Diễn dịch
Gandhi là một chiến lược gia thông minh. Vẻ ngoài mong manh, thậm chí giống như một vị thánh của ông thường khiến cho các địch thủ của ông đánh giá thấp về ông. Yếu tố cơ bản đối với bất kỳ chiến lược thành công nào là biết người biết ta, và Gandhi, được đào tạo ở London, hiểu người Anh rất rõ. Ông xem họ là những người về bản chất có tính cách tự do, những người tự cho mình là có truyền thống ủng hộ sự tự do chính trị và hành vi văn minh. Sự tự hình dung này – dù đã bị thủng lỗ chỗ với nhiều điều tương phản, như đã được chứng tỏ bởi hành vi đôi khi tàn bạo của họ ở các thuộc địa - có một ý nghĩa sâu sắc đối với người Anh. Trái lại, người Ấn, đã bị ô nhục bởi nhiều năm nô dịch cho các ông chủ người Anh của họ. Họ không có vũ khí và không có chút thế lực nào để tiến hành một cuộc chiến tranh khởi nghĩa hay du kích. Nếu họ nổi loạn một cách bạo động, như các thuộc địa khác đã làm, người Anh sẽ nghiền nát họ và rêu rao rằng phải hành động để tự vệ; sự tự hình dung về tính cách văn minh của họ sẽ chẳng hề bị tổn hại. Mặt khác, việc sử dụng bất bạo động – một tư tưởng và triết lý mà Gandhi đã tôn lên giá trị một cách sâu sắc và là một phương thức có một truyền thống phong phú ở Ấn Độ - sẽ khai thác đến mức hoàn hảo sự miễn cưỡng phải phản ứng bằng vũ lực của người Anh trừ phi tuyệt đối cần thiết. Việc tấn công những người phản kháng một cách hòa bình không phù hợp với ý thức của người Anh về sự trong sạch tinh thần của họ. Bị khiến cho có cảm giác tội lỗi và bối rối, người Anh sẽ tê liệt với sự mâu thuẫn tư tưởng và sẽ từ bỏ thế chủ động chiến lược.
Cuộc diễu hành Muối có lẽ là một ví dụ hoàn hảo về chiến lược xuất sắc của Gandhi. Trước hết, ông cố tình chon một vấn đề mà người Anh sẽ xem là vô hại, thậm chí buồn cười. Phản ứng bằng vũ lự đối với một cuộc diễu hành về muối hẳn sẽ làm một người Anh thấy khó chịu. Rồi, bằng cách xác nhận vấn đề trong lá thư gửi Irwin, Gandhi phát triển cuộc diễu hành mà không lo sợ bị đàn áp. Biểu tượng tôn giáo của ông còn có một chức năng khác: nó tăng cao tình trạng tê liệt của người Anh, những người mà bản thân họ cũng cực kỳ tin theo cách riêng của họ và không thể ủng hộ việc đàn áp một sự kiện tinh thần. Cuối cùng, như bất kỳ ông bầu gánh xiếc giỏi nào khác, Gandhi biến cuộc diễu hành thành một hình ảnh đầy kịch tính và sử dụng báo chí để mang tới cho nó sức biểu lộ tối đa.
Khi cuộc diễu hành có đủ xung lượng, đã quá trễ để dừng nó lại. Gandhi đã nhen lên một ngọn lửa, và quần chúng lúc này đã dấn sâu vào cuộc đấu tranh. Ở thời điểm này dù Irwin có làm điều gì cũng chỉ khiến cho tình thế tệ hại hơn. Cuộc diễu hành Muối không chỉ trở thành một kiểu mẫu cho các cuộc phản kháng tương lai, rõ ràng nó còn là một bước ngoặt trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Ấn Độ.
