BẠN ĐỒNG MINH TUYỆT HẢO
Năm 1467, Charles, vị bá tước 34 tuổi ở Charlois, nhận được tin tức mà ông đã âm thầm mong đợi: cha ông, Công tước xứ Burgundy – được mệnh danh là Philip Nhân hậu – qua đời, biến Charles thành một vị công tước mới. Hai cha con đã bất hòa suốt nhiều năm. Philip kiên nhẫn và thực tế, và trong thời gian trị vì của mình đã dần xoay xở để mở rộng đất đai trù phú của xứ Burgundy. Charles có nhiều tham vọng và hiếu chiến hơn. Đế quốc mà ông thừa kế rất rộng lớn, bao gồm xứ Flanders, Hà Lan, Zeeland và Luxembourg ở phía bắc nước Pháp hiện nay, và chính lãnh địa quan trọng của xứ Burgundy ở miền đông bắc nước Pháp. Lúc này, với tư cách công tước, Charles có quyền lực và các tiềm lực như ý muốn để hiện thực hóa những giấc mơ chinh phục Đức và xa hơn nữa.
Có hai chướng ngại chắn ngang đường đi của ông. Thứ nhất là các tổng của nước Thụy Sĩ độc lập ở phía đông Burgundy. Charles sẽ phải thu phục vùng này, bằng sức mạnh, trước khi chuyển tới miền nam nước Đức. Người Thụy Sĩ là những chiến binh dữ tợn không hề dung thứ cho bất kỳ cuộc xâm lấn nào. Nhưng nói cho cùng họ không thể sánh được với quân số và sức mạnh quân đội của vị công tước. Chướng ngại thứ hai là Vua Louis XI của Pháp, anh họ và cũng là kẻ thù không đội trời chung từ thời thơ ấu của Charles. Lúc ấy Pháp vẫn còn là một nước phong kiến, bao gồm nhiều lãnh địa giống như Burgundy, và những lãnh chúa này là những đồng minh của nhà vua. Nhưng trên thực tế họ là những thế lực độc lập và có thể thành lập liên minh riêng của họ nếu nhà vua dám chọc giận họ. Burgundy là lãnh địa hùng mạnh nhất trong tất cả, và mọi người đều biết rằng Louis hằng mơ sẽ thôn tính nó, biến Pháp thành một thế lực thống nhất.
Tuy nhiên, Charles tự tin rằng ông có thể hơn hẳn người anh họ cả về ngoại giao lẫn chiến tranh. Nói cho cùng, Louis là một người nhu nhược. Làm sao có thể lý giải khác đi về sự đam mê lạ lùng của ông ta đối với các tổng của Thụy Sĩ? Hầu như ngay từ đầu triều đại của mình, Louis đã cần mẫn làm thân với họ, đối đãi họ gần như bình đẳng với Pháp. Có nhiều quốc gia hùng mạnh hơn mà ông ta có thể kết đồng minh, nhưng dường như ông bị ám ảnh với người Thụy Sĩ. Có lẽ ông cảm thấy có một sự tương đồng với nếp sống đơn giản của họ; là một ông vua, bản thân ông lại có một thị hiếu nông dân. Louis còn có một ác cảm đối với chiến tranh, thích mua chuộc hòa bình, thậm chí với một cái giá cao, hơn là nuôi một quân đội. Điều khẩn thiết là Charles phải tấn công ngay, trước khi Louis khôn ra và bắt đầu hành động giống một nhà vua hơn. Charles hình thành một số kế hoạch để hiện thực hóa các tham vọng của mình: trước tiên ông sẽ tới Alsace, nằm giữa Pháp và Đức, và thôn tính khu vực này. Rồi ông sẽ kết đồng minh với vua nước Anh Edward IV, một chiến binh vĩ đại, và sẽ thuyết phục ông này đưa một lực lượng tới đổ bộ ở Calais. Quân đội của ông sẽ sáp nhập với quân Anh ở Reims, trung tâm nước Pháp, nơi Edward sẽ lên ngôi với tư cách là nhà vua mới của đất nước. Vị công tước và Edward sẽ dễ dàng đánh bại quân đội yếu ớt của Louis. Rồi ông sẽ tiến quân về phía nam. Họ sẽ cùng nhau tạo thành một thế lực thống trị ở châu Âu. Năm 1474, mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi. Edward đã ký vào kế hoạch. Viên công tước bắt đầu với việc tiến quân lên thượng nguồn sông Rhine, nhưng đúng lúc bắt đầu dàn quân, ông biết rằng mội đội quân Thụy Sĩ lớn đã xâm lấn quê hương Burgundy của ông. Quân đội này được vua Louis XI chu cấp. Với hành động này, rõ ràng Louis và người Thụy Sĩ đang gửi một lời cảnh báo tới Charles rằng họ sẽ không dung thứ cho bất kỳ sự xâm lấn nào trong tương lai, nhưng Charles có đủ lực lượng ở Burgundy để đánh đuổi quân Thụy Sĩ. Ông không phải loại người dễ bị đe dọa bằng cách đó; cả hai bên sẽ phải trả giá đắt cho cuộc xâm lấn khinh suất của họ. Mùa hè năm 1475, quân đội Anh – quân đội lớn nhất được tập hợp cho cuộc xâm lăng Pháp –đổ bộ lên Calais dưới quyền lãnh đạo của Edward IV. Charles tới gặp Edward để thống nhất lần cuối kế hoạch và uống mừng cuộc chinh phục sắp tới của họ. Rồi ông nhanh chóng quay về với các đoàn quân của mình, đang tiến về phía nam qua Lorraine để chuẩn bị cho cuộc nối kết lớn với quân Anh ở Reims. Đột nhiên có một vài tin tức khó chịu tới tai Charles: các gián điệp của ông ở triều đình Pháp báo lại rằng Louis đã công khai những thương lượng bí mật với Edward IV. Rõ ràng Louis đã thuyết phục vị vua Anh rằng Charles đang