| THÔNG TIN BẢN NĂNG Làm việc lần đầu với đạo diễn phim Alfred Hitchcock nói chung là một kinh nghiệm bối rối. Ông không thích nói nhiều về những phân cảnh của những cuốn phim – chỉ là những nhận xét thông minh và đôi khi mai mỉa. Có phải ông chủ định làm ra vẻ bí ẩn không? Hay chỉ là do tính lặng lẽ? Và làm thế nào người ta đạo diễn một cuốn phim, phải chỉ đạo rất nhiều người xung quanh mà không nói nhiều và đưa ra những hướng dẫn cụ thể? |
Tính cách khác thường này của Hitchcock là vấn đề phiền toái nhất đối với các diễn viên của ông. Nhiều người trong số họ đã quen với việc được các đạo diễn chiều chuộng, thảo luận chi tiết về những nhân vật họ diễn xuất, và cách để nhập vai. Hitchcock chẳng làm điều gì như thế cả. Trong các cuộc tổng duyệt ông nói rất ít, khi quay cũng vậy, các diễn viên thường liếc nhìn ông để tìm kiếm sự hài lòng nhưng chỉ tìm thấy ông đang chợp mắt hay tỏ ra chán ngán. Theo nữ diễn viên Thelma Ritter, “Nếu Hitchcock thích cảnh bạn đã diễn, ông không nói gì cả. Nếu không thích, ông tỏ vẻ như sắp sửa nôn.” Thế nhưng, theo cách thức gián tiếp của riêng mình, ông đã làm cho các diễn viên thực hiện điều chính xác mà ông muốn.
Vào ngày đầu tiên bấm máy phim The 39 Steps năm 1935, hai diễn viên chính của Hitchcock, Madeleine Carroll và Robert Donat, tới phim trường với một chút căng thẳng. Hôm đó họ sẽ đóng một trong những cảnh phức tạp của cuốn phim: hai kẻ xa lạ, tuy nhiên, đã bị còng tay cùng nhau trước đó, và vẫn bị còng tay, buộc phải chạy qua vùng nông thôn Scotland (thật ra là một cảnh dựng) để tẩu thoát khỏi những tên tội phạm. Hitchcock không đưa ra dấu hiệu thật sự nào về cách thức ông muốn họ diễn. Carroll nói riêng rất chán cung cách của người đạo diễn này. Nữ diễn viên người Anh này, một trong những ngôi sao điện ảnh thanh lịch nhất thời kỳ đó, đã trải qua phần lớn sự nghiệp ở Hollywood, nơi các đạo diễn đối xử với bà như một nữ hoàng. Trái lại, Hitchcock rất giữ khoảng cách, khó mà đoán được. Bà quyết định diễn với một vẻ chững chạc và dè dặt, cung cách mà bà cho là một phu nhân sẽ phản ứng với tình thế bị còng tay với một người lạ. Để vượt qua sự căng thẳng, bà trò chuyện với Donat, cố đưa cả ông ta và bà vào một tâm trạng cộng tác.
Khi Hitchcock tới phim trường, ông giải thích phân cảnh với hai diễn viên, gắn còng tay vào họ, và dẫn họ đi qua phim trường, băng qua một cây cầu giả và giữa những dàn cảnh khác. Thế rồi, ở giữa cuộc thao diễn này, ông đột ngột được gọi đi tham dự một cuộc họp kỹ thuật. Ông sẽ sớm quay lại, họ có thể giải lao. Ông cảm thấy chiếc khóa còng nằm trong túi mình, nhưng không, ông phải đánh mất nó, và ông vội vã tỏ vẻ như tìm kiếm nó. Nhiều giờ trôi qua. Donat và Carroll càng quẩn trí và bối rối; đột nhiên họ không kiểm soát được mình, một cảm giác rất bất thường đối với hai ngôi sao này ở phim trường . Trong khi ngay cả những thành viên khiêm nhường nhất của đoàn cũng thoát khỏi công việc, hai ngôi sao lại dính chùm vào nhau. Sự thân cận và không thoải mái miễn cưỡng của họ khiến họ không thể nói đùa với nhau như trước. Thậm chí họ không thể đi vào nhà vệ sinh được! Thật là bẽ bàng.
| Hitchcock quay lại vào lúc chiều – ông đã tìm thấy chìa khóa. Cảnh quay bắt đầu, nhưng khi các diễn viên bước vào vai diễn, họ khó mà vượt qua trải nghiệm của ngày hôm đó; sự bình thản thông thường của hai ngôi sao không còn nữa. Carroll đã quên mọi ý nghĩ của mình về cách phải diễn phân cảnh đó. Thế nhưng, mặc cho sự giận dữ của bà và Donat, cảnh quay dường như trôi chảy với một vẻ tự nhiên bất ngờ. Lúc này họ biết bị cột với nhau là thế nào rồi; họ đã cảm nhận được sự khó khăn bất tiện, vì thế không cần phải diễn nó. Nó đến từ bên trong. Bốn năm sau Hitchcock làm phim Rebecca với Joan Fontaine và Laurence Olivier. Fontaine, ở tuổi 21, đang diễn vai chính đầu tiên của cô, cảm thấy căng thẳng khủng khiếp khi đóng cặp với Olivier, người đã được công nhận rộng rãi là một thiên tài điện ảnh. Một đạo diễn khác có thể xoa dịu sự mất tự tin của cô, nhưng Hitchcock dường như lại làm điều ngược lại. Ông chọn cách kể lại câu chuyện ngồi lê đôi mách từ các diễn viên và thành viên đoàn làm phim khác: không ai nghĩ rằng cô phù hợp với vai diễn này, và Oliver thật sự muốn vợ ông ta, Vivien Leigh, đóng vai đó. Fontaine cảm thấy hoảng sợ, bị cô lập và hoang mang – chính xác theo những tính cách của nhân vật trong phim của ông. Cô hầu như không cần diễn xuấtVà vai diễn đáng nhớ của cô trong Rebecca đã khởi đầu cho một sự nghiệp rực rỡ. Khi Hitchcock làm phim The Paradise Case năm 1947, nữ diễn viên chính của ông, Ann Todd, xuất hiện trong phim trường Hollywood lần đầu và rất căng thẳng. Vì thế trước khi bấm máy, Hitchcock kể cho cô nghe một câu chuyện đặc biệt tục tĩu khiến cô phải cười nắc nẻ hoặc nín thở vì bị sốc. Trước một cảnh trong đó cô phải nằm trên giường trong một bộ đồ ngủ xinh xắn, Hitchcock đột nhiên phóng vào cô, hét lên: “Thư giãn!” Những trò hề như thế