Ngày nay, nhiều người cũng ở trong trạng thái mâu thuẫn giống như người Anh về việc có sức mạnh và thẩm quyền. Họ cần sức mạnh để tồn tại, nhưng đồng thời họ cũng có một nhu cầu tương đương để tin vào sự tốt đẹp của chính mình. Trong bối cảnh này, chiến đấu với mọi người dưới bất kỳ hình thức bạo lực nào sẽ khiến cho bạn có vẻ hiếu chiến và xấu xa. Và nếu họ mạnh hơn bạn, rốt lại bạn sẽ nằm trong bàn tay họ. Thay vì thế, đỉnh cao của sự khôn ngoan chiến lược là săn lùng tội lỗi tiềm tàng và sự mâu thuẫn về tự do của mọi người bằng cách tỏ ra ôn hòa, hiền lành, thậm chí thụ động. Điều này sẽ tước vũ khí của họ và xuyên qua các tuyến phòng thủ của họ. Nếu bạn hành động để thách thức và cưỡng kháng họ, bạn phải thực hiện nó một cách hòa bình, có đạo đức và chính nghĩa. Nếu họ không thể kiềm chế và phản ứng bằng vũ lực, họ sẽ tỏ ra và cảm thấy tồi tệ; nếu họ ngần ngừ, bạn nắm được lợi thế và một lối mở để xác định động lực tổng thể của cuộc chiến. Hầu như không thể nào chống lại những người giơ cao hai tay và không cưỡng kháng theo cách thức công kích thông thường. Điều này khiến cho đối phương hoàn toàn bối rối và bất lực. Hoạt động theo cách này, bạn tiêm nhiễm tội lỗi như thể nó là một loại vũ khí. Trong một thế giới chính trị, sự cưỡng kháng thụ động theo luân lý của bạn sẽ làm kẻ thù tê liệt.
Tôi là một người tin vào hoạt động chính trị thông qua sự thỉnh nguyện, những người đại biểu và những cuộc đàm phán thân hữu. Nhưng tất cả những điều này đã lỗi thời. Tôi biết rằng đây không phải là cách để lật đổ chính quyền này. Sự nổi dậy đã trở thành tôn giáo của tôi. Cuộc chiến tranh của chúng tôi là một cuộc chiến tranh bất bạo động.Mahatma Gandhi (1869 – 1947)SỨC MẠNH THỤ ĐỘNG
Đầu năm 1820, một cuộc cách mạng nổ ra ở Tây Ban Nha, sau đó vài tháng là ở Naples, vào thời đó là một thành bang kết hợp với đế quốc Áo. Buộc phải chấp nhận các thể chế tự do theo kiểu mẫu của cách mạng Pháp trước đó khoảng 30 năm, vua của cả hai nước này có lý do để sợ rằng họ cũng phải đối mặt với cùng một định mệnh giống như Louis XIV, vị vua Pháp ở thời kỳ đó, bị xử chém vào năm 1793. Trong lúc đó, nhà cầm quyền của các thế lực lớn ở châu Âu – Anh, Áo và Phổ - run rẩy với ý nghĩ về sự náo loạn và chủ nghĩa cấp tiến đang lan qua biên giới của họ, chỉ vừa mới được củng cố gần đây nhờ việc đánh bại Napoleon. Tất cả bọn họ đều mong muốn tự bảo vệ mình và ngăn chặn làn sóng cách mạng.
Ở giữa sự rối rắm chung này, Sa hoàng Alexander I của Nga (1777-1825) đột ngột đề xuất một kế hoạch mà đối với nhiều người là một cách điều trị còn nguy hiểm hơn cả căn bệnh. Quân đội Nga là một đội quân lớn nhất và đáng sợ nhất ở châu Âu; Alexander muốn điều nó sang Tây Ban Nha và Naples, nghiền nát hai cuộc khởi nghĩa. Đổi lại, ông yêu cầu vua của hai lãnh thổ này phải thực thi một số cải cách, đem tới cho công dân của họ sự tự do lớn hơn, khiến họ hài lòng và làm giảm đi mong muốn cách mạng của họ.
Alexander xem đề xuất của ông còn hơn là một chương trình hành động để bảo vệ an ninh của các đế chế châu Âu; nó là một phần của một cuộc thánh chiến lớn, một giấc mơ mà ông đã ấp ủ ngay từ những ngày đầu lên ngôi vua. Là một tín đồ ngoan đạo, nhìn mọi sự trong phạm vi thiện và ác, ông muốn các đế chế châu Âu phải tự cải cách và tạo ra một tình huynh đệ Kito giáo giữa những nhà cầm quyền thông minh, hòa nhã với chính ông, sa hoàng, ở cương vị lãnh đạo của họ. Mặc dù những người quyền thế xem Alexander là một dạng người Nga điên khùng, nhiều người tự do và thậm chí cả những người cách mạng khắp châu Âu xem ông là một người bạn và người bảo hộ của họ, một nhà lãnh tụ hiếm có đồng cảm với mục tiêu của họ. Thậm chí còn có lời đồn rằng ông có quan hệ tiếp xúc với nhiều người cánh tả và đã ngầm thông đồng với họ.
