33 Chiến Lược Của Chiến Tranh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 60 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH BẰNG PHƯƠNG TIỆN KHÁC

Sau khi cuối cùng Athens đã bị Sparta đánh bại trong Chiến tranh Peloponnesia năm 404 tr. CN., thành - bang lớn này dần dần suy vong. Trong những thập niên tiếp theo, nhiều công dân, trong đó có cả nhà hùng biện lớn Demosthenes, bắt đầu mơ tới sự phục hồi thành Athens một thuở hùng cường.

Năm 359 tr. CN., Perdiccas, vua nước Macedonia, bị giết trong chiến trận, và một cuộc tranh chấp quyền lực để kế vị ông đã nảy sinh. Những người Athens xem Macedonia là một vùng đất man rợ ở phía bắc, chỉ có ý nghĩa ở sự gần gũi của nó với những tiền đồn của Athens giúp cho việc đảm bảo nguồn tiếp tế ngô từ châu Á và vàng từ các mỏ vàng địa phương. Một trong những tiền đồn đó là thành phố Amphipolis, một thuộc địa cũ của Athens, tuy nhiên về sau đã rơi vào tay Macedonia. Các chính trị gia Athens xếp đặt kế hoạch hỗ trợ cho một trong những người muốn lên ngôi vua Macedonia (tên là Argerous) bằng thuyền và binh lính. Nếu thắng, ông ta sẽ mang ơn Athens và sẽ đền đáp cho họ bằng thành phố quý giá Amphipolis.

Thật không may, người Athens đã cược sai con ngựa: Philip, người em trai 24 tuổi của Perdiccas, đã dễ dàng đánh bại Argerus và lên ngôi vua. Tuy nhiên, với sự ngạc nhiên của người Athens, Philip không thúc đẩy thêm lợi thế của mình mà lùi lại, từ bỏ mọi đặc quyền đối với Amphipolis và trao trả độc lập lại cho thành phố này. Ông cũng phóng thích mà không đòi tiền chuộc mọi chiến binh Athens đã bị bắt trong chiến đấu. Thậm chí ông còn thương thảo về việc kết đồng minh với Athens, kẻ thù vừa mới đây của mình, và trong những cuộc đàm phán bí mật ông đề nghị sẽ tái đô hộ Amphipolis vài năm rồi giao nó cho Athens để đổi lấy một thành phố khác vẫn còn nằm dưới quyền kiểm soát của Athens , một đề nghị quá tốt khó thể chối từ.

Những đại biểu Athens dự họp thuật lại rằng Philip là một mẫu người hòa nhã và bên dưới vẻ ngoài thô lỗ rõ ràng ông ta là một kẻ ngưỡng mộ nền văn hóa Athens - thật sự, ông đã mời những triết gia và nghệ sĩ nổi tiếng nhất Athens tới cư ngụ ở thủ đô của mình. Sau đêm đó, có vẻ như những người Athens đã kiếm được một đồng minh quan trọng ở phía bắc. Philip bắt đầu đánh nhau với những bộ lạc man rợ ở các vùng biên giới khác, và hòa bình được lập lại giữa hai thế lực.

Vài năm sau, khi Athens đã suy kiệt do một cuộc tranh chấp quyền lực nội bộ, Philip tiến quân tới chiếm Amphipolis. Theo thỏa thuận cũ, người Athens cử đại diện tới đàm phán, chỉ để ngạc nhiên nhận ra rằng Philip không còn đề nghị giao thành phố đó lại cho họ mà chỉ hứa hẹn mơ hồ trong tương lai. Bị xao lãng bởi những vấn đề ở quê nhà, các đại diện không còn lựa chọn nào khác hơn là chấp nhận. Lúc này, với Amphipolis an toàn dưới quyền kiểm soát của mình, Philip đã khai thác tối đa những mỏ vàng và các cánh rừng phong phú trong khu vực. Dường như từ đó đến nay ông ta đã lừa bịp họ.

Lúc ấy Demosthenes xuất hiện để xỉ vả gã Philip hai lòng và cảnh báo về nguy cơ mà ông ta đặt ra cho toàn Hy Lạp. Thúc giục những công dân Athens xây dựng một quân đội để đối phó với mối đe dọa, nhà hùng biện nhắc lại những chiến công với các tên bạo chúa khác trong quá khứ của họ. Khi đó chẳng có gì xảy ra, nhưng vài năm sau, khi Philip âm mưu chiếm con đèo ở Thermopylae - cánh cổng nhỏ hẹp kiểm soát sự di chuyển từ trung tâm tới miền nam Hy Lạp - Athens điều một lực lượng lớn để bảo vệ nó. Philip rút lui, và người Athens tự chúc mừng cho thắng lợi của họ.