lợi dụng ông ta và không đáng tin cậy. Biết nền tài chính của Anh nghèo nàn, Louis đã đề nghị những điều khoản hòa giải phóng khoáng, đưa ra một khoản niên phí lớn trả trực tiếp cho nhà vua và triều đình Anh. Ông ta đã khoản đãi người Anh những buổi tiệc chè chén linh đình. Và thế rồi, với sự căm phẫn và kinh ngạc cực kỳ của Charles, Edward đã ngã sang phía đó, ký hiệp ước và đưa quân về nước. Vị công tước gần như không có đủ thời gian để vượt qua tin tức đắng cay này khi Louis đột nhiên cử các công sứ tới để đàm phán một thời gian đình chiến dài hạn giữa Pháp và Burgundy. Đây là kiểu làm của nhà vua – mọi thứ ông ta làm đều không dứt khoát và mâu thuẫn. Ông ta đang nghĩ gì? Ký vào hiệp ước đình chiến có nghĩa là lúc này viên công tước có thể tiến quân chống quân Thụy Sĩ một cách tự tin, biết rằng Pháp sẽ không can thiệp. Có lẽ nhà vua đã bị nỗi sợ chiến tranh của ông dẫn dắt? Charles vui sướng chấp nhận đình chiến. Người Thụy Sĩ phẫn nộ: Louis từng là bạn của họ, và giờ đây, vào thời điểm nguy ngập sắp xảy ra, ông ta lại từ bỏ họ. Nhưng người Thụy Sĩ đã quen với việc tự mình chiến đấu; họ chỉ phải động viên mọi lực lượng có sẵn. Cuối mùa đông năm 1477, Charles, nôn nóng chiến thắng, vượt qua dãy núi Jura tiến về phía đông. Quân Thụy Sĩ đang chờ đợi ông gần thị trấn Grandson. Đây là lần đầu Charles đánh nhau với quân Thụy Sĩ, và ông đã bị bất ngờ bởi cái đang đối đầu với ông. Nó bắt đầu với tiếng tù và xung trận vang vang, dội lại trong dãy núi, tạo nên một âm thanh đinh tai đáng sợ. Kế tiếp, hàng ngàn lính Thụy Sĩ tiến xuống dốc về phía quân Burgundy. Họ tiến quân với sự chính xác tuyệt hảo, chặt chẽ trong những đội hình mà từ đó những mũi giáo của họ chỉa ra như những chiếc lông nhọn của một con chim khổng lồ đang di động. Sườn và phía sau của họ được bảo vệ bởi những quân sử dụng kích đang vung những mũi kích có mấu nhọn. Đó là một cảnh tượng khủng khiếp. Công tước ra lệnh cho kỵ binh tấn công để phá vỡ các đội hình địch, nhưng chỉ để nhìn thấy họ bị tàn sát. Pháo binh của ông thao tác một cách khó khăn ở địa hình núi non. Quân Thụy Sĩ chiến đấu với sự dữ tợn không thể tả, và các đội hình của họ không thể xâm nhập được. Một lực lượng Thụy Sĩ dự bị, ẩn nấp sau cánh rừng ở bên phải quân Burgundy, đột nhiên xuất hiện và tấn công. Quân đội của Charles chạy dài; trận đánh kết thúc bằng một cuộc thảm sát, tuy nhiên, Charles đã chạy thoát. |
Vài tháng sau, tới lượt quân Thụy Sĩ xâm lược bằng cách tiến quân vào Lorrain. Tháng 1/1478, Charles phản công với các lực lượng lúc này đã suy yếu; một lần nữa quân Burgundy rút lui, và lần này Charles không chạy thoát. Thi hài ông cuối cùng được tìm thấy trên chiến địa, đầu bị một chiếc kích Thụy Sĩ chẻ đôi, và thân hình chi chít những ngọn giáo.
Trong vòng vài tháng sau khi Charles chết, Louis thôn tính Burgundy, loại bỏ mối đe dọa lớn nhất đối với một nước Pháp thống nhất. Charles đã vô tình trở thành con mồi của kế hoạch tinh vi nhằm tiêu diệt ông mà không mất đến một người lính của Louis.
Diễn dịch
Vua Louis XI, sau được mệnh danh là Vua Nhện, khét tiếng về những chiếc lưới tinh vi mà ông đan dệt để đánh bẫy các đối thủ. Thiên tài của ông là tư duy đón đầu rất xa và sắp đặt một con đường gián tiếp tới các mục tiêu của mình – mục tiêu lớn nhất của ông là biến Pháp từ một quốc gia phong kiến phân quyền thành một thế lực lớn thống nhất. Burgundy là chướng ngại cuối cùng của ông, và là chướng ngại mà ông không thể đối đầu: quân đội của ông yếu hơn của Charles, và ông không muốn gây ra một cuộc nội chiến. Tuy nhiên, trước khi trở thành vua, Louis đã từng đánh nhau trong một chiến dịch nhỏ với người Thụy Sĩ và đã nhìn thấy hiệu quả tàn bạo của những đội hình chiến đấu của họ và cách họ sử dụng địa hình núi non để chiếm lợi thế. Ông cho rằng họ bất khả chiến bại trong chiến tranh. Louis hình thành một kế hoạch để dụ Charles xâm lấn các tổng Thụy Sĩ, nơi cỗ máy chiến tranh của ông ta sẽ bị hủy diệt.
Những mối dây của tấm lưới được dệt một cách hoàn hảo. Đầu tiên, ông bỏ ra nhiều năm mồi chài người Thụy Sĩ, tạo những ràng buộc khiến họ mù quáng trước mục đích kín đáo của ông. Mối liên minh này còn khiến vị công tước ngạo mạn mụ mẫm đi, không thể tưởng tượng ra cách thức mà Louis lợi dụng đồng minh đó. Nhà vua cũng biết rằng bằng cách thức đẩy Thụy Sĩ xâm lấn Burgundy năm 1474, ông sẽ khiến cho Charles nổi giận đến mức đánh mất mọi kiên nhẫn trong khao khát phục thù của ông ta.