khiến cô thấy dễ chịu, thoát khỏi sự ức chế và trở nên tự nhiên hơn. Khi đoàn làm phim đã mệt mỏi ở phim trường, hoặc khi họ lơ đãng và tán gẫu nhiều hơn là tập trung vào công việc, Hitchcock không bao giờ la hét hay than phiền. Ông chỉ đập vỡ một cái bóng đèn nhỏ hay ném tách trà vào tường; mọi người sẽ nhanh chóng nghiêm túc và lấy lại sự tập trung. Rõ ràng Hitchcock không tin vào ngôn ngữ và những lời giải thích, mà ông thích hành động với ý nghĩa là một cách thông tin hơn là lời nói, và sở thích này được mở rộng cho hình thức và nội dung các cuốn phim của ông. Điều đó đặc biệt gây khó khăn cho những biên kịch; nói cho cùng, công việc của họ là đưa vào phim những lời đối thoại. Trong những cuộc họp bàn về cốt truyện phim, Hitchcock thảo luận về các ý tưởng mà ông chú ý – những chủ đề như tính cách nhị bội của mọi người, khả năng vừa tốt vừa xấu của họ, thực tế rằng không ai trên thế giới thật sự vô tội. Những nhà văn thường viết ra những trang đối thoại thể hiện ý tưởng của họ một cách thanh nhã và tinh tế, chỉ để phát hiện chúng đã được cải biên thành hành động và hình ảnh. Ví dụ, trong Vertigo (1958) và Psycho (1960), Hitchcock đưa những chiếc gương vào nhiều cảnh; trong Spellbound (1945) lại là những cảnh quay về các đường trượt băng và những dạng đường song song khác. Vụ giết người trong Strangers on a Train (1951) bị vạch trần thông qua phản ảnh của nó trong hai cái ly. Hiển nhiên, đối với Hitchcock, những hình ảnh như thế hé lộ các ý tưởng của ông về tính nhị bội trong tâm hồn con người tốt hơn là những ngôn từ, nhưng trên giấy dường như điều này đã được trù tính sẵn. Trong phim trường, các nhà sản xuất những cuốn phim của Hitchcock thường theo dõi trong nỗi hoang mang khi nhà đạo diễn dời camera, chứ không phải những diễn viên, để dựng những cảnh quay. Điều này dường như vô nghĩa, như thể ông yêu thích khía cạnh kỹ thuật của việc làm phim hơn là lời thoại và sự hiện diện của con người. Các nhà biên tập cũng không thể đo lường được sự ám ảnh của ông đối với âm thanh, màu sắc, kích cỡ đầu của các diễn viên trong khung hình, tốc độ di chuyển của mọi người - dường như ông thích những chi tiết thị giác nhiều vô tận này hơn là bản thân câu chuyện. Và khi cuốn phim đã là một sản phẩm hoàn tất, đột nhiên mọi thứ có vẻ quái lạ về phương pháp của ông đã có một ý nghĩa hoàn hảo. Khán giả thường phản ứng với các cuốn phim của Hitchcock một cách sâu sắc hơn so với phim của các đạo diễn khác. Những hình ảnh, nhịp điệu, các chuyển động của camera cuốn họ đi và luồn vào tâm trí họ. Một cuốn phim của Hitchcock không chỉ để xem, nó được trải nghiệm, và nó ở lại trong tâm trí rất lâu sau khi xem xong. Diễn dịch Trong các cuộc phỏng vấn, Hitchcock thường kể một câu chuyện về thời thơ ấu của ông: khi ông khoảng 6 tuổi, cha ông phiền lòng với một điều gì đó ông đã làm, gửi ông tới đồn cảnh sát địa phương với một mảnh ghi chú. Viên sĩ quan trực đọc mảnh giấy rồi nhốt Hitchcock vào một phòng giam, bảo: Đây là điều mà chúng ta làm đối với một cậu bé hư.” Chỉ một vài phút sau ông được thả ra, nhưng ấn tượng đã in đậm dấu trong ông. Nếu cha ông la mắng, như phần lớn các ông bố khác, hẳn ông đã trở nên phòng thủ và chống đối. Nhưng việc bỏ rơi một mình ông, bị vây quanh bởi những nhân vật có thẩm quyền đáng sợ, trong một phòng giam tối, với cái thứ mùi lạ lẫm của nó – đó là một cách thông tin mạnh mẽ hơn nhiều. Như Hitchcock đã phát hiện, để dạy cho mọi người một bài học, để thực sự cải biến hành vi của họ, bạn phải cải biến kinh nghiệm của họ, nhằm vào những cảm xúc của họ, đưa những hình ảnh không thể nào quên vào tâm trí họ, khuấy động họ. Trừ phi bạn có tài hùng biện cực kỳ, khó mà thực hiện điều này thông qua ngôn từ và sự diễn tả trực tiếp. Đơn giản là có quá nhiều người nói chuyện với chúng ta, cố thuyết phục chúng ta về điều này điều nọ. Ngôn từ trở thành một phần của tiếng ồn này, và hoặc chúng ta bỏ ngoài tai, hoặc trở nên đề kháng hơn. Để thông tin theo một cách thật sự sâu sắc, bạn phải đưa mọi người quay về tuổi thơ của họ, khi họ ít phòng thủ hơn và dễ bị ấn tượng hơn với những âm thanh, hình ảnh, hành động, và một thế giới thông tin phi ngôn từ. Nó đòi hỏi phải nói bằng một loại ngôn ngữ có chứa đựng hành động, tất cả được sắp xếp một cách chiến lược để tác động tới tâm trạng và cảm xúc của mọi người, cái mà họ ít có khả năng kiểm soát nhất. Đó chính xác là thứ ngôn ngữ mà Hitchcock đã phát triển và hoàn thiện trong nhiều năm. Với các diễn viên, ông muốn họ diễn xuất theo cách tự nhiên nhất, về bản chất là khiến cho họ không diễn xuất. Bảo họ thư giãn hay tự nhiên sẽ phí lời; nó chỉ khiến họ thêm lúng túng và phòng thủ. Thay vì thế, giống như cha ông đã khiến cho ông cảm thấy hãi hùng trong một đồn cảnh sát, ông khiến cho họ cảm nhận những cảm xúc của cuốn phim: bối rối, hiu quạnh, mất tự tin. (Tất nhiên ông đã không đánh mất chìa khóa còng tay ở đâu đó trong phim trường The 39 Steps, như Donat sau