. Nhẫn nại và có hiệu quả, trong nhiều năm Nhóm ám sát đã có thể gieo rắc nỗi sợ hãi rằng họ có thể tấn công vào bất kỳ lúc nào và vào bất kỳ ai. Không một nhà vua hay tể tướng nào cảm thấy an toàn. Kỹ thuật này là một nghệ thuật có tính tiết kiệm bậc thầy, vì rốt lại Nhóm ám sát chỉ thật sự giết rất ít người, thế nhưng mối đe dọa của họ đem đến cho giáo dân một quyền lực chính trị to lớn.

Một vài đòn đúng lúc để khiến kẻ thù cảm thấy tổn thương theo nhiều cách và từ nhiều hướng cũng sẽ mang lại cho bạn điều tương tự. Thường là trên thực tế, ít hơn ở đây có nghĩa là nhiều hơn: quá nhiều đòn tấn công sẽ đưa tới cho bạn một hình dáng, một tính cách - một điều gì đó để phía kia phản ứng lại và phát triển một chiến lược để đấu tranh. Thay vì thế, nên tỏ ra mơ hồ hư ảo. Làm cho các thủ thuật của bạn khômg thể nào tiên đoán được. Những cuộc bao vây tâm lý của bạn sẽ hiểm ác và hoàn hảo hơn.

Tốt nhất là những cuộc bao vây nhằm vào những khả năng bị tổn thương sẵn có, cố hữu của kẻ thù. Vậy hãy cẩn thận với những dấu hiệu của sự ngạo mạn, khinh suất, hay các nhược điểm tâm lý khác. Khi Winston Churchill nhận ra tính nết hoang tưởng ở Adolf Hitler, ông hành động để tạo nên ấn tượng rằng phe Trục có thể bị tấn công từ mọi nơi - Balkans, Ý, miền đông Pháp. Các nguồn tiềm lực của Churchill khá nghèo nàn; ông chỉ có thể gợi tới những khả năng này thông qua mẹo lừa gạt. Nhưng thế đã đủ: một kẻ như Hitler không thể chịu nổi ý nghĩ có thể tổn thương từ bất kỳ hướng nào. Cho tới năm 1942, các lực lượng của ông ta đã trải dài qua những khu vực rộng lớn của châu Âu, và mánh khóe của Churchill khiến ông ta trải nó mỏng thêm ra. Vào một thời điểm, một đòn nghi binh đơn giản ở Balkans khiến ông ta giữ lại các lực lượng dự tính xâm lược Nga, mà cuối cùng đã khiến ông trả một giá đắt. Hãy nuôi dưỡng những nỗi sợ hãi của những kẻ hoang tưởng và họ sẽ bắt đầu tưởng tượng ra những cuộc tấn công mà thậm chí bạn chưa bao giờ nghĩ tới; bộ não quá nóng của họ sẽ giúp ích nhiều cho cuộc bao vây của bạn.

Khi tướng Hannibal của Carthage đang hoạch định cái mà hóa ra có lẽ là cuộc bao vây dữ dội nhất trong lịch sử - chiến thắng của ông trong trận Cannae năm 216 tr CN., ông nghe các điệp viên của mình báo rằng một trong những viên tướng La Mã đối địch, Varro, là một gã nóng nảy bộp chộp, ngạo mạn và khinh người. Quân số của Hannibal chỉ bằng phân nửa quân số địch, nhưng ông đã có hai quyết định chiến lược xoay chuyển được tình thế. Đầu tiên, ông dẫn dụ quân La Mã tới một địa hình nhỏ hẹp, nơi quân số đông của nó sẽ khó bề xoay trở. Thứ hai, ông làm suy yếu trung tâm các tuyến của mình, đặt những cánh quân và kỵ binh giỏi nhất ở hai đầu mé ngoài của các tuyến. Dưới sự dẫn dắt của Varro nhẹ dạ, quân La Mã tấn công vào trung tâm, đã được bỏ lỏng và ngày càng tiến xa hơn. Khi này, giống như quân Zulu đã bao vây quân Anh vào giữa hai nhánh sừng, hai đầu ngoài của tuyến quân Carthage ép vào trong, vây chặt quân La Mã trong một vòng ôm chặt chẽ và chết người.

Những kẻ bốc đồng, mạnh bạo và ngạo mạn thường đặc biệt dễ mắc vào những cái bẫy của các chiến lược bao vây: hãy vờ như suy yếu hay ngờ nghệch và họ sẽ tấn công mãi mà không hề dừng lại để tự hỏi họ đang tới đâu. Nhưng bất kỳ một yếu điểm về cảm xúc ở phía đối thủ, hoặc bất kỳ mong muốn lớn lao hoặc khát khao chưa thực hiện nào cũng có thể trở thành một thành tố của sự bao vây.

  Đó là cách mà Iran đã bao vây Ban điều hành của Tổng thống Ronald Reagan năm 1985-86, trong cái gọi là vụ áp phe Iran - Contra [Iran-Contra Affair]. Mỹ đang dẫn đầu một lệnh cấm vận quốc tế việc bán vũ khí tới Iran. Trong việc chống lại cuộc tẩy chay này, Iran nhận ra hai yếu điểm của Mỹ: thứ nhất. Quốc Hội đã cắt giảm ngân sách tài trợ cho cuộc chiến của phe Contras chống lại chính phủ Sandinista ở Nicaragua, và thứ hai, Ban điều hành đang náo động sâu sắc bởi con số gia tăng của những người Mỹ đang bị bắt làm con tin ở Trung Á. Lợi dụng những vụ việc này, Iran có thể dẫn dụ người Mỹ vào một cái bẫy giống như cái bẫy Cannae: họ sẽ hành động để giải phóng những con tin và bí mật tài trợ cho nhóm Contras để đổi lấy vũ khí.