Khi Edward đổ bộ vào Calais, nhà vua đã nhìn thấy trước sự xâm lăng này và đã sẵn sàng đón nó. Thay vì cố gắng đánh đuổi đối thủ hùng mạnh này, ông hành động để dụ dỗ nhà vua Anh từ bỏ liên minh với Burgundy bằng cách khêu gợi tính tư lợi của ông ta; không cần phải liều mạng với một trận đánh xa nhà nào, Edward sẽ nhận được một khoản chi trả quá sộp để có thể khước từ. Một lần nữa với tư duy đón đầu, Louis biết rằng khi cuối cùng ông thôn tính được lãnh địa giàu có Burgundy, ông sẽ được bồi hoàn hơn nhiều những gì phải trả cho Edward. Bị người Anh từ bỏ, Charles bị cô lập, thế nhưng vẫn còn quyết tâm phục hận cuộc xâm lược Burgundy. Vào thời điểm này, Louis tiến tới việc ký một hiệp ước với Charles, xóa bỏ chướng ngại khả dĩ cuối cùng trên con đường tiến tới các tổng Thụy Sĩ của ông ta. Hiệp ước mới này sẽ gây tức giận cho những người bạn Thụy Sĩ của ông, nhưng Louis cần gì phải quan tâm? Tình bạn chẳng có nghĩa lý gì đối với ông ta; người Thụy Sĩ sẽ chiến đấu để bảo vệ đất đai của họ dù có hoặc không có ông. Kiên nhẫn và rất rõ ràng với các mục tiêu của mình, Louis sử dụng các đồng minh như một hình thức chiến tranh không đổ máu, nghiền nát các đối thủ của ông bằng cách khiến cho những người khác làm thay công việc của mình. Đa số chúng ta chỉ hiểu một cách bản năng tầm quan trọng của các bạn đồng minh. Vì chúng ta thường hành động theo cảm giác và cảm xúc hơn là theo chiến lược. Tuy nhiên, chúng ta thường tạo ra những mối liên minh tệ hại nhất. Một lỗi lầm thông thường là chúng ta hay nghĩ rằng càng có nhiều đồng minh thì càng tốt; nhưng chất lượng quan trọng hơn là số lượng. Có quá nhiều đồng minh sẽ gia tăng cơ may chúng ta vướng vào những cuộc chiến tranh của kẻ khác. Nếu chuyển sang cực đoan phía khác, đôi khi chúng ta cho rằng một đồng minh hùng mạnh duy nhất là tất cả những gì cần thiết; nhưng các nước đồng minh như thế có xu hướng lấy những gì họ muốn từ chúng ta và bỏ rơi khi chúng ta không còn hữu dụng, như Louis đã bỏ rơi người Thụy Sĩ. Trong bất kỳ trường hợp nào, phụ thuộc vào một cá nhân là một sai lầm. Cuối cùng, đôi khi chúng ta chọn những người tỏ ra thân thiện nhất, những người mà chúng ta nghĩ rằng sẽ trung thành. Các cảm xúc của chúng ta dẫn chúng ta đi chệch hướng. Thấu hiểu những đồng minh hoàn hảo là những đồng minh mang tới cho bạn cái mà bạn không thể tự mình có được. Họ là những tiềm lực mà bạn thiếu. Họ sẽ thực hiện công việc bẩn thỉu cho bạn hay giao tranh trận chiến của bạn. Giống như người Thụy Sĩ, họ không luôn là kẻ rõ ràng hay hùng mạnh nhất. Hãy sáng tạo và tìm kiếm đồng minh từ những ai mà tới lượt mình, bạn có một thứ gì đó để đưa ra, tạo một mối liên kết tư lợi. Việc đánh mất những đồng minh thuận tiện như thế sẽ không hủy diệt bạn hay khiến cho bạn cảm thấy bị phản bội. Bạn phải xem họ như là những công cụ tạm thời. Khi không còn cần những công cụ đó nữa, không có một tình cảm nào mất mát trong việc vứt bỏ chúng đi. Các lực lượng của một đồng minh hùng mạnh có thể hữu ích và tốt cho những ai trông cậy vào họ… nhưng ngu yhiểm cho những ai trở nên phụ thuộc vào họ. Niccolo Machiavelli, Quân Vương (1513) NHỮNG ĐỒNG MINH GIẢ Tháng 11/1966, Murray Bowen, một giáo sư tâm thần học ở Đại học Georgetown và là một trong những bác sĩ chuyên khoa gia đình có nhiều ảnh hưởng nhất trên thế giới, đã đối mặt với một cuộc khủng hoảng trong gia đình riêng của ông ở Waverly, Tennessee. Bowen là người lớn nhất trong năm đứa con. Gia đình ông đã có công việc buôn bán quan trọng ở Waverly suốt nhiều thế hệ. Người em ruột thứ ba của ông, biệt danh là June, đã điều hành việc kinh doanh một thời gian. Liên tiếp làm việc quá sức và cảm thấy bị đánh giá thấp, lúc này June yêu cầu được chia một khoản lãi cao trong việc kinh doanh. Cha họ đồng ý, nhưng mẹ họ lại không. Các thành viên trong gia đình chia làm hai phe. Tình thế khá căng thẳng. Cùng lúc đó, một cái chết trong gia đình vợ của June đã khiến bà ta chán nản tới mức điều đó bắt đầu ảnh hưởng tới sức khỏe của ông chồng. Một hiệu ứng hình sóng lan ra những người khác trong nhà, và cô em gái thứ hai của Bowen, người yếu đuối, bắt đầu có những triệu chứng tâm thần. Dù vậy, Bowen lo lắng nhất cho cha ông, người bị bệnh yếu tim. Với tư cách một bác sĩ chuyên khoa gia đình, Bowen đã nghiên cứu một triệu chứng mà ông gọi là một“đợt sóng khắc khoải”, trong đó một sự kiện ngoại biến có thể tạo nên đủ náo động cảm xúc để dẫn đến cái chết của người lớn tuổi hay dễ tổn hại nhất của gia đình. Bằng cách nào đó, Bowen phải tìm ra cách xoa dịu đợt sóng khắc khoải này trong chính gia đình ông. Khó khăn của Bowen là ông cũng đang trải qua một dạng khủng hoảng cá nhân và nghề nghiệp vào thời điểm đó. Một trong những lý thuyết có ảnh hưởng lớn nhất của ông khẳng định rằng các thành viên của một gia đình vẫn khỏe mạnh chừng nào họ có thể phân biệt bản thân với các anh chị em và bố mẹ, thiết lập được nhân cách của chính họ, có thể tự quyết định, trong khi vẫn tương tác và quan hệ một cách chủ động với những người khác trong nhà. Ông thấy đó là một công việc tâm lý khó khăn đối với bất cứ người nào. Một gia đình là một dạng bản ngã nhóm và một hệ thống cảm xúc đan cài vào nhau; đòi hỏi cần có nhiều nỗ lực và thực hành để thiết lập một sự tự do ý chí nằm ngoài hệ thống này. Thế nhưng Bowen tin rằng việc này, dù có tính cách cốt yếu đối với mọi người, cũng cần thiết về mặt chuyên môn cho các bác sĩ trị liệu. Họ không thể giúp người khác một cách đúng đắn nếu họ không thể phân biệt bản thân với gia đình mình. Họ phải đưa các vấn đề cá nhân của mình vào thực hành. Và thật sự ở đây