đó phát hiện; sự giả vờ đánh mất đó là một chiến lược). Thay vì thúc đẩy các diễn viên với những lời nói cáu kỉnh, đến từ bên ngoài và sẽ bị bỏ ngoài tai, Hitchcock biến những cảm giác này thành một phần của kinh nghiệm nội tâm của họ - và điều này được thông tin ngay lập tức trên màn ảnh. Với khán giả cũng vậy, Hitchcock không bao giờ rao giảng một thông điệp. Ông chỉ sử dụng sức mạnh thị giác của cuốn phim để đưa họ quay về tình trạng ấu thơ khi mà những hình ảnh và những biểu tượng có một tác động lớn lao. Trong những trận chiến của đời sống, nhất thiết phải có khả năng thông tin những ý tưởng của bạn cho mọi người, có khả năng cải biến hành vi của họ. Thông tin là một hình thức thực hiện chiến tranh. Ở đây kẻ thù của bạn có tính cách phòng thủ; họ muốn được để yên với những định kiến và niềm tin sẵn có của họ. Càng thâm nhập sâu vào các tuyến phòng ngự của họ, bạn càng chiếm lĩnh được nhiều không gian tinh thần của họ, càng thông tin một cách hữu hiệu. Trong phạm vi lời nói, đa số mọi người phát động một dạng chiến tranh xưa cổ, sử dụng ngôn từ, lời nài nỉ và kêu gọi sự chú ý như những chiếc rìu và gậy để đánh vào đầu đối thủ. Nhưng trong việc quá trực tiếp, họ chỉ khiến cho các mục tiêu đề kháng nhiều hơn. Thay vì thế, bạn phải học chiến đấu một cách gián tiếp và phi truyền thống, lừa cho mọi người hạ thấp sự phòng thủ của họ - tấn công vào cảm xúc của họ, cải biến kinh nghiệm của họ, làm họ choáng váng với những hình ảnh, những biểu tượng đầy sức mạnh, và những ám chỉ cảm giác bản năng. Đưa họ quay về trạng thái ấu thơ khi họ dễ bị tổn thương và linh hoạt hơn, ý tưởng được thông tin sẽ xâm nhập sâu vào những tuyến phòng ngự của họ. Vì bạn không chiến đấu theo cách thông thường, bạn sẽ có một sức mạnh khác thường.
Giáo sỹ Ryokan…yêu cầu thiền sư Bukkan…giải thích về Tứ Diệu Đế…Bukkan bảo: “Để giải thích về Tứ Diệu Đế không cần phải nhiều lời.”Ông rót đầy trà vào một tách trà màu trắng, uống cạn, rồi đập vỡ tan chiếc tách trước mặt vị giáo sĩ, nói rằng, “Ông đã hiểu rồi chứ?” Giáo sĩ nói: Đa tạ sự chỉ dạy ở đây và lúc này của ngài, tôi đã thâm nhập ngay vào lĩnh vực của Nguyên tắc và Sự kiện.” BẬC QUÂN SƯ Năm 1498, Niccolo Machiavelli 29 tuổi được bổ nhiệm làm thư ký của Tòa ngoại vụ Florence, quản lý các vấn đề đối ngoại. Sự chọn lựa khá khác thường. Machiavelli có xuất thân tương đối thấp, không có kinh nghiệm về chính trị, và thiếu một bằng cấp về luật hay một chứng chỉ chuyên môn khác. Tuy nhiên, ông có một người đỡ đầu trong chính quyền Florence, kẻ biết rõ về ông và nhìn thấy tiềm năng lớn lao ở ông. Và thật vậy, trong vài năm tiếp theo, Machiavelli nổi bật so với các đồng sự ở Tòa như là một người không mệt mỏi, những bản báo cáo sắc sảo về các vấn đề chính trị, và sự cố vấn xuất sắc của ông cho những vị đại sứ và bộ trưởng. Ông được đề cử những công vụ uy tín, du lịch vòng quanh Châu Âu với các sứ mệnh ngoại giao – tới nhiều vùng ở Bắc Ý để gặp Cesare Borgia, tìm hiểu những dự tính của nhà lãnh đạo tàn nhẫn này đối với Florence; tới Pháp gặp Vua Louis XII; tới Rome để bàn bạc với Giáo hoàng Julius II. Có vẻ như ông đang khởi đầu một sự nghiệp sáng chói. Tuy nhiên, không phải mọi sự đều tốt đẹp trong sự nghiệp của Machiavelli. Ông than phiền với bạn hữu về mức lương thấp của Tòa; ông cũng tả lại công việc vất vả trong những cuộc đàm phán. Nhiều người bên trên ông, ông bảo, ngu ngốc và lười nhác, được bổ nhiệm vào chức vụ của họ nhờ gia thế và các mối quan hệ. Ông đang phát triển một nghệ thuật để đối phó với những người này, ông bảo những người bạn, tìm ra một cách để sử dụng họ thay vì bị sử dụng. Trước khi Machiavelli tới Tòa, Florence do gia tộc Medicis cai trị. Tuy nhiên, họ đã bị lật đổ vào năm 1494, khi thành phố trở thành một nước cộng hòa. Năm 1512, Giáo hoàng Julius II tài trợ một quân đội để chiếm Florence bằng sức mạnh, lật đổ chế độ cộng hòa và khôi phục quyền lực của gia tộc Medicis. Kế hoạch thành công, và gia tộc Medicis nắm quyền kiểm soát; vậy là họ mang một món nợ với Julius. Một vài tuần sau, Machiavelli bị tống giam, với một tội danh mơ hồ là thông đồng chống lại dòng họ Medicis. Ông bị tra tấn nhưng từ chối cung khai, dù là về mình hay về người khác. Được thả ra vào tháng 3/1513, ông về nghỉ hưu trong nỗi ô nhục ở một nông trại nhỏ của gia đình tại vùng ngoại ô, cách Florence chừng vài dặm. Machiavelli có một người bạn chí thân là Francesco Vettori, người đã tìm cách sống sót trong cuộc thay đổi chính quyền và làm thân được với gia tộc Medicis. Mùa xuân năm 1513, Vettori bắt đầu nhận được những lá thư trong đó Machiavelli mô tả cuộc sống mới của ông. Ban đêm, ông nhốt mình trong phòng đọc sách và đối thoại trong đầu với những nhân vật lớn trong lịch sử, cố gắng khám phá những bí ẩn về quyền lực của họ. Ông muốn gom lại nhiều điều mà ông học được về chính trị và thuật trị nước. Và, ông viết cho Vettori, ông đang viết một cuốn sách gọi là De principatibus – về