33 Chiến Lược Của Chiến Tranh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 25 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Biết Cách Kết Thúc

❊ ❊ ❊

Trong thế giới này người ta phán xét bạn qua cách bạn kết thúc những sự việc. Một kết thúc lộn xộn hay chưa hoàn tất có thể vọng lại suốt nhiều năm sau, phá hủy thanh danh của bạn trong tiến trình đó. Nghệ thuật kết thúc mọi sự một cách tốt đẹp là biết khi nào nên dừng lại, không bao giờ đi quá xa đến nổi tự làm kiệt sức hay tạo ra những kẻ thù gay gắt sẽ gây rối cho bạn trong một xung đột tương lai. Nó còn đòi hỏi mức độ năng lượng và sự tinh nhạy đúng. Đây không phải là vấn đề chiến thắng một cách đơn giản cuộc chiến mà là phương thức để chiến thắng, phương cách mà chiến thắng đó tạo nền tảng cho bạn ở vòng đua kế tiếp. Đỉnh cao của sự khôn ngoan chiến lược là tránh mọi xung đột và vướng mắc mà từ đó không có một lối ra hiện thực nào.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÔNG CÓ LỐI RA

Đối với đa số những thành viên cấp cao trong Bộ Chính trị Liên Xô - Tổng Bí thư Leonid Brezhnev, trùm KGB Yuri Andropov và Bộ trưởng Quốc phòng Dmitri Ustinov - thời kỳ cuối thập niên 1960 đầu 70 dường như là một kỷ nguyên vàng son. Họ đã sống qua cơn ác mộng của những năm thời Stalin và sự cai trị vụng về của Khrushchev. Cuối cùng, giờ đây đã có một sự ổn định nào đó trong Liên bang Xô viết. Những nhà nước vệ tinh của nó ở Đông Âu tương đối ngoan ngoãn, đặc biệt sau khi cuộc nổi dậy của Tiệp Khắc năm 1968 đã bị nghiền nát. Mỹ, kẻ thù không đội trời chung của nó đã bị bầm mắt từ cuộc Chiến tranh Việt Nam. Và hứa hẹn hơn hết, người Nga đã dần có thể mở rộng tầm ảnh hưởng của họ ra Thế giới Thứ ba. Tương lai có vẻ xán lạn.

Một quốc gia then chốt trong kế hoạch mở rộng của Nga là Afganistan ở biên giới phía nam. Nước này giàu hơi đốt tự nhiên và các mỏ quặng khác, và có nhiều cảng ở Ấn Độ Dương, việc biến nó thành một vệ tinh Xô viết sẽ là một giấc mơ nhiều khả năng thành hiện thực. Người Nga đã luồn lách vào nước này từ thập niên 1950, giúp đào tạo quân đội, xây dựng đường cao tốc Salang từ bắc Kabul tới Liên Xô, và cố hiện đại hóa quốc gia lạc hậu này. Tất cả êm xuôi theo kế hoạch cho tới đầu thập niên 1970, khi phong trào Hồi giáo chính thống bắt đầu trở thành một thế lực chính trị băng qua Afganistan. Người Nga nhìn thấy hai hiểm họa: thứ nhất, những kẻ theo phong trào chính thống này sẽ nắm quyền lực và do xem chủ nghĩa cộng sản là vô thần và đáng ghét, sẽ cắt đứt mọi quan hệ với những người Xô viết; thứ hai, những kẻ không biết ở yên một chỗ này sẽ tràn từ Afganistan vào miền nam Liên Xô, nơi có một cộng đồng lớn dân cư Hồi giáo.

Năm 1978, để ngăn ngừa viễn cảnh ác mộng đó, Brezhnev bí mật hỗ trợ một hoạt động phi thường nhằm đưa Đảng Cộng sản Afganistan lên nắm quyền. Nhưng những người cộng sản Afganistan lại cực kì bè phái, và chỉ sau một cuộc đấu tranh lâu dài một người lãnh đạo mới xuất hiện: Hafizullah Amin, người mà Liên Xô tin tưởng. Quan trọng hơn hết, phe Cộng sản không được ưa chuộng ở Afganistan, và Amin phải viện đến những phương tiện tàn bạo nhất để duy trì quyền lực của đảng. Điều này chỉ đem lại lý do cho phe Chính thống. Khắp đắt nước, phiến quân-Mujahideen - bắt đầu nổi loạn, và hàng ngàn binh sĩ Afgan đào ngũ khỏi quân đội chạy về phe họ.

Tháng 12/1979, chính quyền Cộng sản ở Afganistan nằm trên bờ vực sụp đổ. Ở Nga, những thành viên cấp cao của Bộ Chính trị họp lại thảo luận về cuộc khủng hoảng. Đánh mất Afganistan là một đòn tàn phá và một nguồn của sự không ổn định sau một tiến trình đã được thực hiện quá lâu. Họ đổ lỗi cho Amin về các vấn đề của họ; ông ta phải ra đi. Ustinov đề xuất một kế hoạch: Lặp lại cái mà người Xô viết đã làm trong việc đàn áp những cuộc nổi dậy ở Đông Âu, ông ta ủng hộ một cuộc tấn công chớp nhoáng bởi một lực lượng tương đối nhỏ Xô viết. Nó sẽ bảo đảm an toàn cho Kabul và đường cao tốc Salang. Amin khi đó sẽ bị hất cẳng, và một người Cộng sản tên là Babrak Karman sẽ thế chỗ ông ta. Quân đội Xô viết sẽ ra vẻ nhún nhường, và quân đội Afgan sẽ chộp ngay lấy nó. Trong khoảng mười năm, Afganistan sẽ được hiện đại hóa và dần trở thành một thành viên vững bền của khối Xô viết. Được hưởng hòa bình và thịnh vượng, nhân dân Afgan sẽ nhìn thấy những lợi ích lớn lao của chủ nghĩa xã hội và sẽ bám chặt lấy nó.

Vài hôm sau cuộc họp, Ustinov trình bày kế hoạch đó với thống chế quân đội Nikolai Orgakov. Khi được bảo rằng đội quân xâm lược không quá 75.000 quân, Orgakov sửng sốt: lực lượng đó, ông ta nói, quá nhỏ bé để bảo vệ an ninh cho những nơi mở rộng to lớn, đầy núi non của Afganistan, một thế giới rất khác với Đông Âu. Ustinov phản công rằng một lực lượng lớn sẽ gây nên tai tiếng cho những người Xô viết trong Thế giới Thứ ba và sẽ tạo một cái đích nhắm cho phiến quân. Orgakov đáp rằng những người Afgan bè phái có truyền thống về việc đột ngột hợp nhất lại để đẩy lui một đội quân xâm lược - và họ là những chiến binh dữ tợn. Xem kế hoạch này là khinh suất, ông nói tốt hơn nên nỗ lực bằng một giải pháp chính trị cho vấn đề. Lời cảnh báo của ông bị bỏ qua.