Việc này dường như quá tốt không có gì để chống đối, nhưng khi Mỹ bước xa hơn vào chiếc màng nhện lá mặt lá trái này (những giao dịch hậu trường, những cuộc họp bí mật) họ có thể nhận ra chỗ trống để tung hoành của mình dần thu hẹp lại: Iran có thể yêu cầu nhiều hơn và đánh đổi lại ít hơn. Cuối cùng họ được khá nhiều vũ khí trong khi Mỹ chỉ được một nắm con tin và không đủ tiền để tạo nên thay đổi ở Nicaragua. Tệ nhất là, Iran công khai với các nhà ngoại giao khác về những giao dịch “bí mật” này, khép kín vòng vây của họ bằng cách đảm bảo rằng nó sẽ được tiết lộ ra cho công chúng Mỹ. Với những quan chức có liên quan đến vụ áp phe này, không còn con đường nào để thoát khỏi cái mớ bùng nhùng mà họ đã bị lôi vào. Cảm thấy sức ép nặng nề từ mọi phía khi thông tin về vụ giao dịch được đưa ra công chúng, các nỗ lực để che đậy hay lý giải nó chỉ khiến cho tình thế thêm tồi tệ.

Khi dẫn dụ kẻ thù vào một cái bẫy như thế, hãy luôn cố làm cho họ cảm thấy như thể chính họ đang kiểm soát tình huống. Họ sẽ tiến xa hơn theo ý muốn của bạn. Nhiều người Mỹ dính vào vụ Iran-Contra đã từng tin rằng họ là người đang lừa bịp những người Iran ngây thơ.

Cuối cùng, đừng chỉ đơn giản hành động để bao vây các lực lượng hoặc các cảm xúc nhất thời của đối thủ, mà hơn thế, nên bao vây toàn bộ chiến lược của họ - thật sự là toàn bộ cấu trúc khái niệm của họ. Hình thức tối thượng này của sự bao vây bao gồm trước hết là việc nghiên cứu các bộ phận cứng nhắc, có thể dự báo trong chiến lược của đối thủ, rồi vạch ra một chiến lược mới mẻ của chính bạn vượt ra khỏi kinh nghiệm của họ. Khi chiếm lấy quân đội của Hồi giáo, Nga, Ba Lan, Hungary và hệ các dân tộc Teutonic, quân Mông Cổ không chỉ đơn giản đánh bại họ, mà đã hủy diệt họ - bằng cách phát minh ra một kiểu thức chiến tranh cơ động mới để sử dụng chống lại một kẻ thù sa lầy trong những phương thức chiến tranh cổ xưa hàng nhiều thế kỷ. Kiểu ghép đôi bất tương xứng về chiến lược này có thể dẫn tới chiến thắng không chỉ trong một trận đánh bất kỳ mà cả trong những chiến dịch vĩ mô mục tiêu tối hậu trong bất kỳ dạng thức chiến tranh nào.

Tư liệu: Nhốt một con khỉ vào chuồng, và nó cũng giống như một con heo, không phải vì nó không thông minh và nhanh nhẹn, mà vì nó không có chỗ để tự do thực hiện những khả năng của mình.
                        Hoài Nam Tử (thế kỷ 2 tr CN.)
Hình ảnh: Sợi thòng lọng. Khi nó đã tròng vào cổ, không còn lối thoát, không còn hy vọng. Với ý nghĩ bị mắc vào dây thòng lọng, kẻ thù sẽ trở nên tuyệt vọng, những nỗ lực điên cuồng để thoát ra chỉ khiến cho sự hủy diệt của nó tới nhanh hơn.

HOÁN VỊ

Nguy cơ của việc bao vây là trừ khi nó hoàn toàn thành công, nó có thể đưa bạn vào một vị trí dễ tổn thương. Bạn đã công khai các kế hoạch của mình. Kẻ thù biết rằng bạn đang cố tiêu diệt nó, và trừ khi bạn có thể nhanh chóng tung quả đấm hạ đo ván, nó sẽ hành động một cách điên cuồng không chỉ để tự vệ mà còn để tiêu diệt bạn - bởi lúc này sự hủy diệt của bạn là sự an toàn của nó. Một số kẻ bị thất bại trong việc bao vây sau đó đã phát hiện ra rằng mình bị kẻ thù bao vây ngược lại. Chỉ dùng chiến lược này khi bạn có một cơ may hợp lý để đưa nó tới một kết thúc mà bạn mong muốn.

_________________

 

Đây là một vụ tai tiếng lớn nhất trong thập niên 1980 và theo một số người, nó là lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Ban điều hành chính phủ của Reagan (Reagan’s Adminis-tration) đã giúp bán vũ khí sang Iran và dùng số tiền thu được tài trợ cho nhóm Contras. Vụ scandal này đã bị tiết lộ vào tháng11-1986. Tổng thống Reagan chối bỏ vụ việc này trên đài truyền hình quốc gia. Tuy nhiên, một tuần sau, vào ngày 13/11/1986 ông lại xác nhận trên làn sóng vô tuyến là có việc đó nhưng lại chối bỏ việc dùng một phần của cuộc trao đổi này cho những con tin. (ND) Contras: Một nhóm du kích chống cộng ở Nicaragua. (ND)

ta đã bắt kịp cậu.” Và chẳng bao lâu, cả hai chúng tôi gõ (đánh máy chữ) liên tục không ngừng, nhanh hết mức chúng tôi có thể làm. Jones thường không chấp hành tốt các mệnh lệnh, nhưng anh ta thấy rằng mình ngày càng làm việc chăm chỉ hơn
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Robert Greene

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.