sau gọi là The Prince (Quân vương) – “trong đó tôi đào sâu hết khả năng vào những ý tưởng về chủ đề này, thảo luận về bản chất của chế độ cai trị của quân vương, hình thức của nó, cách thức thủ đắc của những hình thức này, và cách duy trì chúng, cách chúng đã biến mất.” Tri thức và lời khuyên trong quyển sách này có thể giá trị đối với một ông hoàng hơn là một quân đội lớn – có lẽ Vettori có thể trao nó cho một người trong họ Medicis, Machiavelli rất vui lòng cung hiến nó cho ông ta. Gia tộc này có thể sử dụng tốt “những ông hoàng mới”. Nó cũng có thể hồi sinh lại sự nghiệp của Machiavelli; vì ông đang chán nản với sự cách ly khỏi chính trị của mình. Vettori chuyển quyển sách tới Lozenro de’ Midici. Ông ta nhận nó với sự chú ý không nhiều hơn so với hai con chó săn mà ông ta cũng nhận được vào lúc ấy. Thật sự, Quân vương thậm chí đã làm Vettori rối trí: lời khuyên của nó đôi khi tàn bạo và vô đạo đức, thể nhưng ngôn ngữ của nó hoàn toàn vô tư và chân thật – một sự pha trộn kỳ lạ và khác thường. Tác giả đã viết sự thật, nhưng hơi táo bạo một chút. Machiavelli cũng gởi bản thảo tới những bạn bè khác, những người cũng không biết chắc phải làm gì với nó. Có lẽ nó được dự tính như một bài văn châm biếm? Bạn bè của Machiavelli biết rõ sự khinh thị của ông đối với giới quý tộc quyền thế nhưng không có đầu óc. Chẳng bao lâu sau, Machiavelli viết một cuốn sách khác, sau này gọi là The Discourses (Những cuộc luận đàm), một sản phẩm cô đọng từ các cuộc chuyện trò của ông với bạn hữu từ khi ông thất sủng. Một chuỗi suy tư về chính trị, cuốn sách chứa đựng cùng những lời khuyên như cuốn trước nhưng hướng tới việc thiết lập một nước cộng hòa hơn là những hành động của một ông hoàng đơn độc. Trong vài năm tiếp theo, Machiavelli dần được sủng ái lại và được cho phép tham gia vào các công vụ của Florence. Ông viết vở kịch Mandragola, dù khiếm nhã, đã được giáo hoàng hâm mộ và dàn dựng ở Vatican; ông cũng được giao viết một quyển sách sử về Florence. Quân vương và Những cuộc luận đàm vẫn không được xuất bản, nhưng chúng được lưu hành ở dạng bản thảo giữa những nhà lãnh tụ và chính trị gia ở Ý. Số đọc giả của nó quá ít, và khi Machiavelli qua đời năm 1527, viên cựu thư ký của chế độ cộng hòa dường như đã được Trời đinh cho quay về với sự tối tăm mà từ đó ông xuất hiện. Tuy nhiên, sau khi Machiavelli chết, hai tác phẩm chưa xuất bản của ông đã được lưu hành bên ngoài nước Ý. Năm 1529, Thomas Crowell, vị bộ trưởng tài ba của Henry VIII nước Anh, bằng cách nào đó đã có một bản sao của Quân vương, và không như Lozenro de’ Medici phù phiếm, ông đọc nó một cách chăm chú và cẩn thận. Với ông, những giai thoại lịch sử của quyển sách khiến cho việc đọc trở nên sống động và thú vị. Ngôn ngữ giản đơn không kỳ dị mà tươi mát. Quan trọng nhất, những lời khuyên phi luân lý thật ra rất cần thiết: tác giả không chỉ giải thích điều mà một người lãnh tụ cần làm để duy trì quyền lực mà còn về cách thức thể hiện hành động của mình trước công chúng. Crowell không thể không theo lời khuyên của Machiavelli khi cố vấn cho nhà vua. Được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng trong nhiều thập kỷ sau khi Machiavelli chết, Quân vương dần dần được truyền bá xa và rộng. Nhiều thế kỷ trôi qua, nó có một đời sống riêng, thật sự là một đời sống nhị bội: bị khinh thị là phi luân lý, thế nhưng được bản thân các chính trị gia lớn suốt nhiều thời đại nghiền ngẫm. Bộ trưởng Pháp Cardinal Richelieu xem nó như là một dạng kinh thánh chính trị. Napoleon thường tham khảo nó. Tổng thống Mỹ John Adams để nó ở đầu giường của mình. Với sự giúp đỡ của Voitaire, vua phổ Frederick Đại đế viết một tiểu luận gọi là Chống Machiavel, thế nhưng ông lại thực hành không sai một chữ nhiều ý tưởng của Machiavelli một cách trơ tráo. Khi các tác phẩm của Machiavelli tới tay nhiều độc giả hơn, tầm ảnh hưởng của ông vượt ra khỏi lĩnh vực chính trị. Những triết gia từ Bacon tới Hegel tìm trong tác phẩm của ông sự xác nhận cho nhiều học thuyết của họ. Những nhà thơ lãng mạn như Lord Byron ngưỡng ngộ năng lượng tinh thần của ông. Ở Ý, Ireland, và Nga, những nhà cách mạng trẻ khám phá trong Những cuộc luận đàm một lời kêu gọi phấn chấn để cầm lấy vũ khí và một bản thiết kế cho xã hội tương lai. |
Qua nhiều thế kỷ, hàng triệu nối tiếp hàng triệu độc giả đã sử dụng các quyển sách của Machiavelli như là những lời khuyên vô giá về quyền lực. Nhưng có thể có khả năng ngược lại chăng – rằng chính Machiavelli là người đã sử dụng độc giả của mình? Rải rác trong các tác phẩm và những lá thư gửi cho bè bạn của ông, một số được phát hiện nhiều thế kỷ sau khi ông chết, là những dấu hiệu cho thấy ông đã nghiền ngẫm sâu sắc chính bản thân chiến lược viết lách và sức mạnh mà ông có thể vung lên sau khi chết bởi sự thẩm thấu những ý tưởng của ông một cách gián tiếp và sâu sắc vào tâm trí các độc giả, chuyển hóa họ thành những môn đồ vô ý thức của triết lý phi luân lý của ông.