Kế hoạch được Bộ Chính trị thông qua và được đưa vào hành động vào ngày 24/12. Một số Hồng quân tiến vào Kabul trong khi một số khác tiến xuống đường cao tốc Salang. Amin được đưa đi và giết chết một cách lặng lẽ trong khi Karmal nắm lấy quyền lực. Những lời lên án rót vào từ khắp nơi trên thế giới, nhưng những người Xô viết nhận ra rằng cuối cùng điều đó sẽ lặng dần - thường là như thế.

Tháng 2/1980, Andropov gặp Karmal và chỉ đạo ông ta về tầm quan trọng của việc chiếm lấy sự ủng hộ của quần chúng Afgan. Đưa ra một kế hoạch cho mục đích đó, ông cũng hứa sẽ trợ giúp tiền và chuyên gia. Ông ta bảo Karmal rằng khi các vùng biên giới đã an toàn, quân đội Afgan được xây dựng và nhân dân đã thỏa mãn một cách hợp lý với chính quyền , Karman nên nhã nhặn yêu cầu quân Xô viết rút đi.

Bản thân cuộc xâm lược diễn ra dễ dàng hơn là chính quyền Liên Xô mong đợi, và suốt thời kỳ quân sự này những người lãnh đạo của nó có thể tự tin tuyên bố “sứ mạng đã hoàn thành”. Nhưng trong vòng vài tuần sau chuyến thăm của Andropov, họ phải điều chỉnh lại đánh giá này: phiến quân không bị quân đội Xô viết đe dọa như ở Đông Âu. Thật ra, từ khi bị xâm lược, sức mạnh của họ dường như tăng lên, các hàng quân của họ lớn dần với những tân binh Afgan và người ngoài. Ustinov rót thêm quân vào Afganistan và ra lệnh tấn công vào những vùng có căn cứ của phiến quân. Cuộc hành quân lớn đầu tiên diễn ra vào mùa xuân đó, khi họ tiến vào Thung lũng Kunar với vũ khí nặng nề, san bằng toàn bộ các ngôi làng và buộc cư dân phải chạy tới những trại tị nạn ở Pakistan. Khi đã quét sạch khu vực nổi loạn, họ rút lui.

Một vài tuần sau, báo cáo đưa về rằng phiến quân đã lặng lẽ quay lại thung lũng Kunar. Tất cả những gì quân Xô viết đã làm chỉ khiến dân Afgan thêm phẫn nộ và giận dữ, giúp phiến quân tuyển mộ dễ dàng hơn. Nhưng quân Xô viết còn làm gì khác được? Để mặc cho phiến quân là cho họ có thời gian và không gian để trở nên nguy hiểm hơn, thế nhưng quân đội quá nhỏ để chiếm đóng toàn bộ các khu vực. Câu trả lời của nó là lặp lại các cuộc hành quân truy quét, với nhiều bạo lực hơn, hy vọng rằng sẽ làm cho phiến quân hoảng sợ - nhưng, như Orgakov đã tiên đoán, điều này chỉ làm cho họ thêm táo bạo.

Trong khi đó, Karmal phát động các chương trình dạy đọc viết, để đem tới nhiều quyền lực hơn cho phụ nữ, phát triển và hiện đại hóa đất nước - tất cả nhằm tách rời sự hỗ trợ khỏi phiến quân. Nhưng đại đa số người dân Afgan thích cách sống truyền thống của họ hơn, và các nỗ lực của đảng Cộng sản để mở rộng ảnh hưởng của nó có một tác dụng ngược lại.

Đáng ngại hơn hết, Afganistan nhanh chóng trở thành một thỏi nam châm cho các nước khác đang nôn nóng khai thác tình thế ở đó để chống lại Liên Xô. Nước Mỹ nói riêng nhìn thấy một cơ hội để phục thù Nga đã cung cấp tiếp tế cho Bắc Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam. CIA rót những khoản tiền và cơ sở vật chất lớn cho phiến quân. Ở nước láng giềng Pakistan, tổng thống Zia ul-Haq xem sự xâm lược là một quà tặng từ trời: đạt được quyền lực vào vài năm trước từ một cuộc binh biến, và mới đây đã nhận được sự lên án từ khắp thế giới về việc tử hình thủ tướng của ông ta, Zia nhìn thấy một cách để tìm ơn huệ từ cả Mỹ lẫn các quốc gia Ả Rập bằng cách cho phép Pakistan phục vụ như là một cứ địa cho phiến quân. Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat, người vừa mới đây đã ký một hòa ước gây nhiều tranh luận với Israel, cũng nhìn thấy một cơ hội bằng vàng để đánh bóng sự ủng hộ Hồi giáo bằng cách gửi trợ giúp cho các đồng đạo của mình.

Với các lực lượng Xô viết trải mỏng ở Đông Âu và trên khắp thế giới, Ustinov từ chối điều thêm quân; thay vì thế ông ta trang bị cho binh lính của mình những vũ khí tối tân nhất và hoạt động để mở rộng và củng cố quân đội Afgan. Nhưng không có chuyển biến nào trong hai điều này trót lọt. Phiến quân nâng cao các cuộc phục kích đường chuyển vận của Xô viết và sử dụng với hiệu quả tối đa những súng phóng lựu Stinger đời mới nhất kiếm được từ người Mỹ. Nhiều năm trôi qua, và tinh thần của quân đội Xô viết hạ thấp dần: những người lính cảm thấy sự căm ghét của dân địa phương và dính chặt vào những vị trí canh giữ chết cứng, không bao giờ biết cuộc đột kích sắp tới sẽ đến. Sự lạm dụng ma túy và rượu nặng trở nên lan tràn.

Khi các phí tổn chiến tranh tăng lên, công chúng Nga bắt đầu quay lưng lại với nó. Nhưng các nhà cầm quyền Xô viết không thể đủ sức để rút chân ra: ngoài việc tạo nên một quyền lực rỗng nguy hiểm ở Afganistan, điều đó sẽ giáng một đòn sắc bén vào thanh danh toàn cầu của họ như là một siêu cường quốc. Và họ cứ ở yên tại chỗ như thế, mỗi năm đều được coi là năm cuối cùng. Những thành viên chủ chốt của Bộ Chính trị dần dà qua đời-Brezhnev năm 1982, Andropov và Ustinov năm 1984 - mà không thấy có một tiến triển nhỏ nhất nào.