chính là giáo sư Bowen, một người ở tuổi 50, làm việc nhiều năm trên mối quan hệ với gia đình nhưng đã phát hiện bản thân mình bị hút vào động lực gia đình, thoái hóa về mặt cảm xúc, không thể suy nghĩ chính xác mỗi lần ông về Tennessee thăm nhà. Điều đó khiến ông cảm thấy thất vọng và chán nản sâu sắc. Ông quyết định, đã đến lúc phải nỗ lực một thử nghiệm cá nhân cấp tiến vào lần thăm nhà sau. Cuối tháng 1/1967, June Bowen nhận một lá thư dài từ Murray. Cả hai đã không viết thư cho nhau một quãng thời gian; thật ra, June ghét anh mình và tránh gặp gỡ cá nhân với Murray trong suốt nhiều năm, vì ông ta cảm thấy mẹ mình luôn đứng về phía của Murray, dù chính June là người điều hành công việc kinh doanh. Trong thư, Murray thuật lại nhiều câu chuyện thêu dệt về June mà các thành viên gia đình đã kể lại cho ông nghe nhiều năm trước, và luôn cẩn thận nói thêm rằng tốt hơn Murray đừng để cho chú em “nhạy cảm” của mình nghe thấy chúng. Murray bảo ông đã mệt mỏi với những câu chuyện đó và về việc bị bảo ban cách thức đối xử với người em. Ông nghĩ, tốt hơn là liên lạc trực tiếp với June. Ông kết thúc lá thư, bảo rằng cả hai không cần phải gặp nhau vào chuyến thăm nhà kế tiếp của ông, vì ông đã kể cho June nghe mọi điều muốn nói. Ông ký tên: “Anh trai hay xía vào chuyện người khác của em.” Càng nghĩ tới lá thư này, June càng giận. Murray đã cố tình khuấy lên sự chia rẽ giữa June và gia đình. Thế rồi, vài hôm sau, người em gái của cả hai cũng nhận được thư của Murray, bảo rằng ông đã nghe về nỗi đau buồn của cô và đã viết thư đề nghị June chăm sóc cô cho tới khi ông về. Ông ký tên: “Anh trai lo lắng của em.” Lá thư này cũng làm người em gái khó chịu giống như lá thư gửi cho June đối với ông ta: cô đã mệt mỏi với việc mọi người đối xử với mình như với một người ốm yếu – điều đó chỉ làm cô cảm thấy lo lắng hơn thêm. Sau một thời gian ngắn, Murray lại gửi thư, lần này cho mẹ mình. Ông nhắc tới mấy lá thư đã gửi cho hai người kia. Ông đang cố xoa dịu cơn khủng hoảng, ông bảo thế, bằng cách thu hút mọi sự chú ý vào chính mình. Ông viết rằng ông muốn chọc tức tất cả các anh em và ông có khả năng làm hơn thế nữa nếu cần; nhưng, ông cảnh báo, hãy khôn ngoan đừng chia sẻ tin tức với “kẻ thù”, vì thế bà mẹ nên giữ kín việc này. Ông ký tên: “Con trai chiến lược của mẹ”. Cho rằng ông đã mất trí, bà mẹ đốt lá thư. Tin tức về mấy lá thư này truyền nhanh khắp gia đình, khuẩy lên một phản ứng bực bội bao gồm những lời kết tội, những mối quan ngại, những lo âu. Mọi người bị kích động vì chúng, nhưng June là trung tâm của cơn bão. Ông đưa lá thư của Murray cho mẹ, bà rất phiền lòng. June hứa rằng trong lần thăm nhà sắp tới của người anh, ông không chỉ không tránh mặt Murray mà còn đương đầu với ông ta và thật sự cho ông ta biết tay. Murray tới Waverly vào đầu tháng 2. Vào đêm thứ hai, trong buổi ăn tối ở nhà cô em, June xuất hiện với vợ ông ta; bố mẹ của hai anh em cũng có mặt. Cuộc gặp gỡ kéo dài khoảng hai tiếng, các thành viên chính là Murray, June và bà mẹ. Đó là một cuộc họp mặt gia đình cay đắng, June giận dữ đòi kiện Murray về các câu chuyện thô lỗ của ông và buộc tội bà mẹ về việc bênh vực cho người con yêu của bà. Khi Murray xác nhận rằng ông và mẹ thông đồng với nhau, rằng ông và mẹ đã mưu tính với nhau từ nhiều năm trước, bà nổi giận, khước từ rằng không biết một âm mưu nào hết, và nói rằng bà sẽ không bao giờ nói gì với Murray nữa. June kể câu chuyện của ông ta về người anh trai giáo sư, Murray đáp rằng đó chỉ là chuyện vui, nhưng ông biết những câu chuyện hay hơn. Toàn bộ cuộc trò chuyện tập trung vào các vấn đề cá nhân, và nhiều cảm xúc bị đè nén đã lộ ra. Nhưng vẻ mặt của Murray vẫn lãnh đạm một cách lạ lùng. Ông cam đoan rằng ông không đứng về phía nào cả; không ai hài lòng với điều ông nói. Ngày hôm sau, Murray tới thăm nhà của June – và June, vì lý do nào đó, tiếp ông rất vui vẻ. Murray kể thêm nhiều câu chuyện, kể cả một chuyện ông đã nghe về việc June đã xử trí hoàn cảnh tốt như thế nào khi xét đến mọi áp lực mà ông ta đang gánh chịu. June, hoàn toàn xúc động, bắt đầu cởi mở với người anh về những vấn đề của ông ta: ông ta thật sự lo lắng về người em gái của họ, ông ta nói, dù có thể là cô bị chậm phát triển. Cuối ngày hôm ấy, Murray tới thăm người em gái và kể cho cô nghe những gì June đã nói về cô; cô có thừa sức để tự chăm sóc cho mình, cô đáp, và đã có quá đủ những quan tâm hướng dẫn của gia đình. Thêm nhiều cuộc thăm viếng với các thành viên khác của gia đình. Trong từng trường hợp, khi có người cố thuật lại một chuyện đồn hay lôi kéo Murray về phía họ, hoặc ông làm chệch hướng nỗ lực đó với một nhận xét trung lập, hoặc chuyển nó tới cá nhân có liên quan. Hôm Murray lên đường, mọi người tới để tiễn chân ông. Người em gái có vẻ thư thái hơn; người bố cũng thế. Tâm trạng của cả gia đình đã thay đổi một cách đáng chú ý. Một tuần sau, mẹ của Murray gửi thư cho ông, kết thúc như sau: “Với mọi thăng trầm, chuyến về nhà vừa qua của con là điều tuyệt vời nhất.” Giờ đây June đều đặn viết thư cho anh trai. Sự xung đột về quyền kiểm soát việc kinh doanh của gia đình đã được xoa dịu và giải quyết. Những chuyến thăm nhà của Murray giờ đây trở thành điều mà mọi người đều mong mỏi, thậm chí dù ông vẫn giở những mánh lới cũ bằng những câu chuyện. Sau này Murray viết lại sự kiện đó và kết hợp thêm những gì ông học hỏi được vào việc huấn luyện cho các bác sĩ trị liệu gia đình khác. Ông xem đó là bước ngoặt trong sự nghiệp của mình. Diễn dịch Chiến lược trong thực nghiệm mà Bowen tiến hành với gia đình ông khá đơn giản: ông biến việc bất kỳ thành viên