Sa hoàng tiến xa hơn với ý tưởng của mình: lúc này ông muốn có một cuộc hội thảo giữa các thế lực lớn để thảo luận về tương lai của Tây Ban Nha, Naples và chính bản thân châu Âu, Ngoại trưởng Anh, Lord Castlereagh, viết hết thư này đến thư khác cố can ngăn ông hủy bỏ cuộc họp này. Không bao giờ là khôn ngoan khi xía vào công việc của các quốc gia khác, Castlereagh bảo; Alexander nên để cho Anh giúp chặn đứng sự náo loạn ở Tây Ban Nha, đồng minh gần gũi của nó, trong khi đó Áo sẽ làm điều tương tự với Naples. Các ngoại trưởng và lãnh tụ khác cũng viết thư cho Alexander, với cùng một lập luận như thế. Chủ yếu là để chứng tỏ một mặt trận thống nhất đang chống lại kế hoạch của ông. Thế nhưng có một người - ngoại trưởng Áo, Hoàng tử Klemens von Metternich – phản ứng với sa hoàng theo một cung cách hoàn toàn khác hẳn.
Metternich là vị ngoại trưởng nhiều quyền lực và được kính trọng ở châu Âu. Là một con người có bản chất thực tế, ông ta luôn chậm rãi trong việc với những hành động táo bạo hay đưa Áo dính líu vào bất kỳ cuộc mạo hiểm nào; an toàn và trật tự là những mối quan tâm hàng đầu của ông ta. Ông ta là một con người bảo thủ, một người tin vào những phẩm chất của hiện trạng. Nếu thay đổi xảy ra, nó phải xảy ra một cách chậm rãi. Nhưng Metternich cũng là một con người khó hiểu – một viên quan lại thanh lịch, ông ta nói ít nhưng có vẻ như luôn hành động theo chính kiến của mình. Lúc này, ông ta không chỉ ủng hộ sự triêu tập cuộc hội thảo của Alexander, mà còn có vẻ như mở ra cho sa hoàng những ý tưởng khác. Có lẽ ông ta đã thay đổi tâm tính và chuyển sang cánh tả trong những năm gần đây chăng? Một sự kiện điển hình là ông ta đã đứng ra tổ chức cuộc hội thảo vào tháng 10 năm đó ở thành phố thuộc Áo – Troppau, ngày nay thuộc Cộng hòa Czech.
Alexander vui lắm: với Metternich đứng về phía mình, ông có thể hiện thực hóa những tham vọng của mình. Tuy nhiên, khi ông tới Troppau dự hội nghị, đại biểu của các thế lực khác có thái độ ít thân thiện. Người Pháp và người Phổ tỏ vẻ lãnh đạm; Castlereagh đã từ chối không dự. Cảm thấy hơi bị cô lập, Alexander vui mừng trở lại khi Metternich đề nghị họ sẽ gặp riêng nhau để thảo luận các ý tưởng của sa hoàng. Suốt nhiều ngày, họ cùng nhau trốn biệt trong một căn phòng. Sa hoàng nói nhiều hơn, Metternich lắng nghe với vẻ chú ý thông thường của ông ta, đồng ý và gật đầu. Sa hoàng, với suy nghĩ tương đối mơ hồ, cố hết sức giải thích viễn tượng của mình về châu Âu, và sự cần thiết để các lãnh tụ dự hội nghị bày tỏ sự thống nhất tinh thần của họ. Ông không thể kềm nổi sự thất vọng vì không thể làm rõ hơn các ý tưởng của mình.