Năm 1985, Mikhail Gorbachev trở thành tổng bí thư của Liên Xô. Đã phản đối cuộc chiến này ngay từ đầu, Gorbachev bắt đầu ấn định những giai đoạn rút lui các quân đoàn khỏi Afganistan. Những người lính cuối cùng rời khỏi đó vào đầu năm 1989. Tổng cộng, trên 14.000 binh lính đã chết trong xung đột, nhưng những phí tổn che đậy - với nền kinh tế mỏng manh của Nga, với niềm tin mong manh của nhân dân vào chính quyền của họ - còn lớn hơn nhiều. Chỉ vài năm sau, toàn bộ hệ thống đã sụp đổ. 

Diễn dịch

Vị tướng vĩ đại người Đức Erwin Rommel có lần đã nêu sự khác biệt giữa một cuộc cờ bạc và một nguy cơ. Cả hai trường hợp đều liên quan tới một hành động với chỉ một cơ may thành công duy nhất, một cơ may được nâng cao bởi việc hành động với sự táo bạo. Sự khác biệt là với một nguy cơ, nếu bạn thua, bạn có thể phục hồi: thanh danh của bạn sẽ không gánh chịu một tổn hại kéo dài, các tiềm lực của bạn sẽ không tiêu tán hết, và bạn có thể quay lại vị trí ban đầu của mình với những tổn thất có thể chấp nhận được. Với một cuộc cờ bạc, trái lại, thất bại có thể đưa tới một sự xoay chuyên các vấn đề có khả năng đi xuống theo đường xoắn ốc khỏi khả năng kiểm soát. Với một cuộc cờ bạc có xu hướng quá nhiều biến thể để làm phức tạp thêm bức vẽ dọc theo đường đi nếu mọi sự đã bị sai lệch. Vấn đề đi xa hơn: nếu bạn chạm trán với những khó khăn trong một ván bài, việc rút ra sẽ trở nên khó khăn hơn – bạn nhận ra rằng cái giá đặt cược quá cao; bạn không đảm đương nổi việc thua cuộc. Thế là bạn cố hơn nữa để cứu vãn tình thế, nhưng thường là làm cho nó tệ hơn và chìm sâu hơn vào cái hố mà bạn không thể trèo ra. Mọi người bị hút vào cờ bạc bởi những cảm xúc của họ: họ chỉ nhìn thấy viễn cảnh lấp lánh nếu họ thắng và phớt lờ những hậu quả đáng ngại nếu họ thua. Đánh liều với nguy cơ là điều khẩn yếu; cờ bạc là liều mạng một cách điên rồ.

Cuộc xâm lược vào Afganistan là một ván bài cổ điển. Liên Xô chịu một lực hấp dẫn không thể cưỡng lại của việc chiếm hữu một nước thân cận ở khu vực. Tối mắt vì viễn cảnh đó, họ bỏ quên thực tại: phiến quân và các thế lực bên ngoài đánh cược quá cao đã cho phép Liên Xô để lại một Afganistan an toàn. Có quá nhiều biến động nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ: những hành động của Mỹ và Pakistan, những khu vực biên giới núi non không thể phong tỏa, và còn nhiều nữa. Một quân đội chiếm đóng ở Afganistan sẽ dính vào nhiều vòng trói buộc: quân đội có mặt càng đông, nó càng bị căm ghét, và càng bị căm ghét, nó càng cần đủ lớn để tự bảo vệ bản thân, và cứ thế tiếp tục cho đến vô tận.

Thế nhưng Xô viết đã tham gia ván bài và tạo nên rối loạn. Lúc này, đã quá muộn, họ mới nhận ra giá đặt cược đã lên cao: rút khỏi cuộc chơi, chịu thua - sẽ là một đòn tàn phá vào uy tín của họ. Nó cũng có nghĩa là sự mở rộng các lợi ích của Mỹ và một cuộc nổi loạn xấu xa ở biên giới của họ. Vì lẽ ra ngay từ đầu họ không nên xâm lược, họ không có một chiến lược thoát ra hợp lý. Điều tốt nhất họ có thể làm là cắt bỏ những mất mát của mình và bỏ chạy - nhưng đó là điều dường như bất khả đối với một tay cờ bạc, vì cờ bạc được điều khiển bằng cảm xúc, và khi các cảm xúc được nổi lên, rút lui là một việc khó khăn.

Cách tệ hại nhất để kết thúc bất kỳ điều gì - một cuộc chiến, một xung đột, một mối quan hệ - là sự chậm chạp và đau đớn. Phí tổn cho một kết thúc như thế rất cao: mất lòng tự tin, sự vô thức tránh né xung đột lần sau đang chờ chực, sự cay đắng và hận thù để lại sẽ sinh sôi - tất cả là một sự lãng phí thời gian vô cùng phi lý. Trước khi tiến hành bất kì hành động nào, bạn phải tính toán với những điều kiện chính xác chiến lược thoát ra của bạn. Cuộc giao tranh chính xác sẽ kết thúc ra sao, và nó sẽ rời bỏ bạn ở nơi nào? Nếu lời đáp cho những câu hỏi này có vẻ mơ hồ và đầy những suy đoán, nếu thành công có vẻ quá cám dỗ và thất bại chỉ hơi nguy hiểm, rất có khả năng bạn sắp tham dự một ván bài. Những cảm xúc của bạn đang dẫn dắt bạn vào một tình thế có thể kết thúc bằng sự sa lầy.

Trước khi điều đó xảy ra, hãy tự kiểm lại mình. Và nếu bạn thấy bạn phải thực hiện sai lầm này, bạn chỉ có hai giải pháp hợp lý: hoặc kết thúc sự xung đột càng nhanh càng tốt, với một đòn mạnh bạo nhằm thủ thắng, chấp nhận mọi giá phải trả và biết chúng tốt hơn là một cái chết chậm chạp và đau đớn, hoặc cắt đứt những tổn thất và bỏ cuộc không một chút trì hoãn. Không bao giờ để cho lòng tự hào hay mối quan tâm tới thanh danh của bạn đẩy bạn xa hơn vào vũng lầy; cả hai sẽ chịu những đòn nặng nề hơn bởi sự dai dẳng của bạn. Thất bại tạm thời tốt hơn là thảm họa lâu dài. Minh triết là biết lúc để dừng.

 

 

Tiến quá xa cũng tệ như ngã quá sớm.