Năm sau, người Athen theo dõi một cách cảnh giác khi Philip mở rộng lãnh thổ ra phía bắc, phía đông và vào giữa trung tâm Hy Lạp. Rồi năm 346 tr. CN., ông đột nhiên đề nghị đàm phán một hòa ước với Athens. Ông đã chứng tỏ rằng mình không đáng tin cậy, dĩ nhiên, và nhiều chính trị gia của thành phố đã thề không bao giờ dây dưa với ông nữa, nhưng nếu lựa con đường khác là đánh liều với một cuộc chiến tranh với Macedonia vào một thời điểm mà Athens chưa chuẩn bị. Và Philip có vẻ hoàn toàn chân thành trong mong muốn có một quan hệ đồng minh vững chắc, mà ít ra nó cũng đem tới cho Athens một thời kỳ hòa bình. Do vậy, dù có nhiều e dè, người Athens cử các đại sứ tới Macedonia để ký một hòa ước gọi là Hòa bình của Philocrates. Từ thỏa ước này, Athens từ bỏ quyền lợi đối với Amphipolis và đổi lại nhận được lời hứa đảm bảo an ninh cho các tiền đồn còn lại ở phía bắc của mình.

Những đại sứ rời khỏi đó an toàn, nhưng trên đường về họ nhận được tin rằng Philip đã tiến quân chiếm Thermopylae. Bị yêu cầu giải thích, Philip đáp rằng ông đã hành động để đảm bảo an ninh cho những lợi ích của mình ở trung tâm Hy Lạp khỏi mối đe dọa tạm thời của một thế lực thù địch, và ông nhanh chóng từ bỏ con đèo. Nhưng người Athens đã có quá đủ - họ đã bị làm nhục. Lần này sang lần khác, Philip đã dùng các cuộc đàm phán và các hòa ước để che đậy những bước tiến bất chính. Ông ta không chính trực. Có thể ông ta từ bỏ Thermopylae, nhưng điều đó không quan trọng: ông ta luôn nắm quyền kiểm soát các lãnh địa to lớn, rồi làm ra vẻ như có thể hòa giải bằng cách trả lại vài thứ đã chiếm được - nhưng chỉ một vài, và sau đó ông ta thường chiếm lại những vùng đất đã nhường bằng mọi cách. Tấm lưới hữu hiệu này chắc chắn đã nới rộng lãnh thổ của ông ta. Hòa lẫn chiến tranh với sự ngoại giao trá ngụy, ông ta đã dần biến Macedonia thành thế lực thống trị ở Hy Lạp.

Lúc này Desmosthens và các môn đồ của ông ta đang chiếm ưu thế. Hòa ước Hòa bình của Philograces rõ ràng là một sự ô nhục, và mọi người có liên quan tới nó đã bị đuổi ra khỏi văn phòng. Người Athens bắt đầu gây rối ở phía đông của Amphipolis, cố giữ an ninh hơn cho các tiền đồn ở đó, thậm chí còn gây ra các cuộc tranh chấp với Macedonia. Năm 338 tr. CN., họ kết đồng minh với Thebes để chuẩn bị một cuộc chiến tranh lớn chống Philip. Hai nước đồng minh chạm trán với Macedonia trong chiến trận ở Chaeronea, trung tâm Hy Lạp - nhưng Philip chiến thắng, và Alexander con trai của ông đóng vai trò then chốt.

Lúc này, người Athens ở trong tình trạng hoảng loạn: các bộ lạc man rợ ở phía bắc sắp tấn công thành phố của họ và thiêu rụi nó. Thế nhưng một lần nữa họ chứng tỏ mình vẫn còn mạnh mẽ. Trong một đề xuất hòa bình độ lượng nhất, Philip hứa không xâm lược các vùng đất của Athens. Đổi lại, ông ta sẽ chiếm tiền đồn đã tranh chấp ở phía đông, và Athens sẽ trở thành đồng minh của Macedonia. Như để làm chứng cứ cho lời nói của mình, Philip phóng thích các tù nhân Athens trong cuộc chiến vừa qua mà không đòi chút tiền chuộc nào. Ông ta cũng sai con trai Alexander dẫn một phái đoàn tới Athens mang theo tro của các chiến binh Athens đã chết ở Chaeronea. Bị chế ngự bởi lòng biết ơn, người Athens ban tặng quyền công dân cho cả Alexander và cha của ông và dựng một pho tượng Philip trong thành phố.

Cuối năm đó, Philip triệu tập một hội nghị toàn Hy Lạp (trừ Sparta từ chối không tham dự) để thảo luận về một mối liên kết sau đó gọi là Liên minh Hellenic. Lần đầu tiên, các thành - bang của Hy Lạp được thống nhất trong một liên bang duy nhất. Ngay sau đó, các điều khoản của liên minh đã được nhất trí, Philip đề xuất một cuộc chiến tranh hợp nhất chống kẻ thù Ba Tư. Đề xuất được vui vẻ chấp nhận, với Athens dẫn đầu. Cách nào đó mọi người đã quên Philip đã không trung thực ra sao; họ chỉ nhớ vị vua gần đấy đã rất khoan dung độ lượng.