Diễn dịch
Khi đã trở về nông trại, Machiavelli có thời gian và khoảng cách cần thiết để suy nghĩ sâu về những vấn đề mà ông quan tâm nhất. Thứ nhất, ông dần định hình một triết lý chính trị đã ấp ủ từ lâu trong tâm trí. Đối với ông, cái tốt đẹp tối thượng là một thế giới của sự thay đổi động lực trong đó các thành phố hay các chế độ cộng hòa tự tái lập theo trật tự mới và tái sinh trong sự vận động không ngừng. Sự xấu xa lớn nhất là tình trạng tù hãm và sự tự mãn. Những tác nhân của sự thay đổi mạnh mẽ được ông gọi là “những ông hoàng mới” – những người trẻ tuổi, đầy tham vọng, một phần là sư tử, một phần là cáo, những kẻ thù vô ý thức hoặc có ý thức của trật tự đã thiết lập. Thứ hai, Machiavelli đã phân tích tiến trình mà thông qua đó những ông hoàng mới đạt tới đỉnh cao quyền lực, và thông thường, rơi xuống khỏi nó. Những khuôn mẫu cụ thể rất rõ ràng: sự cần thiết để điều chỉnh vẻ ngoài, để lợi dụng các hệ thống tín ngưỡng của mọi người, và đôi khi để thực hiện một cách quyết liệt những hành động phi luân lý.
Machiavelli đã khát khao quyền lực để truyền bá các tư tưởng và hướng dẫn của ông. Bị khước từ quyền lực này thông qua chính trị, ông đã đạt được nó thông qua các tác phẩm: ông đã chuyển đổi độc giả theo mục tiêu của mình, và họ sẽ truyền bá những tư tưởng của ông, những sứ giả ý thức hay vô ý thức. Machiavelli biết rằng những kẻ có quyền thế thường miễn cưỡng nhận những lời khuyên, đặc biệt từ một người rõ ràng thấp kém hơn họ. Ông cũng biết rằng nhiều người trong số những kẻ không có quyền thế có thể kinh hãi bởi những khía cạnh nguy hiểm của triết lý của ông – rằng nhiều độc giả sẽ bị thu hút và phản kháng lại cùng một lúc. (Những kẻ vô quyền lực muốn có quyền lực nhưng lại sợ cái mà họ phải làm để có được nó). Để khắc phục sự cưỡng kháng và tư tưởng mâu thuẫn vừa yêu vừa ghét, các tác phẩm của ông phải có tính chiến lược, gián tiếp và khéo léo. Vì thế ông sử dụng những kỹ thuật hùng biện phi truyền thống để thâm nhập sâu vào các tuyến phòng ngự của tác giả.
Trước hết, ông phủ đầy các cuốn sách những lời khuyên rất cần thiết – những ý tưởng có tính thực hành về cách đạt được quyền lực, bảo vệ quyền lực. Điều đó thu hút mọi loại độc giả, vì tất cả chúng ta đều suy nghĩ trước hết về những lợi ích của chính mình. Cũng vậy, bất kể một độc giả có thể phản kháng thế nào, anh ta nhận ra rằng không thèm đếm xỉa tới cuốn sách này và những ý tưởng của nó là điều nguy hiểm.
Kế đến, Machiavelli đính kèm những giai thoại lịch sử xuyên suốt tác phẩm để minh họa cho các ý tưởng của ông. Mọi người thích được chỉ ra những cách thức để tự hình dung bản thân như những Caesar hay Medici hiện đại, và họ thích được giải trí với một câu chuyện hay; và một tâm trí bị ám ảnh bởi một câu chuyện tương đối ít có tính cách phòng ngự và cởi mở hơn với sự đề xuất. Các độc giả hiếm khi để ý thấy rằng trong việc đọc các câu chuyện đó – hay đúng hơn, trong việc đọc những phiên bản đã được cải biến một cách thông minh của Machiavelli – họ đã thẩm thấu các ý tưởng đó. Machiavelli còn trích dẫn những tác giả cổ điển, điều chỉnh các trích dẫn cho phù hợp với những mục đích của ông. Những lời khuyên và ý tưởng nguy hiểm của ông có thể dễ được chấp nhận hơn nếu chúng có vẻ như phát ra từ mồm của một Livy2 hay một Tacitus3
2.[Titus Livius 59 trCN - 17 CN): sử gia La Mã]3.[Publius Cornelius Tacitus (56-117 CN): sử gia La Mã]
Cuối cùng, Machiavelli sử dụng một thứ ngôn ngữ bình dị, tự nhiên để đem đến sức sống cho tác phẩm. Thay vì thấy đầu óc mình chậm chạp và tắc tị, các độc giả khao khát vượt ra khỏi tư tưởng để hành động. Lời khuyên của ông thường được thể hiện bằng những từ ngữ thô bạo, nhưng điều này có tác dụng thúc đẩy độc giả ra khỏi trạng thái sững sờ của họ. Nó cũng lôi cuốn những người trẻ tuổi, mảnh đất màu mỡ nhất mà từ đó những ông hoàng mới mọc lên. Ông để cho tác phẩm của mình rộng mở, không bao giờ bảo mọi người chính xác phải làm điều gì. Họ phải sử dụng các ý tưởng và kinh nghiệm của chính mình để điền vào chỗ trống trong tác phẩm của ông, trở nên những thành viên đồng lõa với bản văn. Thông qua những công cụ khác nhau này, Machiavelli đã tạo được quyền lực đối với độc giả của mình trong khi che đậy bản chất những mánh khóe của ông. Khó mà cưỡng lại cái mà bạn không thể nhìn thấy.