Sau nhiều ngày thảo luận, cuối cùng Metternich thú nhận rằng ông ta cũng nhìn thấy một nguy cơ về đạo đức đang sắp ập tới ở châu Âu. Phong trào cách mạng vô thần là mối tai họa của thời đại; việc nhượng bộ tinh thần cấp tiến, việc bộc lộ bất kỳ dấu hiệu nào của sự thỏa hiệp, cuối cùng sẽ dẫn tới sự hủy diệt trong tay của các lực lượng ma qủy này. Trong hội nghị Troppau, một cuộc binh biến đã nổ ra trong một trung đoàn vệ binh Nga; Metternich cảnh báo Alexander rằng đây là triệu chứng đầu tiên của một sự tiêm nhiễm cách mạng đang tấn công vào chính bản thân nước Nga. Nhờ Trời, sa hoàng, một cột trụ của sức mạnh đạo đức sẽ không nhượng bộ. Alexander sẽ phục vụ như là lãnh tụ của cuộc thánh chiến chống cách mạng này. Đó là lý do vì sao Metternich trở nên rất kích động với các ý tưởng của sa hoàng về Naples và Tây Ban Nha và cách ông diễn tả chúng.
Sa hoàng bị cuốn theo sự nhiệt tình của Metternich: họ sẽ cùng nhau đứng vững để chống lại phe cấp tiến. Dù vậy, theo cách nào đó, kết quả của cuộc đối thọai lại không phải là một kế họach để Nga xâm lấn Tây Ban Nha và Naples; thật ra, Alexander đã tự biện hộ rằng đây không phải là lúc để thúc ép vua của hai nước này cải cách chính quyền của họ - điều đó chỉ làm suy yếu thêm hai đế chế. Trước mắt, năng lượng của họ phải được dành cho việc ngăn chặn lại làn sóng cách mạng. Thực tế là sa hoàng đã bắt đầu ân hận về một số ý tưởng tự do của mình, và ông thú nhận với Metternich. Cuộc hội thảo kết thúc với một tuyên cáo về mục đích chung của các thế lực - phần lớn ngôn ngữ của nó là của sa hoàng – và một bản thỏa thuận rằng các đoàn quân Áo, chứ không phải quân Nga, sẽ giao trả lại cho vua Naples quyền lực trọn vẹn, rồi để cho ông ta theo đuổi các chính sách do ông ta chọn lựa.
Sau khi Alexander trở về Nga, Metternich viết thư ca ngợi ông. Sa hoàng nhiệt tình viết thư đáp lại: “Chúng ta đang giao chiến với lãnh địa của quỷ Satan. Các vị đại sứ không đủ cho công việc này. Chỉ có những ai mà Thượng đế đã đặt vào vị trí đứng đầu nhân dân họ mới có thể tồn tại qua cuộc đấu tranh với lực lượng ma quỷ này, nếu nhận được sự chúc phúc của Ngài.” Thực tế, sa hoàng muốn đi xa hơn; ông quay lại với ý tưởng đưa quân vào Tây Ban Nha để dập tắt cuộc cách mạng ở đó. Metternich đáp rằng điều đó không cần thiết – quân Anh đang giải quyết tình thế - nhưng một cuộc hội nghị vào năm sau có thể thay đổi vấn đề.
Đầu năm 1821, một cuộc cách mạng khác nổ ra, lần này ở Piedmont, một bang của Ý nằm ngoài quyền kiểm soát của Áo. Nhà vua buộc phải thoái vị. Ở trường hợp này Metternich hoan nghênh sự can thiệp của quân Nga, và 9 vạn quân Nga trở thành lực lượng dự bị trong quân đội Áo tiến tới Piedmont. Sự hiện diện của quân đội Nga ở quá gần biên giới của họ khiến cho quân khởi nghĩa và những người ủng hộ họ trên khắp các nước Ý khá xuống tinh thần – tất cả những người cánh tả đó từng xem sa hoàng là bạn và người bảo hộ của họ. Họ không còn nghĩ như thế nữa.
Quân Áo dập tắt cuộc cách mạng trong vòng vài tuần. Theo yêu cầu của Metternich, người Nga lịch thiệp rút các lực lượng về. Sa hoàng tự hào về ảnh hưởng đang lên của mình ở châu Âu, nhưng bằng cách nào đó ông đã dấn thân vào một việc hoàn toàn ngược hẳn với những kế hoạch ban đầu của mình về cuộc thánh chiến: thay vì là tiền phương trong cuộc đấu tranh vì tiến bộ và cải cách, ông đã trở thành một tên lính gác cho một hiện trạng bảo thủ dưới sự nhào nặn của chính Metternich. Những người xung quanh ông không thể hiểu điều này đã diễn ra như thế nào.