Năm 336 tr. CN., trước khi cuộc chiến chống Ba Tư khởi sự, Philip bị ám sát. Con trai Alexander của ông sẽ là người chỉ huy liên minh tham chiến và tạo nên một đế quốc. Và xuyên suốt thời gian đó, Athens vẫn là một đồng minh trung thành nhất của Macedonia, một cái neo bền vững trụ cột của nó trong Liên minh Hy Lạp.

 

 

Diễn dịch

Ở cấp độ nhất định, chiến tranh là một công việc tương đối giản đơn: quân đội của bạn đánh bại kẻ thù bằng cách giết đủ binh lính của nó, chiếm đủ đất của nó, hoặc giữ cho mình đủ an toàn để tuyên bố thắng lợi. Bạn có thể rút lui ở đây đó, nhưng dự định của bạn cuối cùng vẫn là tiến càng xa càng tốt. Mặt khác, sự đàm phán gần như luôn luôn bất tiện. Bạn cần cả sự bảo đảm an toàn cho các lợi ích đang có lẫn việc có thể kiếm thêm càng nhiều càng tốt; bạn cần mặc cả trong tinh thần trung thực, biết nhân nhượng và chiếm được sự tin cậy của đối phương. Để hòa hợp những nhu cầu này là một nghệ thuật, và là cả một nghệ thuật gần như không thể thực hiện, vì bạn không bao giờ có thể chắc chắn rằng đối phương đang hành động một cách trung thực. Trong lĩnh vực rắc rối giữa chiến tranh và hòa bình này, bạn dễ hiểu sai kẻ thù, đưa tới một sự dàn xếp không có lợi cho bạn về mặt lâu dài.

Giải pháp của Philip là xem đàm phán không tách rời khỏi chiến tranh, đúng hơn, là một sự mở rộng của nó. Sự đàm phán, giống như chiến tranh, bao gồm mưu lược, chiến lược và sự trá ngụy, và nó đòi hỏi bạn phải tiến lên, giống như bạn đang ở trên chiến địa. Chính hiểu biết này về đàm phán đã dẫn Philip đến chỗ đề nghị trao trả độc lập cho Amphipolis trong khi hứa sau đó sẽ chiếm lại nó cho Athens, một lời hứa mà ông không bao giờ có ý định thực hiện. Mưu lược cởi mở này tạo cho ông thời gian và tình bạn, và kềm chân những người Athens khó chịu trong khi ông giải quyết những kẻ thù ở nơi khác. Tương tự, hòa ước Hòa bình che đậy những cuộc di chuyển của ông vào trung tâm Hy Lạp và khiến người Athens mất cân bằng. Đã quyết định mục tiêu của mình là thống nhất toàn Hy Lạp và dẫn dắt nó theo một cuộc thập tự chinh chống Ba Tư, Philip xác định rằng Athens - với lịch sử cao quý của nó - sẽ có chức năng như một trung tâm biểu tượng của Liên minh Hy Lạp. Các điều khoản hòa bình phóng khoáng của ông đã được tính toán để mua chuộc lòng trung thành của thành phố này.

Philip không bao giờ lo lắng về việc thất hứa. Tạo sao ông phải trung thành một cách ngây ngô với những thỏa ước khi biết rằng sau đó người Athens sẽ tìm ra lý do để mở rộng các tiền đồn của họ ở phía bắc bằng phí tổn của ông? Niềm tin không phải là một vấn đề đạo đức, nó là một mưu chước khác. Philip xem sự tin cậy và tình hữu nghị là những chất lượng để bán. Sau này ông sẽ mua lại của Athens, khi đã hùng mạnh và có những thứ để đề nghị trao đổi nó.

Giống như Philip, bạn phải xem bất kỳ tình huống đàm phán nào mà trong đó các lợi ích quan trọng của bạn đang nguy cấp như là một lãnh địa thuần túy thủ đoạn, là việc thực hiện chiến tranh bằng phương tiện khác. Chiếm lòng tin cậy của người khác không phải là vấn đề đạo đức mà là một vấn đề chiến lược: đôi khi cần có nó, đôi khi không. Mọi người sẽ thất hứa nếu việc đó phục vụ cho những lợi ích của họ, và họ sẽ tìm ra bất kỳ lý do bào chữa nào về đạo đức hay pháp lý để phán xét các động thái của họ, đôi khi với chính bản thân họ cũng như đối với những người khác.  Bạn phải luôn đặt mình vào vị trí mạnh nhất trước khi chiến đấu, trong đàm phán cũng như vậy. Nếu bạn yếu, hãy sử dụng đàm phán để đem lại thời gian, trì hoãn chiến đấu cho tới khi bạn sẵn sàng; hãy hòa giải không phải với lòng tốt mà với thủ đoạn. Nếu bạn hùng mạnh, hãy chiếm lấy càng nhiều càng tốt trước và trong khi đàm phán - rồi sau đó sẽ trả lại một vài thứ đã lấy, nhân nhượng những thứ ít giá trị để tỏ vẻ độ lượng phóng khoáng. Đừng lo âu về thanh danh của bạn hay về việc tạo dựng niềm tin. Điều đáng kinh ngạc là mọi người quên rất nhanh những sự thất hứa của bạn khi bạn hùng mạnh và ở một vị trí có thể đem đến cho họ thứ gì đó có lợi cho bản thân họ.