Thấu hiểu: có lẽ bạn có những ý tưởng xuất sắc, loại có thể cách mạng hóa thế giới, nhưng trừ phi bạn có thể diễn tả chúng một cách hữu hiệu, chúng sẽ chẳng có sức mạnh nào, cũng chẳng thể đi vào tâm trí mọi người một cách lâu dài và sâu sắc. Bạn phải tập trung không phải vào chính bạn hay sự cần thiết bạn cảm thấy để thể hiện cái bạn phải nói mà vào chính các độc giả của bạn – quyết liệt như một viên tướng tập trung vào kẻ thù mà ông ta đang vạch chiến lược để đánh bại. Khi đối phó với những người hay chán nản và có những quãng trống chú ý ngắn, bạn phải giải trí họ, luồn các ý tưởng của bạn vào thông qua cửa sau. Với những lãnh tụ bạn phải gián tiếp và cẩn trọng, có lẽ nên sử dụng một bên thứ ba để che đậy nguồn gốc các tư tưởng mà bạn cố truyền bá. Với giới trẻ, sự thể hiện của bạn phải mạnh bạo hơn. Nói chung, ngôn từ của bạn phải chuyển động, cuốn hút độc giả, không bao giờ gợi sự chú ý tới trí thông minh của họ. Không phải bạn đang theo đuổi sự diễn tả về cá nhân mà là về quyền lực và tầm ảnh hưởng. Càng ít chú ý tới hình thức thông tin mà bạn chọn, mọi người càng ít nhận ra những ý tưởng nguy hiểm của bạn đã chôn sâu vào tâm trí họ đến mức nào.
| Thế nên đôi khi tôi bao giờ nói điều mà tôi tin tưởng, và không bao giờ tin vào điều tôi nói, và nếu đôi khi tôi nói điều mà tôi nghĩ, tôi luôn luôn che giấu nó ở giữa rất nhiều dối trá đến mức khó mà tìm ra nó. Niccolo Machiavelli, Thư gửi Francesco Guicciardini (1521) CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN Suốt nhiều thế kỷ, mọi người đã tìm kiếm một công thức mầu nhiệm có thể đem tới cho họ quyền lực để tác động những người khác thông qua ngôn từ. Sự tìm kiếm này gần như vô vọng. Ngôn từ có những đặc tính lạ lùng, nghịch lý: chẳng hạn, khi đưa ra cho mọi người lời khuyên, bất kể nó hay thế nào, bạn ngụ ý rằng bạn biết nhiều hơn họ. Ở mức độ mà điều này chạm vào sự bất an của họ, những lời nói khôn ngoan của bạn chỉ có thể có hiệu quả củng cố thêm ở họ chính những tập quán mà bạn muốn thay đổi. Khi ngôn ngữ của bạn đã phát ra, lọt vào thế giới, thính giả của bạn sẽ làm cái mà họ muốn với nó, diễn dịch nó theo những thành kiến của họ. Thông thường khi mọi người tỏ vẻ lắng nghe, gật đầu, và có vẻ bị thuyết phục, thật sự họ chỉ đang cố tỏ ra chấp nhận – hoặc thậm chí chỉ muốn tống cổ bạn đi. Đơn giản là vì có quá nhiều ngôn từ tràn ngập trong cuộc sống chúng ta đến mức chúng khó mà có kết quả thật sự, lâu dài nào. Điều này không có nghĩa rằng sự tìm kiếm quyền lực thông qua ngôn ngữ là phù phiếm, mà chỉ có nghĩa rằng nó phải có nhiều tính chiến lược hơn và phải dựa vào kiến thức về tâm lý cơ bản. Cái thật sự thay đổi chúng ta và hành vi của chúng ta không phải là những từ ngữ thật sự phát ra bởi một ai đó mà là kinh nghiệm riêng của chúng ta, một cái gì đó không phải đến từ bên ngoài mà từ bên trong. Một sự kiện xảy ra làm cảm xúc chúng ta chấn động, phá vỡ những khuôn mẫu thông thường trong việc nhìn vào thế giới, và có một tác động lâu dài lên chúng ta. Một cái gì đó mà chúng ta đọc hay nghe thấy từ một vị thầy lớn khiến chúng ta tự hỏi chúng ta đã biết gì, khiến chúng ta phải suy tư về vấn đề trước mắt, và trong tiến trình đó thay đổi cách tư duy của chúng ta. Những ý tưởng này được chủ quan hóa và cảm nhận như là kinh nghiệm cá nhân. Những hình ảnh từ một cuốn phim thâm nhập vào ý thức chúng ta, thông tin theo một cách thức phi ngôn từ, và trở thành một phần của giấc mộng đời của chúng ta. Chỉ có cái khuấy động trong sâu thẳm con người chúng ta, mọc rễ trong tâm trí chúng ta như là tư tưởng và kinh nghiệm, mới có sức mạnh để thay đổi cái mà chúng ta thực hiện một cách lâu dài. Nhân vật lịch sử đã nghiền ngẫm sâu sắc nhất bản chất của thông tin chắc chắn là Socrates, triết gia vĩ đại của Hy Lạp cổ đại. Mục tiêu của Socrates khá giản đơn: ông muốn mọi người nhận ra rằng kiến thức về thế giới của họ là thiển cận, nếu không phải là hoàn toàn sai lệch. Tuy vậy, nếu ông nói điều này một cách trực tiếp và theo quy ước, hẳn ông chỉ làm cho những thính giả của ông cưỡng khán nhiều hơn và sẽ củng cố thêm sự thiển cận đầy tự mãn của họ về tri thức. Và thế là, nghiễn ngẫm về hiện tượng này, thông qua phép thử và sai, Socrates đã đi đến một phương pháp. Trước hết là sự bố trí: ông sẽ chỉ ra sự ngu dốt của chính ông, và nói với thính giả đa phần là trẻ tuổi rằng bản thân ông cũng biết chút ít thôi – rằng bất kỳ sự minh triết nào mà người ta cho là ông thủ đắc thật ra chỉ là lời đồn đại. Đồng thời ông cũng ca ngợi thính giả của mình, nuôi dưỡng lòng tự cao tự đại của họ bằng cách ca ngợi những ý tưởng mà họ vừa ứng khẩu. Thế rồi, trong một loạt câu hỏi tạo nên một cuộc đối thoại với một thành viên thính giả, ông dần dần công phá tơi tả những ý tưởng mà ông vừa ca tụng. Ông không bao giờ trực tiếp nói một điều gì phủ định, nhưng thông qua các câu hỏi, ông khiến cho người kia nhận ra sự không hoàn hảo hoặc sai lầm của các ý tưởng đó. Điều này gây rối trí; ông mới vừa thú nhận về sự thiếu hiểu biết của chính mình, và ông đã chân thành ca ngợi những người đối thoạiThế nhưng bằng cách nào đó ông đã gieo rắc nhiều nghi ngờ về cái mà họ khẳng định là đã biết. Cuộc đối thoại nằm trong tâm trí các mục tiêu của Socrates nhiều ngày, dẫn họ tới việc tự đặt ra nghi vấn với những ý tưởng của họ về thế giới. Trong cơ cấu tâm trí này, lúc bấy giờ họ đã cởi mở nhiều hơn với tri thức thật sự, với một