Khổng Tử (551?-79 tr. CN)

 

KẾT THÚC NHƯ LÚC BẮT ĐẦU

Hồi còn trẻ, Lyndon B. Johnson có một giấc mơ: trèo lên chiếc thang chính trị và trở thành tổng thống. Khi anh đạt độ tuổi giữa lứa hai mươi, mục tiêu đó bắt đầu có vẻ không thể đạt tới. Một công việc với tư cách thư ký của một đại biểu quốc hội Tiểu bang Texas đã cho phép anh gặp gỡ và tạo được ấn tượng với Tổng thống Franklin D. Roosevelt, và ông đã cử anh làm giám đốc Ban Quản lý Thanh niên Quốc gia của Texas, một chức vụ hứa hẹn những kết nối về chính trị. Nhưng cử tri Texas cực kì trung thành, thường bầu lại đại biểu của họ suốt nhiều thập kỷ, hoặc cho tới khi họ chết. Johnson đang nôn nóng muốn có một ghế ở Quốc hội. Nếu anh không sớm kiếm được nó, anh sẽ quá già để leo lên chiếc thang, và anh cháy bùng với tham vọng của mình.

Ngày 22/2/1937, từ trong màn u ám, một cơ may cho cả đời người đã mở ra: Đại biểu Quốc hội Texas Jame Buchanan bị đột tử. Chiếc ghế của ông bị bỏ trống thuộc Quận 10 Texas. Đó là một cơ hội hiếm hoi và những chính trị gia nặng cân đủ tư cách của tiểu bang ngay lập tức tung mũ của họ vào võ đài. Những đối thủ bao gồm: Sam Stone, một thẩm phán cấp hạt nổi tiếng; Shelton Polk, một luật sư trẻ nhiều tham vọng ở Austin; và CV. Avery, vị quản lý chiến dịch vận động cũ của Buchanan, người có khả năng chiến thắng nhất.

Johnson phải đối đầu với một tình thế khó khăn kinh khủng. Nếu anh tham dự cuộc đua, những đại cử tri sẽ chống lại anh một cách một cách phi lý: anh còn trẻ - chỉ 28 tuổi - và ở một quận mà anh chưa có tiếng tăm gì cũng như có rất ít mối quan hệ. Một thất bại tệ hại sẽ phá hủy thanh danh của anh và đẩy lùi anh lại thật xa trên con đường tới mục tiêu dài hạn. Mặt khác, nếu anh bỏ cuộc, anh sẽ phải chờ khoảng 10 năm để có một cơ hộ khác. Với tất cả những điều này trong đầu, anh vứt bỏ sự cảnh giác vào trong gió và tham dự cuộc chạy đua.

Bước đầu tiên của Johnson là tập trung về phía mình một tá thanh niên thiếu nữ mà anh đã giúp đỡ hay thuê trong những năm qua. Chiến lược vận động của anh rất đơn giản: anh sẽ tự phân biệt với các đối thủ khác bằng cách giới thiệu mình như một ủng hộ viên trung thành nhất của Roosevelt. Bầu cho Johnson là bầu cho tổng thống, nhà kiến trúc sư nổi tiếng của New Deal. Và vì Johnson không thể cạnh tranh ở Austin nên anh quyết định hướng đội quân tình nguyện của mình tới vùng ngoại ô, vùng Hill Country dân cư thưa thớt. Đây là khu vực nghèo nhất của quận, một nơi mà các ứng viên hiếm khi dám đến. Johnson muốn gặp từng nông dân lớn tuổi và những người lĩnh canh, bắt tay với bất kỳ ai có thể, chiếm được lá phiếu của những người dân chưa bao giờ bầu cử trước đó. Đó là một chiến lược của một người tuyệt vọng nhận ra rằng đây là cơ may tốt nhất và duy nhất của mình để giành chiến thắng.

Một trong những thuộc cấp trung thành nhất của Johnson là Caroll Keach, giúp việc lái xe cho anh. Hai người thanh niên cùng nhau lái xe qua từng dặm vuông của Hill Country, đi theo từng con đường mòn và đường bò bẩn thỉu. Phát hiện ra một nông trại nào đó cách xa đường, Johnson lại bước xuống xe, đí tới cửa, tự giới thiệu với những nông dân đang ngỡ ngàng, lắng nghe các vấn đề của họ, rồi ra đi với một cái bắt tay nồng hậu và một lời đề nghị nhẹ nhàng về lá phiếu của họ. Trong những cuộc mít tinh trong các thị trấn bụi bặm chỉ bao gồm chủ yếu là một nhà thờ và một sân ga, anh đọc diễn văn, rồi hòa vào đám khán giả và trải qua ít nhất vài phút với từng người có mặt. Anh có một trí nhớ tuyệt vời với những gương mặt và những cái tên: nếu gặp cùng một người hai lần, anh có thể nhắc lại mọi điều người đó nói ở lần gặp đầu, và anh thường gây ấn tượng cho những người lạ bởi việc biết ai đó mà họ quen. Anh lắng nghe chăm chú và luôn cẩn thận để lại cho mọi người cảm giác rằng họ sẽ còn gặp lại anh, và nếu anh thắng cử, cuối cùng họ sẽ có một người quan tâm đến những lợi ích của họ ở Washington. Trong những quán rượu, những cửa tiệm thực phẩm, những nhà ga trên khắp Hill Country, anh đã chuyện trò với những cư dân địa phương như thể anh không còn chuyện gì khác để làm. Khi lên đường, chắc chắn anh sẽ mua một thứ gì đó - kẹo, thực phẩm, xăng - một cách thức mà họ rất cảm kích. Anh có tài năng thiên phú trong việc tạo một mối dây liên kết.

Trong lúc cuộc chạy đua tiếp diễn, Johnson đi nhiều ngày không ngủ, giọng nói của anh trở nên khàn vỡ, đôi mắt sụp xuống. Khi Keach lái xe qua suốt quận, anh ta lắng nghe trong kinh ngạc khi người ứng cử viên kiệt sức trong xe thì thầm với chính mình về những người mà anh vừa gặp, ấn tượng mà anh đã tạo ra, điều mà lẽ ra anh có thể làm tốt hơn. Johnson không bao giờ muốn trông mình có vẻ tuyệt vọng hay xa cách. Điều quan trọng chính là cái bắt tay và cái nhìn vào mắt lúc chia tay.