Do vậy, một kẻ cai trị khôn ngoan không nên giữ lòng tin [của mọi người] một khi làm như vậy sẽ thiệt hại cho mình... Nếu mọi người đều tốt đẹp, đạo lý này sẽ là một điều sằng bậy; nhưng nếu họ xấu xa và không xứng với lòng tin cậy của bạn, bạn không buộc phải giữ chữ tín với họ. Chưa từng có một lý lẽ chế định nào làm tổn hại một ông hoàng muốn biểu lộ sự biện hộ đủ màu đủ vẻ cho việc không thực hiện lời hứa của mình.
Niccolo Machiavelli, Quân vương (1469 – 1527)

 

ĐỔI NGÓI LẤY NGỌC

Đầu năm 1821, ngoại trưởng Nga Capo d’Istria nghe thấy những tin tức mà từ lâu ông đã chờ mong: một nhóm người yêu nước Hy Lạp đã nổi dậy chống quân Thổ Nhĩ Kỳ (khi đó Hy Lạp là một bộ phận của Đế quốc Ottoman), mục tiêu là lật đổ họ và thiết lập một chính quền tự do. D’Istria, một quý tộc gốc Hy Lạp, đã từ lâu mơ tới việc kéo Nga vào các vấn đề Hy Lạp. Nga là một thế lực quân sự đang lên; bằng cách hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa - giả sử là phe nghĩa quân thắng - nó có thể kiếm được tầm ảnh hưởng với một nước Hy Lạp độc lập và những hải cảng vùng Địa Trung Hải cho hải quân của nó. Người Nga cũng tự xem họ là những người bảo vệ cho những người Chính thống giáo Hy Lạp, và Sa hoàng Alexander II là một tín đồ rất sùng đạo; việc dẫn đầu một cuộc thánh chiến chống những người Thổ Hồi giáo làm thỏa mãn lương tâm đạo đức của ông ta cũng như những lợi ích chính trị của nước Nga. Tất cả những điều này quá tốt đẹp nếu trở thành hiện thực.

Trên con đường của D’Istria chỉ có một chướng ngại: Hoàng tử Klemens von Metternich, ngoại trưởng Áo. Vài năm trước, Metternich đã lôi kéo Nga vào một liên minh với Áo và Phổ gọi là Liên minh Thần thánh [Holy Alliance]. Mục tiêu của nó là bảo vệ chính quyền những nước này khỏi mối đe dọa của cách mạng và duy trì hòa bình ở châu Âu sau những náo động của các cuộc chiến với Napoleon. Metternich đã từng kết bạn với Alexander I. Nhận ra người Nga có thể can thiệp vào Hy Lạp, ông ta đã gửi cho Sa hoàng hàng ngàn báo cáo xác nhận rằng cuộc cách mạng là một phần của mưu đồ rộng khắp châu Âu nhằm loại bỏ những chế độ quân chủ ở lục địa. Nếu Alexander trợ giúp Hy Lạp, ông sẽ bị bọn cách mạng lừa bịp và sẽ vi phạm mục đích của Liên minh Thần thánh.

D’Istria không ngốc: ông biết rằng Metternich thật sự muốn ngăn cản Nga mở rộng tầm ảnh hưởng ở vùng Địa Trung Hải, điều đó sẽ làm Anh khó chịu và phá vỡ sự bền vững của châu Âu, nỗi sợ lớn nhất của Metternich. Với d’Istria thật đơn giản: khi chiến tranh kết thúc, cả ông và Metternich cuối cùng đều sẽ ảnh hưởng tới Sa hoàng. Và d’Istria có một thuận lợi: ông thường gặp Sa hoàng và có thể phản công các khả năng thuyết phục của Metternich thông qua sự tiếp xúc thường xuyên.

Chắc chắn quân Thổ sẽ đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Hy Lạp, và khi những hành động tàn ác của họ dâng cao, lẽ tất nhiên Sa hoàng sẽ can thiệp. Nhưng vào tháng 2/1822, khi cuộc cách mạng tới lúc dầu sôi lửa bỏng, Sa hoàng đã làm một việc mà dưới mắt d’Istria là một sai lầm chết người: ông đồng ý phái một đại diện tới Vienna để thảo luận về cuộc khủng hoảng với Metternich. Vị hoàng tử muốn dụ dỗ những người đàm phán tới Vienna, nơi ông ta sẽ mê hoặc họ cho tới chết. D’Istria cảm thấy tình thế đã tuột khỏi tay mình. Lúc này ông chỉ có một khả năng: chọn viên đại diện sẽ tới Vienna và báo cáo lại tường tận mọi sự cho ông.