Diễn dịch
Hoàng tử Metternich có thể là nhà thực hành phương pháp công kích thụ động hữu hiệu nhất trong lịch sử. Những nhà ngoại giao khác đôi khi cho rằng ông ta quá cảnh giác, thậm chí nhu nhược, nhưng cuối cùng, như thể một phép mầu, ông luôn luôn đạt được điều mình muốn. Yếu tố then chốt đối với sự thành công của ông là khả năng che giấu sự công kích của mình tới mức biến nó thành vô hình.
Metternich luôn cẩn thận thăm dò đối thủ của mình. Ở trường hợp Sa hoàng Alexander, ông đối phó với một con người bị điều khiển bởi cảm xúc và dễ bị ảnh hưởng của tâm trạng. Thế nhưng sa hoàng, bên dưới vẻ ngoài mộ đạo, cũng hiếu chiến theo cách riêng của ông ta, và nhiều tham vọng; ông ta rất khao khát được lãnh đạo một cuộc thánh chiến. Trong mắt Metternich, ông ta cũng nguy hiểm như Napoleon: dưới danh nghĩa làm điều tốt cho châu Âu, một người như thế có thể đưa quân của mình từ đầu này tới đầu kia lục địa, gây ra những hỗn loạn không thể tả.
Ngáng trở con đường của quân đội Nga hùng mạnh cũng có nghĩa là tự hủy diệt. Nhưng gã Metternich mưu mô thừa biết: cố thuyết phục sa hoàng rằng ông ta sai chỉ đem lại hậu quả ngoài ý muốn là nuôi dưỡng sự bất an của ông ta và đẩy ông ta sang cánh tả, khiến ông ta thêm có xu hướng hành động một cách nguy hiểm. Thế nên vị hoàng tử phải đối xử với ông ta như với một đứa trẻ, lái các năng lượng của ông ta sang cánh hữu thông qua một chiến dịch công kích thụ động. Phần thụ động rất đơn giản: Metternich thể hiện bản thân như một người dễ phục tùng, làm theo những ý tưởng mà thật ra ông cực kỳ không đồng ý. Ví dụ, ông chấp nhận yêu cầu tổ chức hội nghị của Alexander, dù cá nhân mình phản đối nó. Thế rồi, trong những cuộc thảo luận riêng với sa hoàng ở Troppau, lúc đầu ông lắng nghe, rồi nhiệt tình đồng ý. Sa hoàng tin vào việc thể hiện một sự thống nhất tinh thần? Thế thì Metternich cũng vậy – mặc dù chính sách của riêng ông luôn có tính chất thực hành hơn là tinh thần; ông là bậc thầy về chính sách thực dụng. Ông tâng bốc những phẩm chất cá nhân của sa hoàng – ví dụ, nhiệt tình đạo đức – mà thật ra ông cho là nguy hiểm. Ông cũng khuyến khích sa hoàng đi xa hơn với các ý tưởng của ông ta.
Khi đã loại bỏ được những ngờ vực và cưỡng kháng của Alexander theo cách này, Metternich đồng thời cũng hành động một cách công kích. Ở Troppau ông hoạt động trong hậu trường để cô lập sa hoàng với các thế lực khác, để vị vua Nga trở nên phụ thuộc vào ông. Kế tiếp ông sắp xếp những cuộc gặp riêng kéo dài hàng giờ, khéo léo tiêm nhiễm vào sa hoàng ý tưởng rằng cách mạng nguy hiểm hơn nhiều so với hiện trạng và biến cuộc thánh chiến Kito giáo cấp tiến của người Nga thành một cuộc tấn công vào chính chủ nghĩa tự do. Cuối cùng, ông tìm cách dẫn dụ sa hoàng tới việc đưa quân chống cuộc nổi dậy ở Piedmont. Hành động đó vừa thật sự ràng buộc Alexander vào lý tưởng bảo thủ vừa xa lạ hóa ông ta với những người theo chủ nghĩa tự do ở châu Âu. Ông ta không còn phun ra những tuyên bố mơ hồ, khó hiểu về cánh tả nữa; cuối cùng ông ta đã hành động theo chiều hướng ngược lại. Thắng lợi của Metternich đã hoàn tất.