nào trong gia đình muốn lôi kéo ông về phía họ hoặc dụ dỗ ông về với họ thành chuyện bất khả. Ông cũng cố tình tạo nên một cơn bão cảm xúc để phá tan động lực mòn mỏi của gia đình, đặc biệt hướng vào June và mẹ mình, hai lực ly tâm của động lực đó. Ông làm cho cả gia đình nhìn sự việc theo một cách thức mới bằng cách đưa họ vào cuộc đối thoại về các vấn đề cá nhân hơn là tránh né chúng. Ông cũng cố giữ bình thản và hợp lý, quét sạch mọi mong muốn làm hài lòng hay tránh né cuộc đối đầu. Vào giữa cuộc thực nghiệm này, Bowen trải qua một cảm giác nhẹ nhàng không thể tả - một trạng thái gần như bay bổng. Lần đầu tiên trong đời, ông thấy gắn bó với gia đình mà không bị chế ngự bởi những sức hút cảm xúc của nó. Ông có thể đấu tranh, cãi cọ và giễu cợt mà không bị kéo lùi trở lại cơn giận trẻ con hay cố gắng thỏa hiệp một cách sai lầm. Càng xử trí với gia đình theo cách này, mọi việc càng trở nên dễ dàng. Bowen cũng nhận thấy tác động của hành vi của mình lên các thành viên khác. Đầu tiên, họ không thể tương tác theo cách thông thường của họ: June không thể tránh mặt ông, người em gái yếu ớt không thể chủ quan hóa mọi vấn đề của gia đình, bà mẹ không thể sử dụng ông như một vật chống đỡ. Kế tiếp, họ thấy họ bị hút về phía ông. Việc ông từ chối đứng về phía họ khiến cho việc cởi mở với ông dễ dàng hơn. Động lực trì trệ của gia đình về những lời thêu dệt, những mối liên lạc bí mật, và những mối liên minh gây bực dọc đã bị phá tan trong một chuyến thăm nhà. Và theo Bowen, nó vẫn đi theo cách đó suốt quãng đời còn lại của ông. Bowen đã chuyển lý thuyết và thực hành của ông ra khỏi phạm vi gia đình. Ông nghĩ tới nơi làm việc của mình, cũng có một bản ngã nhóm và hệ cảm xúc giống gia đình làm ông bị nhiễm độc mỗi khi ở đó: mọi người lôi kéo ông vào những nhóm đồng minh, chỉ trích các đồng nghiệp vắng mặt, khiến ông không thể dửng dưng. Tránh những cuộc đối thoại đó không giải quyết được chuyện gì; nó có nghĩa là ông vẫn còn chịu tác động của động lực nhóm, chỉ không thể giải quyết nó. Việc kiên nhẫn lắng nghe những chuyện thêu dệt của mọi người trong lúc ao ước họ ngưng lại cũng gây thất vọng tương đương. Bowen phải có một hành động nào đó để phá vỡ động lực này – và ông thấy ông có thể áp dụng những chiến thuật tương tự như đã dùng với gia đình mình, với thành công rực rỡ. Ông cố tình khuấy đảo mọi thứ trong khi vẫn nằm ngoài những mối quan hệ đồng minh. Và, như với gia đình của mình, ông nhận ra sức mạnh to lớn mà sự tự trị của ông mang đến trong nhóm. |
Không ai có thể thành công trong đời mà không có đồng minh. Tuy nhiên, vấn đề là phải nhận ra sự khác biệt giữa các đồng minh giả vờ và đồng minh thật sự. Một mối liên minh giả được tạo nên từ nhu cầu cảm xúc nhất thời. Nó đòi hỏi bạn từ bỏ một cái gì đó có tính cốt yếu trong bạn và khiến bạn không thể tự quyết định. Một mối liên minh thật sự được hình thành từ những lợi ích chung, mỗi bên cung cấp cái mà bên kia không thể tự mình có được. Nó không đòi hỏi bạn phải hợp nhất nhân cách của riêng bạn vào nhóm hay chú ý tới những nhu cầu cảm xúc của những người khác. Nó cho phép bạn tự trị.
Xuyên suốt cuộc đời mình, bạn sẽ tìm thấy mình trong những nhóm đòi hỏi phải hợp nhất, buộc bạn vào mọi dạng liên minh giả điều khiển cảm xúc của bạn. Bạn phải tìm một con đường đi tới vị trí của sức mạnh và quyền lực: có thể tương tác và đấu tranh với mọi người trong khi vẫn giữ được sự tự trị. Bạn tránh những liên minh giả một cách khéo léo bằng cách thực hiện những hành động khiêu khích khiến mọi người không thể giăng bẫy bạn. Bạn khuấy tung động lực càng nhiều càng tốt, hướng vào những kẻ gây rối và những người kiểm soát. Khi bạn đã đứng vào vị trí nơi bạn có thể ở lại một cách hợp lý trong nhóm, bạn có thể tỏ ra tham gia vào một liên minh mà không cần lo âu rằng các cảm xúc của mình sẽ mất đi. Và bạn sẽ thấy rằng với tư cách một cá nhân đồng thời vừa tự trị và là một phần của nhóm, bạn sẽ trở thành một trung tâm của sự chú ý.
Đi vào hành động dưới lớp vỏ giúp đỡ cho các lợi ích của kẻ khác, chỉ nhằm cuối cùng đem lại nhiều lợi ích cho chính bạn… Đây là mánh lới và sự che đậy hoàn hảo để hiện thực hóa các tham vọng của bạn vì những thuận lợi mà bạn đưa ra chỉ phục vụ như là những miếng mồi để tác động tới ý chí của kẻ khác. Họ nghĩ rằng các lợi ích của họ đang tăng trong khi thật sự họ đang mở lối cho các lợi ích của bạn.Baltasar Gracian (1601 – 1658)CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN
Để sống sót và tiến lên trong cuộc sống, chúng ta thấy mình phải thường xuyên sử dụng người khác cho một mục đích, một nhu cầu nào đó – để có những tiềm lực mà chúng ta không thể tự đạt được, để đem đến một sự bảo vệ nào đó, để bù đắp cho một kỹ năng hay tài nghệ mà chúng ta không có. Tuy nhiên, trong phạm vi mô tả những mối quan hệ nhân loại, từ “sử dụng” có những ý nghĩa xấu, và trong mọi trường hợp chúng ta luôn muốn những hành vi của mình có vẻ cao quý hơn là thực tế. Chúng ta thích nghĩ về những tương giao này như là những quan hệ có tính cách hỗ trợ, đối tác hay thân hữu hơn.
Đây không phải chỉ là vấn đề về ngữ nghĩa; đây là nguồn gốc của một sự lầm lẫn nguy hiểm mà cuối cùng sẽ làm hại bạn. Khi bạn tìm kiếm một đồng minh, bạn có một nhu cầu, một lợi ích mà bạn muốn được đáp ứng. Đây là một vấn đề có tính chiến lược, thực hành, mà sự thành công của bạn phụ thuộc vào. Nếu bạn cho phép các cảm xúc và ngoại diện đầu độc những dạng đồng minh mà bạn đang hình thành, bạn sẽ nằm trong mối hiểm nguy. Nghệ thuật hình thành các đồng minh tùy thuộc vào khả năng phân biệt tình bạn với nhu cầu của bạn.