cái gì đó mới mẻ. Socrates đánh tan những thành kiến của mọi người về thế giới bằng cách sử dụng cái mà ông gọi là một vai trò “bà mụ”: ông không in sâu vào trí óc họ những ý tưởng của ông, ông chỉ đơn giản giúp gieo rắc những nghi vấn vốn âm ỉ trong mỗi người. Sự thành công trong phương pháp của Socrates rất đáng nể: toàn thế hệ người Athens trẻ tuổi đều rơi vào vòng phù chú của ông và đã vĩnh viễn đổi thay nhờ sự giáo huấn của ông. Nổi tiếng nhất trong số đó là Plato, người đã truyền bá tư tưởng của Socrates như thể chúng là Kinh Thánh. Và tầm ảnh hưởng của Plato với tư tưởng phương Tây có lẽ lớn hơn bất kỳ ai khác. Phương pháp của Socrates có tính chiến lược cao độ. Ông bắt đầu bằng cách tự đả phá mình và đưa người khác lên cao, một cách để xoa dịu sự phòng thủ tự nhiên ở những thính giả của ông, hạ thấp một cách kín đáo những bức tường của họ. Rồi ông dẫn dụ họ vào một mê cung thảo luận mà từ đó họ không thể tìm thấy lối ra và trong đó mọi thứ mà họ tin tưởng đều bị đặt nghi vấn. Theo Alcibiades, một trong những thanh niên mà Socrates đã làm bối rối, bạn không bao giờ biết ông thật sự tin vào cái gì hay thật sự ông muốn nói điều gì; mọi thứ ông nói đều hùng biện, đầy chất châm biếm. Và vì bạn không chắc ông sẽ làm gì, thì chính bạn sẽ bối rối và nghi ngờ mình. Ông đã cải biến kinh nghiệm về thế giới của bạn từ bên trong. |
Hãy nghĩ về phương pháp này như sự thông tin ở chiều sâu [communication – in – depth]. Những cuộc đàm luận thông thường, và ngay cả tác phẩm và nghệ thuật hay đẹp, thường chỉ đụng chạm vào mọi người ở bề mặt. Những nỗ lực của chúng ta để thông tin với họ đã bị ngấm vào trong tiếng ồn ào ầm ĩ phủ đầy tai họ trong cuộc sống hàng ngày. Ngay cả khi điều mà chúng ta nói hay làm theo cách nào đó đã chạm tới một hợp âm cảm xúc và tạo nên một loại nối kết nào đó, nó cũng hiếm khi ở lại trong tâm trí họ đủ lâu để làm thay đổi cách tư duy và hành động của họ. Những thông tin bề mặt này cũng tốt thôi; chúng ta không thể cả đời cố gắng tới gần từng người một – điều đó quá mệt mỏi. Nhưng khả năng chạm tới mọi người một cách sâu sắc, thay đổi những ý tưởng và hành vi không hay của họ, đôi khi rất quan trọng.
Điều bạn cần chú ý không chỉ đơn giản là nội dung thông tin mà cả hình thức – cung cách bạn dẫn dắt mọi người tới những kết luận bạn mong muốn. Ví dụ, nếu bạn muốn mọi người thay đổi một thói quen xấu, việc chỉ ra nó - bằng cách phản ánh lại hành vi xấu của họ theo một cách nào đó – có hiệu quả hơn nhiều so với việc chỉ đơn giản thuyết phục họ ngưng nó lại. Nếu bạn muốn làm cho mọi người với lòng tự trọng thấp có cảm giác tốt hơn về bản thân họ, việc ca ngợi có hiệu quả rất hời hợt; thay vì thế, bạn phải thúc đẩy họ hoàn thành một điều gì đó thực chất, đem tới cho họ một kinh nghiệm thật sự. Điều đó sẽ chuyển thành một cảm giác tự tin sâu sắc hơn. Nếu bạn muốn thông tin một ý tưởng quan trọng; bạn không nên giảng đạo mà nên làm cho độc giả hay thính giả nối kết những điểm chính yếu và tự đi đến những kết luận của chính họ. Khiến cho họ chủ quan hóa tư tưởng mà bạn cố thông tin; khiến nó dường như nảy sinh từ tâm trí của chính họ. Sự thông tin gián tiếp như thế có khả năng thâm nhập sâu vào phía sau những tuyến phòng thủ của mọi người.
Khi nói bằng ngôn ngữ mới này, bạn hãy học cách mở rộng vốn từ vựng của mình ra khỏi sự thông tin rõ ràng. Sự im lặng, chẳng hạn, có thể được sử dụng với hiệu quả cao: bằng cách giữ im lặng, không đáp lại, bạn nói rất nhiều điều; bằng cách không nhắc tới một điều mà mọi người mong đợi, bạn đã khiến cho họ chú ý tới sự tĩnh lược này, biến nó thành một hình thức thông tin. Tương tự, những chi tiết – cái mà Machiavelli gọi là le cose piccole (những điều nhỏ nhặt) – trong một bản văn hay một tác phẩm nghệ thuật có một khả năng thể hiện lớn lao. Khi nhà hùng biện và luật sư La Mã nổi tiếng Cicero muốn phỉ báng tính cách của một người mà ông đang cáo buộc, ông không buộc tội hay nguyền rủa mà chỉ nhắc tới những chi tiết từ cuộc sống của bị cáo – sự sang trọng không tin nổi của nhà y (có phải nó được chi trả từ những phương tiện phi pháp?), sự phung phí xa hoa của bạn bè băng đảng của y, phong cách ăn mặc của y, những dấu hiệu nho nhỏ cho thấy y tự xem mình là siêu việt hơn những người La Mã bình thường. Cicero chỉ nói thoáng qua, nhưng hàm ý khá rõ ràng. Không cần phải nhồi nhét và đầu thính giả, nó vẫn hướng họ tới một kết luận cụ thể.
Ở bất cứ thời kỳ nào, việc thể hiện những ý tưởng ngược với khuynh hướng của công luận hay xúc phạm tới những ý niệm về sự đúng đắn có thể khá nguy hiểm. Nhưng bạn có thể sử dụng những chi tiết ở đây đó để nói một điều gì đó khác. Nếu bạn đang viết một cuốn tiểu thuyết, chẳng hạn, bạn có thể đặt những ý kiến nguy hiểm của bạn vào mồm của tên tội phạm nhưng thể hiện chúng với một năng lượng và màu sắc khiến chúng trở nên thú vị hơn là những lời nói của nhân vật chính. Không phải ai cũng hiểu những ám chỉ bóng gió và những tầng lớp ý nghĩa của bạn, nhưng chắc chắn có một số sẽ hiểu, ít nhất là những người có nhận thức chính xác; và những thông điệp pha trộn sẽ kích thích độc giả của bạn: những hình thức diễn tả gián tiếp – sự im lặng, sự ám chỉ, những chi tiết chuyên chở ý đồ, những sai lầm ngớ ngẩn cố tình – khiến mọi người cảm thấy như thể họ đang tham dự, đang tự mình khám phá ra ý nghĩa. Càng tham gia vào tiến trình thông tin, họ càng chủ quan hóa những ý tưởng của nó.