Những kết quả điều tra luôn lừa lọc: chúng tiếp tục cho thấy Johnson ở phía sau, nhưng anh biết anh đã kiếm được số cử tri mà không cuộc điều tra nào có thể liệt kê. Và trong bất kỳ trường hợp nào, anh đang dần bắt kịp - tới tuần cuối anh đã bò lên vị trí thứ ba. Đột nhiên, lúc này những ứng cử viên khác bắt đầu chú ý. Cuộc bầu cử hóa ra bẩn thỉu: Johnson bị tấn công vì tuổi trẻ, vì sự ủng hộ mù quáng đối với Roosevelt, vì bất cứ mọi thứ có thể đào bới ra. Cố kiếm thêm một số lá phiếu ở Austin, Johnson tiến lên chống lại cỗ máy chính trị của thị trưởng Miller, người không thích anh và đã làm mọi thứ có thể làm để phá hoại cuộc vận động của anh.

Vào ngày bầu cử, Johnson đã làm một cuộc lật đổ lớn nhất trong lịch sử chính trị Mỹ, cách đối thủ gần nhất của anh tới 3.000 phiếu. Kiệt sức vì cuộc chạy đua, anh đã được đưa vào bệnh viện, nhưng hôm sau ngày chiến thắng, anh lại quay về với công việc - anh có một việc cực kỳ quan trọng phải làm. Từ giường bệnh, Johnson đã đọc cho người khác viết những lá thư gửi tới các đối thủ của mình. Anh chúc mừng họ đã điều động một chiến dịch lớn; anh cũng mô tả thắng lợi của mình như một sự may mắn, một cuộc bầu cho Roosevelt hơn là cho chính anh. Biết rằng Miller đang thăm Washington, Johnson đánh điện tín báo những đường dây của anh ở thủ đô để đi hướng dẫn ông ta và đối đãi với ông ta như một kẻ trung thành. Ngay khi rời bệnh viện, anh tới thăm các đối thủ và cư xử một cách khiêm tốn. Thậm chí anh còn kết bạn với em trai của Polk, lái xe chở anh ta quanh thị trấn cho những công việc vặt.

Mười tám tháng sau, Johnson phải trải qua một cuộc tái tuyển cử, và những người một thời là đối thủ và kẻ thù quyết liệt đột nhiên hóa thành những tín đồ nồng nhiệt nhất của Johnson, quyên góp tiền của, thậm chí còn vận động với tư cách của anh. Và Thị trưởng Miller, người đã từng ghét Johnson nhất, giờ trở thành ủng hộ viên mạnh nhất của anh và vẫn cứ như thế suốt nhiều năm sau đó.  

Diễn dịch

Đối với đa số chúng ta, sự kết thúc của bất cứ điều gì - một dự án, một chiến dịch, một nỗ lực thuyết phục - sẽ trở thành một loại tường thành: công việc đã làm xong, và đây là thời gian để kiểm điểm những được và mất để rồi tiếp tục. Lydon Johnson nhìn vào thế giới theo cách khác: một kết thúc không giống một bức tường thành mà giống một cánh cửa hơn, nó dẫn tới một chu kỳ hay trận đấu mới. Điều quan trọng với ông không phải là tìm được một chiến thắng mà là nơi nó để ông lại, và cách thức nó mở ra hiệp đấu kế tiếp. Có gì là tốt trong việc thắng cuộc bầu cử năm 1937 nếu 18 tháng sau đó ông bị ném ra khỏi văn phòng? Đó hẳn là một thất bại khủng khiếp đối với ước mơ tổng thống của ông. Nếu sau cuộc bầu cử ông cứ hưởng thụ niềm vui chiến thắng, hẳn ông đã gieo những hạt giống thất bại cho cuộc bầu cử tiếp theo. Ông có quá nhiều kẻ thù - nếu họ không tìm cách chống đối ông vào năm 1938, họ sẽ khuấy động rắc rối trong lúc ông đi xa ở WashingtonVì thế ngay lập tức Johnson làm việc để chiếm cảm tình của những người này, hoặc với những kêu gọi thông minh tới lợi ích của chính họ. Ông luôn để mắt tới tương lai và loại thành công sẽ giúp ông tiếp tục tiến tới.

Johnson đã dùng cùng một phương pháp tiếp cận như những nỗ lực giành lấy lá phiếu của các cử tri. Thay vì cố thuyết phục mọi người ủng hộ mình với những bài diễn văn và những ngôn từ hoa mỹ (dù sao ông cũng không phải là một nhà hùng biện giỏi), ông tập trung vào cảm giác mà mình để lại cho mọi người: ngôn từ có thể nghe rất kêu, nhưng nếu một chính trị gia để mọi người nghi ngờ là ông ta không chân thành, chỉ đơn giản lặp đi lặp lại để kiếm phiếu bầu, họ sẽ khép cửa lòng và quên ông ta. Vì thế Johnson hành động để thiết lập một mối liên kết tình cảm với cử tri, và ông kết thúc cuộc chuyện trò với họ bằng một cái bắt tay thật chặt và một cái nhìn trong mắt, một chút run run trong giọng nói, những thứ đã đóng triện cho mối liên hệ giữa họ. Ông khiến họ cảm thấy họ sẽ gặp lại ông, và ông gợi lên những cảm xúc sẽ xóa tan mọi ngờ vực về sự chân thành của mình. Kết thúc của cuộc đối thoại thật ra là một loại khởi đầu, vì nó ở lại tâm trí họ và biến thành những lá phiếu.

Thấu hiểu: Trong bất kỳ công việc làm ăn nào, khuynh hướng chỉ suy nghĩ trong phạm vi được hay mất, thành công hay thất bại, rất nguy hiểm. Tâm trí bạn đã tới một điểm dừng, thay vì nhìn ra phía trước. Các cảm xúc thống trị thời điểm đó: một niềm hoan hỉ thiển cận khi thắng cuộc, sự thất vọng và cay đắng khi thua cuộc. Cái bạn cần là một cách nhìn có tính chiến lược và linh hoạt hơn vào đời sống. Chưa từng có cái gì thật sự kết thúc; cách bạn hoàn thành một điều gì đó sẽ ảnh hưởng và thậm chí quyết định điều bạn làm kế tiếp. Một số chiến thắng có tính chất tiêu cực - chúng chẳng đưa tới đâu cả - và một số thất bại lại có tính tích cực, có công hiệu như một tiếng chuông thức tỉnh hay một bài học. Kiểu tư duy linh hoạt này sẽ buộc bạn đề cao tính chiến lược hơn nữa vào phẩm chất và tình trạng kết thúc. Nó sẽ khiến bạn nhìn vào đối thủ và quyết định cuối cùng tốt hơn bạn có nên độ lượng với họ, lùi lại một bước và biến họ thành những đồng minh, lợi dụng những cảm xúc ở thời điểm đó hay không. Trong việc để mắt tới hậu quả của bất kỳ cuộc chạm trán nào, bạn sẽ nghĩ nhiều hơn tới cảm giác mà bạn để lại cho mọi người - một cảm giác có thể chuyển hóa thành một niềm mong muốn gặp bạn nhiều hơn nữa. Bằng cách thấu hiểu rằng mọi chiến thắng hay thất bại đều có tính nhất thời, và rằng điều quan trọng là bạn sẽ làm gì với chúng, bạn sẽ thấy việc giữ cho bản thân cân bằng trong hàng ngàn trận chiến mà cuộc đời mang đến trở nên dễ dàng hơn. Kết thúc thật sự duy nhất là cái chết. Mọi thứ khác chỉ là một sự chuyển hóa.