Người mà d’Istria chọn là Taticheff, từng là đại sứ Nga ở Tây Ban Nha. Taticheff là một nhà đàm phán thông minh, giàu kinh nghiệm. Được cho gọi tới ngay trước khi sắp lên đường, ông ta cẩn thận lắng nghe d’Istria vạch ra những nguy cơ: Metternich sẽ cố quyến rũ mê hoặc Taticheff; để ngăn cản Sa hoàng đừng can thiệp, ông ta sẽ đề nghị đàm phán một dàn xếp giữa Nga và Thổ; và tất nhiên, ông ta sẽ triệu tập một hội thảo châu Âu để thảo luận vấn đề này. Điều cuối cùng là mánh khóe yêu thích của Metternich: ông ta luôn luôn có thể chế ngự những cuộc hội thảo này và bằng cách nào đó sẽ đạt được cái mà mình muốn. Taticheff không được rơi vào bẫy của ông ta. Taticheff sẽ trao cho Metternich một lá thư của d’Istria với lý luận rằng Nga có quyền trợ giúp những người đồng đạo Thiên Chúa giáo đang khốn khổ dưới bàn tay của quân Thổ. Và không vì bất cứ lý do gì ông đồng ý để Nga tham dự vào một cuộc hội thảo.

Đêm trước khi lên đường tới Vienna, Taticheff bất ngờ được Sa hoàng cho gọi. Alexander đang nôn nao và mâu thuẫn. Không biết tới những chỉ thị của d’Istria, ông bảo Taticheff nói với Metternich rằng ông muốn cả hai cùng làm theo liên minh và đáp ứng được bổn phận của ông tại Hy Lạp. Taticheff quyết định sẽ trì hoãn việc đưa ra thông điệp này càng lâu càng tốt - nó sẽ khiến cho công việc của ông rối hơn.

Trong lần đầu gặp Metternich ở Vienna, Taticheff cân nhắc đo lường vị bộ trưởng Áo. Ông thấy ông ta khá phù phiếm, rõ ràng chú ý tới những chiếc váy xòe và những nàng thiếu nữ hơn là Hy Lạp. Metternich có vẻ vô tư lự và hơi kém hiểu biết; việc ông ta ít nói tới hoàn cảnh Hy Lạp chứng tỏ sự bối rối. Taticheff đọc cho ông ta nghe lá thư của d’Istria, và như thể không cần suy nghĩ, ông ta hỏi có phải đó cũng là những chỉ thị của Sa hoàng không. Bị dồn vào thế bí, Taticheff không thể nói dối. Hy vọng của ông lúc này là những chỉ thị khá tương phản của Sa hoàng sẽ làm cho vị hoàng tử rối chí hơn, để ông có thể đi trước một bước.

Mấy ngày sau, Taticheff trải qua một thời gian tuyệt diệu ở thành phố Vienna vui vẻ. Rồi ông có một cuộc gặp khác với Metternich. Ông ta hỏi ông họ có thể bắt đầu những cuộc đàm phán dựa vào chỉ thị của Sa hoàng chưa. Trước khi Taticheff kịp suy nghĩ, Metternich hỏi tiếp trong tình thế này những yêu cầu của Nga là gì. Điều này có vẻ công bằng, và Taticheff đáp rằng Nga muốn biến Hy Lạp thành một nước được bảo hộ, muốn liên minh đồng ý cho Nga can thiệp vào Hy Lạp, vân vân. Metternich khước từ mọi đề xuất, bảo rằng chính phủ của ông ta không bao giờ đồng ý với những điều như thế, thế là Taticheff yêu cầu ông ta đề xuất những ý tưởng thay thế. Thay vì vậy, Metternich đi vào một cuộc thảo luận trừu tượng về cách mạng, về ý nghĩa của Liên minh Thần thánh, và những điều không thích đáng khác. Taticheff bối rối và khá bực bội bỏ về. Ông muốn bám vào một cái gì cụ thể, nhưng những thảo luận này quá phi thể thức và mơ hồ; cảm thấy lạc lối, ông không thể lái chúng theo hướng mà ông muốn.