Khi thực hành chiến lược này, hãy tránh lỗi lầm thông thường trong việc cố gắng thu hút sự chú ý của mọi người bằng cách sử dụng một hình thức gây sốc hay kỳ lạ. Sự chú ý mà bạn có theo cách này sẽ hời hợt và ngắn ngủi. Sử dụng một hình thức xa lạ với công chúng rộng lớn, bạn thu hẹp lượng thính giả lại. Như trường hợp của Machiavelli đã chứng minh, sử dụng một hình thức truyền thống rốt cuộc sẽ hữu hiệu hơn, vì nó hấp dẫn một lượng lớn độc giả. Khi đã có số độc [khán thính] giả đó, bạn có thể ám chỉ tới nội dung thật sự (thậm chí gây sốc) thông qua những chi tiết và hàm ý.
Trong chiến tranh, mọi sự gần như được phán xét bởi kết quả của nó. Nếu một viên tướng chỉ huy quân đội thua trận, những dự tính cao quý của ông ta không có nghĩa lý gì cả; tất nhiên cả thực tế rằng những yếu tố không nhìn thấy trước có thể làm ông ta thất bại cũng vậy. Ông ta thua cuộc, [chỉ thế thôi] có bào chữa cũng chẳng ích gì. Một trong những tư tưởng có tính cách mạng nhất của Machiavelli là áp dụng tiêu chuẩn này vào chính trị: điều quan trọng không phải điều mà mọi người nói hay dự tính mà là những kết quả của hành động của họ, là quyền lực tăng hay giảm. Đây là cái mà Machiavelli gọi là “chân lý của sự hiệu quả” – nói cách khác, chân lý thật sự, cái đã thật sự xảy ra, chứ không phải là những ngôn từ hay lý thuyết. Chẳng hạn, trong việc kiểm chứng sự nghiệp của một giáo hoàng, Machiavelli thường nhìn vào những đồng minh mà ông ta đã xây dựng và tài sản hay lãnh thổ ông ta đã chiếm được, chứ không phải là tính cách hay những tuyên bố của ông ta. Hành vi và kết quả không biết nói dối. Bạn phải học cách áp dụng cùng một thứ phong vũ biểu này với các nỗ lực về thông tin của bạn và của những người khác.
Nếu một người nói hay viết một điều gì đó mà anh ta xem là có tính chất cách mạng và hy vọng sẽ cải biết thế giới, cải thiện loài người, nhưng cuối cùng hầu như chẳng có ai bị tác động thật sự, vậy thì nó chẳng có tính chất cách mạng hay tiến bộ chút nào. Thông tin không tiến tới mục tiêu của nó hay sản sinh ra một kết quả đúng theo ước vọng thì chỉ là sự la cà nói suông, không phản ánh được gì hơn ngoài sự yêu thích của mọi người đối với giọng nói của mình và đối với việc đóng vai trò của một chiến binh thập tự chinh đạo đức. Chân lý hiệu quả của cái mà họ đã viết hay nói là không có gì thay đổi cả. Khả năng tiếp cận mọi người và cải biến ý kiến của họ là một sự vụ hệ trọng, cũng hệ trọng và có tính chiến lược như chiến tranh. Bạn phải nghiêm khắc hơn với bản thân và với những người khác: thông tin thất bại không phải là lỗi của khán thính giả u mê ngu muội mà là của người thông tin không có chiến lược
Tư liệu: Ta không thể tự thân sinh nở ra minh triết và lời cáo buộc mà nhiều người đưa ra để chống đối ta, rằng trong khi ta chất vấn những
người khác, bản thân ta chẳng đưa được chút minh triết nào ra ánh
sáng do sự thiếu thốn trí tuệ của ta, là chính xác. Nguyên nhân của
điều này như sau: Thượng đế buộc ta phải phục vụ với tư cách
một bà mụ và ngăn cản không cho ta sinh nở.Socrates (470 – 399 tr. CN)Hình ảnh: Con dao găm. Nó dài và thon lại ở mũi. Nó không đòi hỏi phải được mài sắc. Trong hình thức đó nó đã sẵn chứa sự hoàn hảo của nó với ý nghĩa là một công cụ để thâm nhập một cách êm xuôi và sâu. Dù là đâm vào sườn, vào lưng hay xuyên qua tim, nó cũng gây nên một hiệu quả chết người.HOÁN VỊ
Ngay cả khi hoạch định những thông tin của bạn để làm cho nó mang tính chiến lược một cách có ý thức, bạn cũng phải phát triển khả năng đảo ngược để giải mã những ngụ ý, những thông điệp che giấu, và những dấu hiệu vô ý thức trong cái mà những người khác nói. Ví dụ, khi mọi người nói một cách mơ hồ chung chung, và sử dụng những thuật ngữ trừu tượng như “công lý”, “luân lý”, “tự do”, vân vân, mà không thực sự lý giải cụ thể cái mà họ đang nói tới, gần như họ luôn che đậy một điều gì đó. Thông thường, đây là những hành động xấu xa nhưng cần thiết của chính họ, mà họ thích che giấu bên dưới một lớp màn chính nghĩa lắm lời. Khi bạn nghe thấy cách trò chuyện như thế, hãy nghi ngờ.
Đồng thời, những người sử dụng thứ ngôn ngữ thông tục, đầy những từ lóng và câu nói rập khuôn, có lẽ đang cố làm bạn xao lãng không chú ý tới sự mỏng manh ý tưởng của họ, cố thắng bạn không phải bởi sự hay ho trong lập luận của họ mà bởi việc làm cho bạn cảm thấy gần gũi và ấm áp với họ. Và những người sử dụng ngôn ngữ khoe khoang, hoa mỹ, đầy những ẩn dụ thông minh, thường chú ý tới sức hấp dẫn của giọng nói mình hơn là tiếp cận thính giả với một tư tưởng thiên tài. Nói chung, bạn phải chú ý tới những hình thức thể hiện bản thân của mọi người; đừng bao giờ nắm nội dung ở giá trị bề ngoài.
31