Như Yasuda Ukyo đã nói về việc dâng lên ly rượu cuối,

chỉ có kết thúc của các sự việc là quan trọng. Toàn bộ cuộc đời

của một người phải nên như vậy. Khi những vị khách lên đường,

tâm trạng miễn cưỡng nói lời tạm biệt là điều chủ yếu.

Yamamoto Tsunetomo, Hagakure: Quyển sách của samurai

(1659-1720)

CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN

Trên thế giới có ba loại người. Thứ nhất, có những kẻ mộng và những kẻ hay nói; họ bắt đầu dự án của mình với ngọn lửa nồng nhiệt. Nhưng tia lửa năng lượng này nhanh chóng lụi tàn khi họ chạm trán với thế giới hiện thực và công việc vất vả cần thiết để đưa bất kỳ dự án nào đến kết thúc. Họ là những tạo vật giàu cảm xúc chỉ biết sống cho khoảnh khắc: họ dễ dàng đánh mất sự chú ý bởi một điều mới mẻ khác. Cuộc sống của họ bừa bãi những dự án hoàn thành nửa vời, gồm cả một số dự án hầu như chỉ là một giấc mơ ngày.

      Rồi có những kẻ sẽ kết thúc tất cả những gì họ làm, hoặc vì buộc phải vậy, hoặc vì họ có thể nỗ lực. Nhưng họ băng qua con đường hoàn thành với sự nồng nhiệt và năng lượng ít hơn một cách rõ ràng so với lúc khởi sự. Điều này làm hỏng kết thúc của chiến dịch. Vì họ không kiên nhẫn để hoàn thành, sự kết thúc dường như vội vã và chắp vá. Và nó khiến những người khác cảm thấy hơi không thỏa mãn; nó không đáng ghi nhớ, không tồn tại lâu, không một âm thanh đồng vọng.

Cả hai loại trên bắt đầu mỗi dự án mà không có một ý tưởng xác định về cách thức làm thế nào để kết thúc nó. Và khi dự án tiến triển, chắc chắn phải khác với cái mà họ đã hình dung, họ trở nên hoang mang không biết chắc nên làm cách nào để thoát khỏi nó, và hoặc từ bỏ nó hoặc đơn giản đi vội đến kết thúc.

Nhóm thứ ba bao gồm những người thấu hiểu một quy luật sơ khai của sức mạnh và chiến lược: kết thúc của một sự việc - một dự án, một chiến dịch, một cuộc đối thoại - có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với mọi người. Nó đồng vọng trong tâm trí. Một cuộc chiến có thể bắt đầu với sự phô trương ầm ĩ và có thể mang lại nhiều thắng lợi nhưng nếu nó kết thúc một cách tồi tệ, đó là tất cả những gì mà mọi người nhớ tới. Nắm được tầm quan trọng và độ vang cảm xúc của việc kết thúc bất cứ sự việc gì, những người kiểu thứ ba này hiểu rằng vấn đề không chỉ đơn giản là hoàn thành cái họ đã khởi sự mà là hoàn thành nó một cách tốt đẹp - với năng lượng, một đầu óc minh bạch, một sự lưu tâm tới ánh hoàng hôn còn hắt lại, cách mà sự kiện đeo đẳng trong tâm trí mọi người. Những kiểu người này bắt đầu theo nhiều cách thức khác biệt nhau với một kế hoạch rõ ràng. Khi thất bại tới, như nó sẽ, họ có thể giữ kiên nhẫn và tư duy một cách hợp lý. Họ hoạch định không chỉ tới lúc kết thúc mà vượt qua nó, cho tới hậu quả. Đây là những người tạo nên những điều tồn tại lâu dài - một nền hòa bình có ý nghĩa, một tác phẩm nghệ thuật đáng nhớ, một sự nghiệp lâu bền và gặt hái nhiều kết quả. 

 

 

 

 

 

Nguyên do của việc khó mà kết thúc những sự việc một cách tốt đẹp rất đơn giản: những kết thúc gợi nên các cảm xúc áp đảo. Vào cuối một xung đột quyết liệt, chúng ta có một khát khao sâu thẳm đối với hòa bình, một sự nôn nóng mong tới lúc đình chiến. Nếu xung đột này đưa chúng ta tới chiến thắng, chúng ta thường không chống nổi những ảo tưởng về sự vĩ đại hay bị cuốn theo lòng tham và cố vơ vét nhiều hơn mức cần thiết. Nếu cuộc xung đột xấu xa, sự nổi giận khiến chúng ta hoàn tất nó với một cuộc tấn công tàn bạo, mang tính trừng phạt. Nếu thua, chúng ta chỉ còn một khát khao phục thù bỏng cháy. Những cảm xúc như thế có thể phá hủy mọi công việc tốt đẹp trước đó của chúng ta. Thực tế, không có gì khó khăn hơn trong lĩnh vực chiến lược so với việc giữ cho đầu ta thẳng trên suốt con đường tới điểm kết thúc và vượt qua nó - thế nhưng cũng không có gì cần thiết hơn.

 Có lẽ Napoleon Bonaparte là vị tướng vĩ đại nhất cho tới nay. Những chiến lược của ông là những kỳ công của sự linh hoạt và tỉ mỉ được kết hợp với nhau, và ông hoạch định suốt con đường cho tới điểm kết thúc. Nhưng sau khi đánh bại Áo ở Austerlitz và sau đó là Phổ ở Jena-Auerstadt - hai chiến thắng lớn nhất của ông - ông đặt ra cho hai quốc gia này những điều khoản khắc nghiệt nhằm biến họ thành những vệ tinh suy yếu của Pháp. Từ đó, trong những năm sau các hiệp ước, cả hai nước này đã nuôi dưỡng một mong muốn báo thù mạnh mẽ. Họ bí mật xây dựng quân đội và chờ đợi ngày mà Napoleon có thể dễ tổn thương. Thời điểm đó đến sau cuộc rút lui thê thảm khỏi Nga năm 1812 của ông, khi đó họ đột ngột tấn công ông với một hỏa lực khủng khiếp.