Vài hôm sau, Metternich lại gọi Taticheff tới. Trông ông ta có vẻ khó chịu, thậm chí đau đớn: quân Thổ, ông ta bảo, vừa gửi thư than phiền rằng quân Nga đứng sau lưng những rắc rối ở Hy lạp và yêu cầu ông chuyển tới Sa hoàng quyết tâm chiến đấu tới chết của họ để giữ vững những gì là của họ. Bằng giọng nghiêm trang cho thấy mình nổi giận vì sự thiếu phép tắc xã giao của quân Thổ, Metternich bảo ông ta nghĩ rằng phẩm giá quốc gia không cho phép ông ta chuyển thông điệp ô nhục này tới Sa hoàng và nói thêm rằng người Áo xem Nga là đồng minh đáng tin cậy nhất của mình và sẽ ủng hộ các điều kiện của Nga để giải quyết cuộc khủng hoảng. Cuối cùng, nếu quân Thổ từ chối nhượng bộ, Áo sẽ phá vỡ quan hệ với họ.

Taticheff hoàn toàn lung lay vì biểu hiện cảm xúc bất ngờ đáng tin này. Có lẽ người Nga đã hiểu lầm vị hoàng tử - có lẽ ông ta thật sự đứng về phía họ. E rằng d’Istria sẽ hiểu lầm, Taticheff chỉ báo cáo lại cuộc gặp này cho một mình Sa hoàng. Vài hôm sau, Alexander hồi âm rằng từ nay trở đi, Taticheff chỉ phải báo cáo cho ông; d’Istria bị loại trừ  khỏi những cuộc đàm phán.

Nhịp bước của những cuộc gặp với Metternich đã được ấn định. Bằng cách nào đó, hai người chỉ thảo luận về các giải pháp ngoại giao cho cuộc khủng hoảng; quyền can thiệp của Nga vào hoạt động quân sự của Hy Lạp không còn được nhắc tới nữa. Cuối cùng, Metternich mời Sa hoàng tham dự một cuộc hội thảo về vấn đề này ở Verona, Ý vào vài tháng sau. Ở đây Nga sẽ dẫn cuộc tranh luận theo cách tốt nhất để giải quyết vấn đề; trung tâm chú ý sẽ là việc Sa hoàng được chúc mừng với tư cách người cứu tinh của châu Âu trong cuộc thánh chiến chống lại cách mạng. Sa hoàng vui vẻ nhận lời.

Quay lại St. Peterburg, d’Istria cáu kỉnh và nguyền rủa bất cứ người nào, nhưng không lâu sau khi Taticheff quay về nước, d’Istria đã bị sa thải khỏi văn phòng mãi mãi. Và vào cuộc hội thảo sau đó ở Verona, như ông đã tiên đoán, cuộc khủng hoảng ở Hy Lạp được giải quyết chính xác theo cách phục vụ tốt nhất cho các quyền lợi của Áo. Sa hoàng là ngôi sao của vở diễn, nhưng rõ ràng ông không quan tâm hay hay nhận ra rằng ông đã ký kết một văn bản về cơ bản đã loại trừ Nga khỏi việc đơn phương can thiệp vào vùng Balkans, do vậy đã nhường lại một đặc quyền mà mọi lãnh tụ Nga từ thời Peter Đại đế đều khăng khăng nắm giữ. Metternich đã thắng cuộc chiến với d’Istria một cách hoàn hảo hơn cả sức tưởng tượng của ông ta.

Diễn dịch

Mục tiêu của Metternich luôn là một thỏa thuận phục vụ tốt nhất cho các lợi ích lâu dài của Áo. Những lợi ích này, ông ta xác định, không chỉ bao gồm việc ngăn cản Nga can thiệp vào Hy Lạp mà còn lừa cho Sa hoàng từ bỏ quyền điều quân vào vùng Balkans, một nguồn cội của sự không ổn định lâu dài ở châu Âu. Vì thế Metternich nhìn vào các lực lượng tương đối ở cả hai phía. Ông đã tác động lực bẩy nào vào người Nga? Rất ít; thực tế, ông nằm ở thế yếu. Nhưng Metternich nắm được một con át chủ bài: nhiều năm nghiên cứu tính cách khá lạ lùng của Sa hoàng. Alexander là một người rất cảm tính, chỉ hành động khi được tâng bốc đề cao; ông ta phải biến mọi thứ thành một cuộc thánh chiến. Vì thế, ngay trước khi nổ ra khủng hoảng, Metternich đã gieo những hạt giống mà cuộc thánh chiến thật sự ở đây không phải là một cuộc thập tự chinh chống quân Thổ của những người Công giáo mà là của những chế độ quân chủ chống lại phong trào cách mạng.