Dù cụm từ “công kích thụ động” có những ý nghĩa tiêu cực đối với đa số chúng ta, với tư cách là một chiến lược có ý thức, hành vi công kích thụ động đề ra một cách thức hữu hiệu để thao túng mọi người và dấy động chiến tranh cá nhân. Như Metternich, bạn phải hoạt động trên cả hai mặt trận. Ngoài mặt bạn tỏ vẻ đồng ý, nghiêng theo ý tưởng, năng lượng và ý chí của mọi người, thay đổi hình dạng như chính Proteus. Hãy nhớ: mọi người đều ngoan cố và ngang bướng. Trực tiếp phản kháng họ hay cố thay đổi các ý tưởng của họ thường đem đến hậu quả ngược lại. Mặt khác, một vẻ ngoài tuân phục, thụ động, chẳng đem đến gì để họ chống lại hay đề kháng. Xuôi theo năng lượng của họ sẽ đem tới cho bạn sức mạnh lái nó theo chiều hướng bạn mong muốn, giống như bạn mở dòng chảy cho một con sông thay vì đắp đập ngăn nó lại. Đồng thời, phần công kích trong chiến lược của bạn khoác hình thức tiêm nhiễm mọi người với những thay đổi tinh vi trong ý tưởng của họ và với một năng lượng khiến họ hành động với tư cách của bạn. Việc họ không thể đoán ra điều bạn đang tập trung vào tạo cho bạn khoảng trống để hoạt động ở hậu trường, kiểm soát sự tiến triển của họ, cô lập họ với những người khác, dẫn dụ họ vào những động thái nguy hiểm khiến họ phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Họ nghĩ bạn là một đồng minh. Phía sau một vẻ ngoài vui vẻ, tuân phục, thậm chí nhu nhược, bạn đang là kẻ giật dây.
Đây là thành tựu thật sự của chính sách của Metternich. Nó đã giết chết chủ nghĩa tự do của Nga và thống trị được địch thủ nguy hiểm nhất của Áo dưới chiêu bài tuân phục ông ta.Henry Kissinger. Một thế giới khôi phục lại. (1957)
CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN
Loài người chúng ta có một hạn chế riêng biệt với những năng lực lý trí, điều đó gây ra cho chúng ta vô số rắc rối: khi nghĩ tới một người hay một điều nào đó đã xảy ra với mình, nói chung chúng ta có xu hướng nghiêng theo sự diễn dịch đơn giản nhất, dễ tiêu hóa nhất. Một người bạn là tốt hay xấu, phóng khoáng hay keo kiệt, những dự tính của anh ta cao quý hay hèn hạ; một sự kiện là tích cực hay tiêu cực, có ích hay có hại, chúng ta hạnh phúc hay buồn bã. Sự thật là không bao giờ trong cuộc sống lại có thứ đơn giản như thế. Mọi người đều là những biến thể khác nhau của một sự tổng hòa các phẩm chất tốt và xấu, mạnh và yếu. Các dự định của họ có thể có ích đồng thời có hại, kết quả của những cảm giác mơ hồ của họ đối với chúng ta. Ngay cả một sự kiện tích cực nhất cũng có một khía cạnh không hay. Và chúng ta thường cảm thấy vui sướng và buồn bã cùng một lúc. Giảm thiểu mọi sự vào phạm vi đơn giản hơn khiến chúng ta dễ xử lý chúng hơn, nhưng do nó không dính dáng tới thực tế, nó cũng có nghĩa là chúng ta thường xuyên hiểu sai và cảm nhận sai. Với chúng ta, điều mang lại một ích lợi vô hạn là cho phép có nhiều sắc thái và sự mâu thuẫn hơn trong các phán xét của chúng ta đối với mọi người và mọi sự kiện.