Napoleon đã cho phép cảm xúc tầm thường - ao ước làm bẽ mặt kẻ thù, báo thù và ép buộc sự tuân phục - gây nhiễm độc chiến lược của ông. Giá mà ông vẫn tập trung vào các lợi ích lâu dài của mình, hẳn ông đã biết rằng tốt hơn nên làm suy yếu Phổ và Áo về mặt tâm lý hơn là vật chất - để dụ dỗ họ với những điều khoản khoan dung một cách rõ ràng, biến họ thành những đồng minh tận tâm thay vì là những vệ tinh đầy thù ghét. Nhiều người ở Phổ lúc đầu đã xem Napoleon như là một nhà giải phóng vĩ đại. Giá mà ông chỉ giữ Phổ như một đồng minh vui vẻ, hẳn ông đã thoát khỏi sự sụp đổ hoàn toàn ở Nga và hẳn đã không có trận Waterloo.

Hãy học tốt bài học này: những kế hoạch xuất sắc và những cuộc chinh phục chất chồng chưa đủ. Bạn có thể trở thành nạn nhân của thành công của chính mình, để cho chiến thắng quyến rũ bạn vào việc đi quá xa, tạo ra những kẻ thù dai dẳng, chiến thắng trận đánh nhưng lại để thua trò chơi chính trị theo sau nó. Cái bạn cần là một con mắt thứ ba về chiến lược: khả năng tập trung vào tương lai trong khi hoạt động ở hiện tại và kết thúc những hành động của bạn theo một cách mà nó sẽ phục vụ cho các lợi ích của bạn trong hiệp đấu kế của cuộc chiến. Con mắt thứ ba này sẽ giúp bạn phản công lại những cảm xúc có thể âm thầm gây nhiễm độc cho các chiến lược thông minh của bạn, đặc biệt là sự giận dữ và ý muốn phục thù.

Vấn đề chủ yếu trong chiến tranh là biết lúc nào nên dừng lại, lúc nào tạo một lối thoát và đi đến những điều khoản. Nếu dừng quá sớm, bạn sẽ đánh mất những gì bạn có thể kiếm được bằng cách tiến thêm; bạn cho mối xung đột quá ít thời gian để chỉ ra nó đang hướng về đâu. Nếu dừng quá muộn, bạn hy sinh những gì bạn đã kiếm được bằng cách tự làm kiệt sức mình, vơ vét nhiều hơn mức bạn có thể mang, tạo ra sự giận dữ và những kẻ thù. Triết gia lớn về chiến tranh Carl von Clausewitz đã phân tích vấn đề này, thảo luận cái mà ông gọi là “cực điểm chiến thắng” [culminating point of victory] - thời điểm tốt nhất để kết thúc chiến tranh. Để nhận ra cực điểm chiến thắng, bạn phải nhận biết các nguồn lực của mình, bạn có thể xử trí đến mức nào, tinh thần của binh sĩ, bất kỳ dấu hiệu nào của một nỗ lực bị chùng lại. Không nhận ra thời điểm đó, cứ tiếp tục chiến đấu vượt qua nó, bạn sẽ mang lại cho mình mọi loại hậu quả không mong muốn: sự kiệt quệ, những chu kỳ leo thang của bạo lực vv…

Ở thời điểm bước sang thế kỷ 20, người Nhật đã theo dõi khi Nga tiến vào Trung Hoa và Triều Tiên. Năm 1904, hy vọng ngăn trở sự mở rộng của Nga, họ tiến hành một cuộc tấn công đột ngột vào thị trấn Cảng Arthur trên bờ biển Manchuria do Nga chiếm giữ. Vì rõ ràng họ là một nước nhỏ hơn và có ít tiềm lực quân sự hơn, họ hy vọng rằng một cuộc tấn công nhanh sẽ có lợi cho mình. Chiến lược - con đẻ của Nam tước Gentaro Kodama, phó ban tham mưu Nhật - rất hiệu quả: bằng cách chiếm ưu thế chủ động, quân Nhật có thể lật úp hạm đội của Nga ở Cảng Arthur trong khi họ đang đổ bộ các lực lượng vào Triều Tiên. Điều đó cho phép họ đánh bại quân Nga trong những trận then chốt trên đất liền và trên biển. Xung lực hiển nhiên ở về phía họ.

 

 

Tuy nhiên, tháng 4/1905, Kodama bắt đầu thấy một nguy hiểm lớn trong thành công của chính mình. Lực lượng chính và các nguồn lực của Nhật quá giới hạn; còn của Nga thì bao la. Kodama thuyết phục các chỉ huy Nhật thu gom những thứ đã thu được và yêu cầu hòa bình. Hiệp ước Portsmouth được kí vào cuối năm đó, dành cho Nga 20 điều khoản hơn cả phóng khoáng, nhưng Nhật củng cố vị trí của nó: quân Nga rời khỏi Manchuria và Triều Tiên, để lại Cảng Arthur cho Nhật. Nếu Nhật bị đưa đi bởi xung lực của chính họ, chắc chắn họ sẽ vượt qua cực điểm chiến thắng và bị tước sạch những gì chiếm được bởi một cuộc phản công không thể tránh khỏi.

Ở mặt trái của vấn đề, quân Mỹ đã kết thúc Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 quá sớm, cho phép quá nhiều lực lượng quân đội Iraq thoát khỏi vòng vây của nó. Điều đó giúp Saddam Hussein vẫn còn đủ mạnh để đàn áp thô bạo các cuộc nổi dậy của giáo phái Shiite và người Kurd nổ ra sau thất bại của ông ở Kuwait tiếp tục cầm quyền. Các lực lượng đồng minh đã rút về sau khi chiến thắng vì họ không muốn tỏ ra đang đàn áp một quốc gia Ả Rập và vì sự e sợ một thế lực rỗng của Iraq. Thất bại của họ trong việc hoàn thành rốt cuộc đã dẫn tới bạo lực lớn hơn. 

Hãy tưởng tượng rằng mọi việc bạn làm đều có một điểm hoàn hảo và chín muồi. Mục tiêu là kết thúc dự án của mình ở đó, ở một đỉnh điểm như thế. Không thể chịu nổi sự mệt mỏi, chán ngán hay kiên nhẫn cho tới phút cuối, bạn đã ngã quá sớm trước khi lên tới đỉnh điểm đó. Lòng tham và những ảo tưởng lại khiến bạn đi quá xa. Để kết thúc ngay tại thời điểm hoàn hảo này, bạn phải nhận thức một cách rõ ràng nhất về các mục tiêu của mình, về cái mà bạn thật sự muốn. Bạn cũng phải có một kiến thức sâu sắc về các nguồn lực của mình-thật sự bạn có thể tiến xa đến mức nào? Ý thức này sẽ tạo cho bạn một cảm nhận mang tính trực giác đối với cực điểm chiến thắng.