Bước đầu tiên là hiểu rằng tất cả chúng ta thường xuyên sử dụng người khác để giúp cho bản thân tiến lên. Không có gì phải hổ thẹn trong việc này, không cần phải có cảm giác phạm tội. Chúng ta cũng không nên xem là bị xúc phạm nếu chúng ta nhận ra rằng có ai đó đang sử dụng chúng ta; sử dụng mọi người là một nhu cầu của con người và xã hội. Tiếp theo, với sự thấu hiểu này trong tâm trí, bạn phải học cách biến những đồng minh cần thiết này trở thành những đồng minh chiến lược, đứng cùng hang với những người có thể cho bạn điều gì đó mà bạn không thể tự mình kiếm được. Điều này đòi hỏi bạn phải cưỡng lại sự cám dỗ để cho các quyết định về những đồng minh bị điều khiển bởi các cảm xúc của bạn, và bạn phải gạt chúng lại sau lưng khi bước vào đấu trường xã hội. Những đồng minh sẽ giúp bạn phần lớn là những người có cùng một lợi ích chung. Những đồng minh bị đầu độc bởi cảm xúc, hay với những mối ràng buộc của sự trung thành hay tình thân hữu chẳng đem lại gì ngoài rắc rối. Hành động một cách chiến lược với các đồng minh cũng sẽ ngăn bạn khỏi những vướng mắc tồi tệ vốn làm hại nhiều người. Cứ nghĩ rằng các đồng minh là những mô đá nhấp nhô trên sông dẫn tới một mục tiêu. Trong quãng đời mình, bạn sẽ thường xuyên nhảy từ mô này sang mô khác để đáp ứng các nhu cầu của mình. Khi đã băng qua dòng sông đặc biệt này, bạn sẽ bỏ lại chúng sau lưng. Chúng ta hãy gọi sự chuyển đổi thường xuyên nhưng vẫn tiếp tục sử dụng các đồng minh này là “Trò chơi liên minh”.
Nhiều nguyên tắc cơ bản trong Trò chơi liên minh bắt nguồn từ Trung Hoa cổ đại, bao gồm vô số nước nhỏ liên tục thay đổi - khi yếu, khi mạnh, rồi lại yếu trở lại. Chiến tranh là một công việc nguy hiểm, vì nếu một nước xâm lăng một nước khác sẽ khuấy động nhiều hồ nghi trong những nước khác và cuối cùng thường phát hiện ra nó đã tự đánh mất chỗ đứng của mình. Đồng thời, một nước vẫn giữ lòng trung thành với một đồng minh sẽ thấy mình bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh mà nó không thể thoát ra khỏi và sẽ đi xuống dốc trong tiến trình đó. Việc hình thành các đồng minh đúng đắn theo một số ý nghĩa là một nghệ thuật quan trọng hơn cả nghệ thuật chiến tranh, và những nhà cầm quyền tinh thông nghệ thuật này có quyền lực hơn các chỉ huy quân sự nhiều.
Chính nhờ thông qua Trò chơi liên minh, nước Tần đã có thể dần mở rộng trong thời kỳ Chiến quốc nguy hiểm từ năm 403 – 221 tr. CN. Tần kết đồng minh với những nước xa và tấn công những nước gần; lân bang mà Tần xâm lấn không thể tìm sự giúp đỡ từ nước kế cận vì đó là đồng minh của Tần. Nếu Tần đương đầu với một kẻ thù có một đồng minh then chốt, trước tiên nó sẽ phá hỏng mối liên minh đó – gieo rắc bất đồng, lan truyền những tin đồn, dụ dỗ một trong hai bên bằng tiền của – cho tới khi mối liên minh này rạn nứt. Rồi Tần sẽ xâm lấn trước hết một trong hai nước đó, sau đó tới nước kia. Dần dà từng chút, nó thôn tính các nước lân bang, và cho tới cuối thế kỷ 3 tr. CN, nó đã có thể thống nhất Trung Hoa – một kỳ tích.
Để chơi Trò chơi liên minh đúng, ngày nay cũng giống như ở Trung Hoa cổ đại, bạn phải thực tế tối đa, tư duy đón đầu từ xa và giữ cho tình thế càng linh hoạt càng tốt. Đồng minh hôm nay có thể là kẻ thù ngày mai. Tình cảm không có chỗ trong bức tranh này. Nếu bạn yếu nhưng thông minh, bạn có thể dần nhảy cóc vào một vị trí mạnh bằng cách chuyển từ đồng minh này sang đồng minh khác. Cách tiếp cận ngược lại là tạo ra một đồng minh then chốt rồi dính chặt vào nó, coi trọng lòng tin và một quan hệ đã thiết lập. Điều này có thể đạt hiệu quả tốt trong những thời kỳ ổn định, nhưng trong thời kỳ biến động liên tục, mà điều này thường hơn, nó có thể trở thành tai họa cho bạn; những khác biệt về lợi ích sẽ nảy sinh không thể tránh khỏi, đồng thời sẽ khó gỡ ra khỏi một quan hệ đã được đầu tư quá nhiều tình cảm. Để an toàn hơn nên bám vào sự thay đổi, giữ cho khả năng chọn lựa luôn rộng mở và kết đồng minh dựa vào nhu cầu chứ không phải lòng trung thành hay những giá trị chung. Trong thời vàng son của Hollywood, các nữ diễn viên hầu như là ít quyền lực nhất trong tất cả. Sự nghiệp ngắn ngủi; ngay cả một ngôi sao lớn cũng có thể bị thay thế bởi một ngôi sao trẻ hơn trong vòng vài năm. Một nữ diễn viên thường trung thành với một xưởng phim, rồi theo dõi một cách tuyệt vọng khi các vai diễn cạn dần. Nữ diễn viên đã đi ngược tốt nhất xu hướng đó là Joan Crawford, người đã chơi phiên bản Trò chơi liên minh của riêng mình. Ví dụ, năm 1933, bà gặp nhà biên kịch Joseph Mankiewicz, khi đó là một thanh niên nhút nhát mới khởi đầu một sự nghiệp mà về sau này trở nên sáng chói. Crawford nhận ra tài năng của ông ngay lập tức và tìm cách kết bạn với ông, khiến ông hết sức ngạc nhiên. Ông tiếp tục viết chín kịch bản cho bà, kéo dài rất lâu sự nghiệp của bà.
Crawford cũng ve vãn các nhà quay phim và nhiếp ảnh, họ thường làm việc quá giờ để lấy ánh sáng tốt và khiến cho bà trông xinh đẹp hơn. Bà cũng làm điều tương tự với một nhà sản xuất kiểm soát một kịch bản mà trong đó bà có một vai. Crawford thường kết đồng minh với những tài năng mới đang lên, những người rất coi trọng việc có quan hệ với ngôi sao này. Thế rồi bà phá vỡ một cách lịch thiệp hoặc bỏ quên mối quan hệ khi nó không còn phục vụ cho các nhu cầu của bà nữa. Bà cũng không trung thành với hãng phim, hay thật ra là bất kỳ ai – ngoài bản thân mình. Cách tiếp cận vô cảm với hệ thống đồng minh luôn chuyển đổi cho phép bà tránh cái bẫy mà nhiều nữ diễn viên đã lọt vào trong hệ thống đó.