Khuynh hướng phán xét mọi sự trong phạm vi đơn giản của chúng ta lý giải vì sao sự công kích thụ động lại là một chiến lược vô cùng hiệu quả và vì sao có rất nhiều người sử dụng nó – một cách ý thức hoặc vô ý thức. Theo định nghĩa, những người hành động có tính cách công kích thụ động – vừa thụ động, vừa công kích cùng một lúc. Bề ngoài, họ có vẻ phục tùng, thân thiện, ngoan ngoãn, thậm chí đáng yêu. Đồng thời, bên trong họ lại mưu mô và hành động một cách thù địch. Sự công kích của họ thường rất tinh vi – những hành vi phá hoại nho nhỏ, những nhận xét nhằm luồn vào lòng dạ bạn. Nó cũng có thể có hại một cách hiển nhiên.
Khi là nạn nhân của hành vi này, chúng ta thấy khó mà hình dung được hai sự việc này lại xảy ra cùng một lúc. Chúng ta có thể chịu được ý nghĩ rằng một người hôm nay tốt và hôm sau xấu; đó chỉ là vấn đề tâm trạng. Nhưng tốt và xấu cùng một lúc – điều đó làm chúng ta rối trí. Chúng ta có xu hướng lấy vẻ ngoài thụ động của mọi người làm thực tế, cảm nhận theo vẻ ngoài vui vẻ, không có gì đe dọa của họ. Nếu chúng ta nhận ra rằng có điều gì đó không hoàn toàn đúng, rằng trong khi tỏ ra thân thiện họ có thể làm điều gì đó thù địch, chúng ta sẽ hoàn toàn lúng túng hoang mang. Sự bối rối này sẽ đem lại cho tên chiến binh công kích thụ động một sức mạnh lớn lao để thao túng chúng ta.
Có hai loại công kích thụ động. Thứ nhất là chiến lược có ý thức theo kiểu của Metternich. Thứ hai là hành vi bán ý thức hay thậm chí vô ý thức mà mọi người sử dụng trong mọi lúc đối với các vấn đề nhỏ nhặt hoặc không nhỏ nhặt của cuộc sống hàng ngày. Bạn có thể chấp nhận tha thứ cho dạng người công kích thụ động thứ hai này, kẻ dường như không nhận thức được những hậu quả hành động của mình hay không thể dừng lại được, nhưng thường là mọi người hiểu điều mà họ đang làm hơn bạn tưởng nhiều, và có khả năng bạn sẽ mù quáng vì vẻ ngoài bất lực và thân thiện của họ. Nói chung, chúng ta quá khoan dung với dạng thứ hai này.
Điều then chốt để sử dụng sự công kích thụ động như là một chiến lược chủ động, có ý thức là vẻ ngoài mà bạn thể hiện với kẻ thù. Không bao giờ nên để cho họ phát hiện ra những ý tưởng ảm đạm, thách thức diễn ra bên trong bạn.
Năm 1802, nơi hiện nay là Haiti là thuộc địa của Pháp bị xé nát bởi một cuộc nổi dậy của những nô lệ da đen dưới quyền lãnh đạo của Toussaint L’ouverture. Năm đó, một đạo quân do Napoleon điều tới để dập tắt cuộc khởi nghĩa đã tìm cách tóm được Toussaint bằng mưu mẹo và chở ông tới Pháp, nơi cuối cùng ông chết trong nhà tù. Một trong số những tướng lĩnh nhiều thành tích nhất của Toussaint là Jean Jacques Dessalines, lúc bấy giờ đầu hàng quân Pháp và thậm chí phục vụ trong quân đội của họ, giúp họ dập tắt những nhóm phiến quân bị cô lập và được họ mến mộ. Nhưng tất cả chỉ là một thủ đoạn: khi Dessalines đàn áp những tàn dư của cuộc khởi nghĩa này, ông thường nộp những vũ khí thu được cho quân Pháp, nhưng ông luôn bí mật giữ lại một số, cất giấu cho tới khi có một nguồn vũ khí dồi dào. Đồng thời ông xây dựng và huấn luyện một đội quân khởi nghĩa mới ở những khu vực hẻo lánh. Thế rồi, nhân cơ hội dịch sốt vàng da làm giảm đi quân số Pháp, ông ra mặt thù địch. Trong vòng vài năm, ông đã đánh bại quân Pháp và giải phóng Haiti khỏi ách thuộc địa mãi mãi.