Những kết thúc trong các mối quan hệ xã hội đơn thuần cũng đòi hỏi một ý thức về cực điểm chiến thắng giống như trong chiến tranh. Một cuộc đối thoại hay câu chuyện kéo quá dài luôn luôn kết thúc tồi. Ở lại lâu hơn thời hạn được đón mừng, làm người khác chán chường vì sự hiện diện của bạn là thất bại sâu sắc nhất: bạn nên để cho họ muốn gặp bạn nhiều hơn chứ không phải ít hơn. Bạn có thể thực hiện điều này bằng cách kết thúc một cuộc đối thoại hay gặp gỡ vào thời điểm trước khi đối phương mong đợi. Nếu rời quá sớm, bạn có vẻ nhút nhát hay thô lỗ nhưng nếu ra đi đúng lúc, ở đỉnh điểm niềm vui và sự sinh động (cực điểm chiến thắng), bạn tạo nên một ánh hoàng hôn cực kỳ nền nã. Mọi người sẽ vẫn nhớ tới bạn một thời gian lâu sau khi bạn ra đi. Nói chung, tốt nhất là nên luôn kết thúc với năng lượng và sự tinh nhạy, ở một tông nhạc cao.

Chiến thắng hay thất bại là những cái mà bạn tạo nên; điều quan trọng là bạn giải quyết chúng như thế nào. Vì thất bại là điều không thể tránh khỏi trong đời, bạn phải làm chủ nghệ thuật thất bại tốt và đầy chiến lược. Trước hết, hãy nghĩ về viễn cảnh tinh thần của bạn, bạn thẩm thấu thất bại này như thế nào về mặt tâm lý. Xem nó như một bước lùi tạm thời, một cái gì đó để thức tỉnh bạn và dạy cho bạn một bài học, và ngay cả khi bạn thất bại, bạn vẫn kết thúc ở một tông cao và với một lợi thế: về mặt tinh thần, bạn đã chuẩn bị để tiếp tục tấn công ở hiệp sau. Thông thường, những người thành công trở nên mềm yếu và kém minh mẫn; bạn phải đón mừng thất bại như một cách để làm cho mình mạnh mẽ hơn.

Thứ hai, bạn phải xem bất kỳ thất bại nào như một cách để chứng minh một điều gì đó tích cực về bản thân và tính cách của bạn với mọi người. Điều này có ý nghĩa là đứng ngẩng cao đầu, không để lộ những dấu hiệu của sự cay đắng hay trở thành phòng thủ. Hồi đầu nhiệm kỳ tổng thống của mình, John F. Kennedy lôi đất nước vào sự thất bại ở Vịnh Con heo, một cuộc xâm lược bất thành vào Cuba. Trong khi ông nhận toàn bộ trách nhiệm về sự thất bại này, ông không đi quá trớn trong những lời xin lỗi; thay vì thế, ông tiếp tục làm việc hay sửa chữa sai lầm. Ông vẫn giữ bình tĩnh, tỏ ra hối hận nhưng vẫn mạnh mẽ. Trong động thái như thế ông chiếm được lòng công chúng và sự ủng hộ chính trị đã giúp ích rất nhiều cho những trận chiến tương lai của ông.

Thứ ba, nếu bạn xem thất bại là không thể tránh khỏi, thông thường tốt nhất là nên giảm dần nhịp điệu. Theo cách đó, bạn vẫn kết thúc ở một tông cao ngay cả khi thất bại. Điều này giúp tập hợp được các đoàn quân, mang đến cho họ hy vọng vào tương lai. Trong trận Alamo năm 1865, mỗi người lính cuối cùng đều chết khi đánh nhau với Mexico - nhưng họ chết một cách anh dũng, không chịu đầu hàng. Trận đánh trở thành một tiếng kêu tập hợp -“Hãy nhớ Alamo!” và một lực lượng Mỹ đầy phấn khởi dưới quyền của Sam Houston cuối cùng đã đánh bại Mexico mãi mãi. Bạn không cần phải trải nghiệm sự tử vì đạo về mặt thể chất, nhưng một biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng và năng lượng sẽ biến thất bại thành một thắng lợi tinh thần mà chẳng bao lâu nữa trở thành một thắng lợi thực thụ. Việc gieo những hạt giống thắng lợi tương lai trong thất bại hiện thời là sự xuất chúng về chiến lược ở cấp độ cao nhất.

Cuối cùng, vì bất kỳ kết thúc nào cũng là một dạng của sự bắt đầu chu kỳ kế tiếp, việc kết thúc ở một tông mâu thuẫn thường là một chiến lược khôn ngoan. Nếu bạn hòa giải với kẻ thù sau một trận đánh, hãy khéo léo gợi ý rằng bạn vẫn còn có một phần ngờ vực - rằng đối phương vẫn phải chứng tỏ bản thân nó với bạn. Khi một chiến dịch hay dự án kết thúc, hãy để mọi người cảm thấy họ không thể thấy trước điều mà bạn sẽ làm kế tiếp – giữ họ trong tình trạng hồi hộp, gây cho họ sự chú ý. Bằng cách kết thúc với một tông bí ẩn và mơ hồ - một dấu hiệu trộn lẫn, một nhận xét bóng gió, một chút nghi ngờ - bạn chiếm được lợi thế cho hiệp đấu kế trong một phong thái tinh vi và xảo quyệt nhất

 

Hình ảnh: Mặt trời. Khi nó hoàn thành một cung đường và lặn xuống sau chân trời, nó để lại phía sau một ánh hoàng hôn rực rỡ và đáng nhớ. Mọi người luôn mong muốn sự trở lại của nó.
Tư liệu: Chinh phục chẳng là gì cả. Người ta phải có lợi từ thành công của mình.
      Napoleon Bonaparte (1769-1821)

HOÁN VỊ

Chẳng có giá trị nào trong việc kết thúc tồi bất cứ sự việc gì. Không có hoán vị.            

ta đã bắt kịp cậu.” Và chẳng bao lâu, cả hai chúng tôi gõ (đánh máy chữ) liên tục không ngừng, nhanh hết mức chúng tôi có thể làm. Jones thường không chấp hành tốt các mệnh lệnh, nhưng anh ta thấy rằng mình ngày càng làm việc chăm chỉ hơn
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Robert Greene

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.