Metternich còn hiểu rằng kẻ thù chính của ông là d’Istria và ông phải đóng một cái nêm vào giữa d’Istria và Sa hoàng. Vì thế, ông dẫn dụ một đại diện tới Vienna. Trong những cuộc đàm phán tay đôi, Metternich là một kỳ thủ thuộc loại bậc thầy. Với Taticheff cũng như nhiều người khác, trước tiên ông làm giảm đi sự ngờ vực bằng cách làm ra vẻ phù phiếm ăn chơi, thậm chí là một quý tộc khá ngu đần. Kế tiếp, ông đưa ra những cuộc đàm phán, nhấn chìm chúng vào những cuộc thảo luận trừu tượng, ủng hộ chủ nghĩa hợp pháp. Điều này dường như khiến ông có vẻ xuẩn ngốc hơn nữa, không chỉ làm Taticheff chệch hướng xa hơn mà còn làm ông ta bối rối và bực tức. Một bên đàm phán rối trí và tức giận tất nhiên sẽ phạm sai lầm - việc tiết lộ ông ta đang theo đuổi điều gì là một sai lầm chết người. Một người đàm phán rối trí còn luôn dễ bị quyến rũ bởi những phát biểu đầy cảm tính. Trong trường hợp này Metternich đã sử dụng một lá thư của quân Thổ để diễn một tấn tuồng nhỏ trong đó ông làm ra vẻ như tiết lộ một sự thay đổi đột ngột trong những bày tỏ ủng hộ của mình. Điều đó đã làm cho Taticheff - và thông qua ông ta tới Sa hoàng - hoàn toàn trở nên lú lẫn.

Từ lúc này trở đi, việc tái lập cuộc thảo luận cho phù hợp với mục đích của Metternich chỉ là trò trẻ con. Đề nghị tổ chức một cuộc hội thảo mà ở đó Sa hoàng sẽ trở nên sáng chói rất hấp dẫn và hoa mắt, và nó cũng có vẻ như đưa tới cho Nga cơ hội để có ảnh hưởng lớn hơn trong những vấn đề của châu Âu (một trong những khát khao sâu thẳm nhất của Alexander). Trong thực tế kết quả hoàn toàn ngược lại: Alexander cuối cùng đã ký kết một văn bản cắt đứt Nga khỏi vùng Balkans. Biết rõ người ta dễ bị cám dỗ bởi vẻ ngoài ra sao, vị ngoại trưởng Áo đã tạo cho Sa hoàng một vẻ ngoài quyền lực (là trung tâm chú ý của hội nghị), trong khi bản thân ông giữ lại tinh chất của nó (văn bản đã ký). Đó chính là cái cách mà người Trung Quốc gọi là dùng một mảnh ngói vỡ sơn lòe loẹt để đổi lấy ngọc báu.

Như Metternich đã chứng tỏ, thành công trong đàm phán dựa vào mức độ chuẩn bị. Nếu bạn bước vào với những ý thức mơ hồ về cái mà mình muốn, bạn sẽ thấy mình bị chuyển từ chỗ này sang chỗ khác tùy thuộc vào cái mà đối phương đặt lên bàn. Bạn có thể bị đẩy tới một vị trí có vẻ như thích hợp nhưng cuối cùng lại không phục vụ cho những lợi ích của bạn. Trừ phi bạn phân tích cẩn thận bạn có lực bẩy nào, các thủ đoạn của bạn có khả năng phản tác dụng.

Trên tất cả mọi điều, bạn phải cắm neo bản thân bằng cách xác định với sự rõ ràng cao nhất các mục tiêu lâu dài của bạn và lực bẩy mà bạn có thể đạt tới. Sự rành mạch đó sẽ giữ cho bạn kiên nhẫn và bình tĩnh. Nó cũng sẽ cho phép bạn ném cho mọi người những nhân nhượng vô nghĩa lý có vẻ như phóng khoáng nhưng thật ra rất rẻ tiền, vì chúng không làm tổn hại tới những mục tiêu thật sự của bạn. Trước khi những cuộc đàm phán bắt đầu, hãy nghiên cứu các đối thủ. Tìm ra yếu điểm và những khát vọng chưa hoàn thành của họ sẽ tạo cho bạn một loại lực bẩy mới: khả năng làm cho họ rối trí, cảm tính, quyến dụ họ bằng một mảnh ngói sơn màu sặc sỡ. Nếu có thể được, hãy vờ như hơi ngu ngốc chút ít: mọi người càng ít hiểu về bạn và việc bạn muốn đi tới đâu, bạn càng có nhiều chỗ trống để lừa họ vào những chân tường.

CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN

Xung đột và đối đầu nói chung là những công việc không thú vị gì mà còn khơi nên những cảm xúc khó chịu. Ngoài mong muốn tránh sự khó chịu đó, mọi người sẽ cố tỏ ra tốt bụng và có tinh thần hoà giải với những người xung quanh, tin rằng điều đó sẽ tạo nên một phản ứng đáp trả tương tự. Nhưng rất thường, kinh nghiệm chứng minh rằng lập luận này là sai: theo thời gian những người mà bạn đối đãi một cách tốt bụng sẽ xem như đó là lẽ đương nhiên. Họ sẽ xem bạn là yếu và có thể khai thác. Tỏ ra phóng khoáng không tạo nên sự biết ơn mà tạo nên hoặc một đứa trẻ hư hỏng hoặc một kẻ bực tức xem hành vi của bạn như là lòng từ thiện.