Điều cơ bản để chơi trò chơi này là nhận ra ai có thể có lợi nhất cho bản thân vào thời điểm đó. Đây không cần phải là một nhân vật quyền thế rõ ràng nhất trên sân khấu, nhân vật có vẻ như có thể giúp ích nhiều nhất cho bạn; những đồng minh đáp ứng các nhu cầu hay những thiếu hụt cụ thể thường là có lợi ích hơn nhiều. (Các đồng minh lớn giữa hai thế lực lớn nói chung là ít có hiệu quả nhất). Vì vua Louis XI có một quân đội yếu, Thụy Sĩ, dù là một diễn viên thứ yếu trên sân khấu châu Âu, là đồng minh mà ông cần đến. Nhận thấy trước nhiều năm điều này, ông nuôi dưỡng một đồng minh sẽ làm kẻ thù ông bối rối. Khi còn là một trợ lý quốc hội trẻ nhiều tham vọng, Lyndon Johnson nhận ra ông thiếu mọi thứ quyền lực và tài năng để đưa ông lên tới đỉnh. Ông trở thành một người sử dụng thông minh tài năng của những người khác. Nhận ra tầm quan trọng của thông tin trong Quốc hội, ông quyết định kết bạn và đồng minh với những người ở những vị trí chủ chốt – dù thấp hay cao – trong dây chuyền thông tin. Ông đặc biệt giỏi với những người lớn tuổi thích thú với việc kết bạn cùng một chàng thanh niên năng động và với vai trò của một người cha đưa ra lời khuyên bảo. Dần dà, từ một thanh niên nghèo không có một mối quan hệ nào đến từ Texas, Johnson đã tự nâng mình lên tới đỉnh, qua hệ thống các đồng minh thuận lợi.
Trong các cuộc đua xe đạp, không chạy dẫn đầu mà chạy ngay phía sau người dẫn đầu – một vị trí núp được sức cản của gió – là một chiến lược thông dụng, người dẫn đầu phải đón gió và tiết kiệm năng lượng cho bạn. Vào phút cuối cùng, bạn bứt phá lên dẫn đầu. Để cho những người khác cản gió cho bạn và lãng phí năng lượng của họ là đỉnh cao của sự tiết kiệm và chiến lược.
Một trong những mưu mẹo hay nhất trong Trò chơi liên minh là bắt đầu bằng cách tỏ vẻ như giúp đỡ người khác trong một mục tiêu hay cuộc chiến, chỉ để cuối cùng gia tăng các lợi ích của chính mình. Rất dễ tìm những người khác như thế: họ có một nhu cầu hiển nhiên, một yếu điểm tạm thời mà bạn có thể giúp họ khắc phục. Lúc này, bạn đã đưa họ vào dưới một mối ràng buộc tinh vi với bạn, để sử dụng theo ý bạn – điều khiển các công việc của họ, chuyển năng lượng của họ theo hướng bạn mong muốn. Những cảm xúc mà bạn tạo ra với sự đề xuất hay giúp đỡ sẽ che đậy mục đích về sau của bạn. Họa sĩ Salvador Dali đặc biệt tinh thông với phiên bản này của trò chơi: nếu có ai đó cần tiền, Dali sẽ đến cứu viện, tổ chức một buổi khiêu vũ từ thiện hay một sự kiện vận động quyên góp khác. Cá nhân đó khó có thể cưỡng lại: Dali thân thiện với hoàng gia, các ngôi sao Hollywood, những người có vai vế. Trong buổi triển lãm “Đêm trong Rừng Siêu thực” ở bãi biển Pebble, California năm 1941, nhằm cứu trợ các họa sĩ đói khát sống ở châu Âu bị chiến tranh tàn phá, Dali yêu cầu một con hươu cao cổs ống, đủ số cây thông để tạo ra một cánh rừng giả, một cái giường lớn nhất thế giới, một chiếc ô tô hỏng, và hàng ngàn đôi giày sẽ phục vụ cho các họa sĩ. Vào cuối tiệc là một tiệc rượu ướp đá có đủ loại quảng cáo, nhưng như thường xảy ra với Dali, số chi luôn vượt xa số thu; không còn lại xu nào cho các nghệ sĩ chết đói ở châu Âu. Và thật lạ lùng, mọi quảng cáo đều tập trung vào Dali, tăng thêm danh vọng và tạo cho ông thêm nhiều đồng minh.
Một biến thể khác của Trò chơi liên minh là đóng vai người hòa giải, một trung tâm mà quanh nó là những thế lực quan trọng khác. Trong khi vẫn hoàn toàn tự trị, bạn khiến cho những người quanh bạn chiến đấu cho lòng trung thành của bạn. Đây chính là cách mà Hoàng tử Klemens von Metternich, ngoại trưởng Áo trong và sau thời Napoleon, đã phục hồi quyền lực chủ yếu của Áo ở châu Âu và vai trò chiến lược của nó đối với các nước xung quanh. Ngay cả trong thời Napoleon cai trị, khi Áo đang suy yếu nhất và Metternich phải tâng bốc Pháp, ông vẫn giữ cho nước mình thoát khỏi những vướng bận kéo dài. Ví dụ, không ràng buộc Áo với Pháp bởi bất kỳ mối quan hệ liên minh pháp lý nào, ông ràng buộc Napoleon bằng tình cảm khi thu xếp cho vị hoàng đế kết hôn với công nương Áo. Nắm giữ mọi thế lực lớn – Anh, Pháp, Nga – trong lòng bàn tay, ông làm cho mọi sự việc xoay quanh Áo, mặc dù bản thân Áo không còn là một thế lực quân sự lớn. Sự xuất sắc của biến thể này chỉ đơn giản bằng cách tạo ra một vị trí trung tâm, bạn có thể vận dụng một nguồn lực lớn lao. Chẳng hạn, bạn đặt mình ở một điểm then chốt trong dây chuyền thông tin, giúp bạn thâm nhập và kiểm soát được nó. Hoặc bạn tạo ra một thứ gì đó mà người khác phải phụ thuộc vào, tạo cho bạn một lực bẩy không thể tin nổi. Hoặc bạn đóng vai trò người hóa giải mà mọi người đều cần đến để giải quyết mọi tranh chấp. Bất kể đó là gì, bạn có thể duy trì quyền lực trong vị trí trung tâm này chỉ bằng cách giữ cho bản thân không vướng mắc và bị lôi kéo. Giây phút mà bạn tham gia vào một mối liên minh kéo dài, quyền lực của bạn đã suy giảm trầm trọng.
Một thành tố chủ yếu của Trò chơi liên minh là khả năng thao túng, thậm chí tiêu diệt liên minh của những kẻ khác, gieo chia rẽ trong các đối thủ để họ tự đấu đá với nhau. Việc phá vỡ các liên minh của kẻ thù cũng tốt ngang với việc kiếm đồng minh cho mình. Khi Hérnan Cortés đổ bộ vào Mexico năm 1519, ông đối đầu với hàng vạn người Aztec chỉ với 500 người. Biết rằng có nhiều bộ lạc nhỏ thù ghét đế quốc Aztec hùng mạnh, ông dần dần lôi kéo họ từ bỏ mối liên minh với Aztec. Ví dụ, bằng cách trút đầy tai một tù trưởng bằng những câu chuyện kinh khủng về các kế hoạch của hoàng đế Aztec, ông có thể dụ cho người đó bắt giữ các sứ thần Aztec vào chuyến thăm lần sau của họ. Dĩ nhiên điều đó làm cho vị hoàng đế nổi cáu, lúc này bộ lạc đó bị cô lập và nằm trong vòng nguy hiểm – và sẽ cầu khẩn Cortés bảo vệ. Cứ thế Cortés tiếp tục với âm bản này của Trò chơi liên minh, cho tới lúc mọi đồng minh của Aztec trở thành của ông.
Tiêu điểm của bạn ở đây là khuấy lên sự ngờ vực. Làm cho một thành viên nghi ngờ thành viên khác, lan truyền những tin đồn, đặt nghi vấn về động cơ của mọi người, thân thiện với một đồng minh để làm đồng minh khác ghen tức. Chia và trị. Theo cách này bạn sẽ tạo nên một đợt triều cảm xúc, trước hết tấn công vào phía này, rồi tới phía kia, cho tới khi mối liên minh tan rã. Lúc này những cựu thành viên của liên minh đó dễ bị tổn hại. Thông qua mưu mẹo hoặc lời mời gọi thật sự, khiến họ quay sang phía bạn để tìm sự bảo vệ.
Khi đối đầu với một kẻ thù bao gồm những đồng minh, bất kể nó to lớn hoặc khó chống cự đến thế nào, đừng e sợ. Như Napoleon đã nói: “Hãy cho ta những liên minh để chiến đấu.” Nói chung, trong chiến tranh những nước đồng minh có những trục trặc về chỉ huy và kiểm soát. Loại quyền lãnh đạo tệ hại nhất là quyền lãnh đạo phân tán; bị buộc phải tranh cãi để đi đến sự nhất trí trước khi họ hành động, các đồng minh nói chung thường di động chậm như sên. Khi đánh nhau với những nhóm đồng minh lớn, như thường lệ, Napoleon luôn tấn công trước hết vào chỗ liên kết yếu, thành viên thứ yếu. Sự sụp đổ ở đây có thể làm cho toàn thể cơ cấu của khối đồng minh tan rã. Ông cũng thường tìm chiến thắng nhanh chóng trong chiến trận, ngay cả một trận nhỏ, vì không có một lực lượng nào dễ mất tinh thần do một thất bại hơn là một lực lượng đồng minh.
Cuối cùng, tất nhiên bạn sẽ bị tấn công vì chơi Trò chơi liên minh. Mọi người sẽ buộc tội bạn là kẻ vô trách nhiệm, vô đạo đức, phản phúc. Hãy ghi nhớ: bản thân những cuộc tấn công này cũng có tính chiến lược. Chúng là một phần của một cuộc tấn công đạo đức (xem chương 25). Để tăng cường lợi ích riêng của mình, những kẻ tố cáo bạn đang cố gắng làm cho bạn cảm thấy tội lỗi hay trông có vẻ xấu xa. Đừng để cho họ đạt được mục đích. Mối nguy cơ thật sự là tai tiếng của bạn cuối cùng sẽ ngăn mọi người kết đồng minh với bạn – nhưng sự tư lợi vẫn thống trị thế giới. Nếu trong quá khứ, mọi người thấy bạn có lợi cho họ, và có khả năng làm tương tự như thế trong hiện tại, bạn sẽ có những người thích hợp và những bạn cùng chơi. Ngoài ra, bạn vẫn trung thành và phóng khoáng, miễn là có những nhu cầu chung. Và khi bạn chứng tỏ rằng bạn không thể bị lôi kéo bằng sự cám dỗ giả tạo của lòng trung thành hay tình thân hữu vĩnh viễn, bạn sẽ thật sự phát hiện ra rằng mình được đối xử một cách kính trọng. Nhiều người sẽ bị thu hút tới cách chơi thực tế và sinh động của bạn.
Hình ảnh: Những mô đá trên mặt nước, dòng nước chảy nhanh và nguy hiểm, nhưng bạn phải băng qua nó ở một điểm nào đó. Kia là những mô đá nằm lung tung có thể đưa bạn sang bờ đối diện. Nếu bạn đung đưa quá lâu trên một mô đá, bạn sẽ mất thăng bằng. Nếu bạn đi quá nhanh hay bỏ qua một mô đá, bạn sẽ bị trượt chân. Thay vì thế, bạn phải nhảy một cách nhẹ nhàng từ mô này sang mô kế tiếp và không bao giờ ngoảnh lại.Tư liệu: Hãy cảnh giác với những đồng minh tình cảm,nơi mà ý thức về những hành vi tốt đẹp là sự bù đắp duy nhất cho những hy sinh cao thượng.Otto von Bismarck (1815 – 1898)HOÁN VỊ
Nếu bạn chơi Trò chơi liên minh, những người quanh bạn cũng thế, và bạn không thể xem hành vi của họ là xúc phạm tới mình– bạn phải giao du với họ. Nhưng có một số dạng mà với họ bất kỳ kiểu liên minh nào cũng gây tổn hại cho bạn. Thường là bạn có thể nhận ra họ thông qua sự nôn nóng theo đuổi bạn một cách thái quá: họ sẽ có động thái đầu tiên trước, cố làm bạn mù quáng với những đề xuất đầy cám dỗ và những hứa hẹn lấp lánh. Để tự bảo vệ mình khỏi việc bị sử dụng theo một cách thức tiêu cực, hãy luôn nhìn tới những lợi ích xác thực mà bạn sẽ có được từ sự liên minh này. Nếu lợi ích có vẻ mơ hồ hay khó nhận ra, hãy cân nhắc nhiều lần về việc gia nhập liên minh. Hãy nhìn tới quá khứ của những đồng minh khả dĩ của mình để tìm ra những dấu hiệu của lòng tham hay của việc sử dụng người khác mà không đáp trả lại. Hãy cảnh giác với những người dẻo mồm, có những tính cách rõ ràng là đáng yêu, và hay nói về tình bạn, lòng trung thành, sự vô tư: rất thường đó là những nghệ sĩ lừa bịp đang cố săn lùng các cảm xúc của bạn. Hãy để mắt tới những lợi ích liên quan tới cả hai bên, và đừng bao giờ xao lãng khỏi chúng.