 

 

Những người tin ngược lại chứng cứ rằng sự tốt bụng sinh ra sự tốt bụng tất yếu sẽ thất bại trong bất kỳ kiểu đàm phán nào, chưa nói đến trò đời. Mọi người phản ứng theo một cách thức tốt bụng và có tinh thần hoà giải chỉ khi nó có ích cho họ và họ buộc phải làm như thế. Mục tiêu của bạn là phải tạo ra một sự cưỡng bách như thế bằng cách làm cho họ bị đau đớn khi chiến đấu. Nếu bạn nới lỏng áp lực khỏi mong muốn hòa giải  và chiếm được lòng tin của họ, bạn chỉ trao cho họ một lối mở để trì hoãn, dối trá và lợi dụng sự tốt bụng của bạn. Đó là bản chất con người. Qua nhiều thế kỷ những kẻ tiến hành chiến tranh đã học được bài học này một cách khó khăn vất vả.

Khi các quốc gia vi phạm nguyên tắc này, kết quả thường là thảm kịch. Tháng 6/1951, quân đội Mỹ tạm dừng cuộc tấn công cực kỳ hiệu quả chống lại quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa ở Triều Tiên vì Trung Quốc và Triều Tiên đã ra dấu hiệu sẵn sàng đàm phán. Thế nhưng họ kéo dài các cuộc đối thoại càng lâu càng tốt trong khi phục hồi các lực lượng và củng cố các tuyến phòng thủ. Khi cuộc đàm phán thất bại và chiến tranh tái lập, các lực lượng Mỹ thấy rằng lợi thế chiến đấu của họ đã mất. Mô hình này đã lặp lại trong chiến tranh Việt Nam và ở mức độ nào đó cả trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Người Mỹ hành động phần vì xuất phát từ mong muốn giảm trừ những thương vong, phần vì để được xem là đang cố gắng kết thúc các cuộc chiến này càng sớm càng tốt nhằm tỏ ra có tinh thần hòa giải. Điều mà họ không nhận ra là sự thúc đẩy để đàm phán trong sự trung thực của kẻ thù vốn đã mất trong tiến trình đó. Trong trường hợp này, cố hòa giải và tiết kiệm sinh mạng chỉ dẫn tới những cuộc chiến tranh kéo dài hơn, nhiều máu đổ và thảm kịch hơn. Nếu năm 1951 Mỹ tiếp tục tấn công vào Triều Tiên, nó lẽ ra đã ép được Triều Tiên và Trung Quốc phải đàm phán theo những điều kiện của mình; nếu Mỹ tiếp tục chiến dịch ném bom ở Việt Nam, nó lẽ ra đã có thể buộc Bắc Việt Nam đàm phán thay vì trì hoãn; nếu Mỹ tiếp tục cuộc tiến quân vào Baghdad năm 1991, nó lẽ ra đã buộc Saddam Hussein phải ra khỏi chính phủ như một điều kiện của hòa bình, ngăn ngừa được một cuộc chiến tương lai và cứu được vô số mạng người.

Bài học rất giản dị: bằng cách tiếp tục tiến tới, bằng cách duy trì áp lực không ngừng, bạn buộc kẻ thù phải phản ứng và cuối cùng phải đàm phán. Nếu bạn tiến thêm được chút ít mỗi ngày, những nỗ lực trì hoãn đàm phán chỉ khiến cho vị trí của họ yếu hơn. Bạn đang chứng tỏ sự quyết tâm và kiên định của mình, không phải qua những điệu bộ có tính biểu tượng mà bằng nỗi đau thật sự. Bạn đừng tiếp tục tiến tới để chiếm đất đai hay tài sản mà để đặt mình vào vị trí mạnh nhất có thể có và chiến thắng cuộc chiến. Khi bạn đã buộc họ phải thỏa thuận, bạn có chỗ trống để nhượng bộ và trả lại vài thứ bạn đã lấy. Trong tiến trình này bạn thậm chí còn có vẻ tốt bụng và có tinh thần hòa giải.

Đôi khi trong đời sống bạn sẽ thấy mình đang giữ một bàn tay yếu, bàn tay không có một lực bẩy thật sự nào. Vào những lúc như thế, việc tiếp tục tiến lên thậm chí còn quan trọng hơn. Bằng cách chứng tỏ sức mạnh quyết tâm và duy trì áp lực, bạn che đậy yếu điểm của mình và tìm được chỗ đặt chân để tạo nên lực bẩy cho bản thân.

Tháng 6/1940, không lâu sau khi cuộc tấn công chớp nhoáng của Đức đã tiêu diệt những tuyến phòng thủ của Pháp và chính phủ Pháp đã đầu hàng, Tướng Charles de Gaulle bỏ chạy sang Anh. Ông hy vọng sẽ tự lập mình lên làm lãnh tụ của Nước Pháp Tự do [Free France] ở đó. Một chính quyền lưu vong hợp pháp, để chống  lại chính quyền Vichy do Đức cai trị lúc này đang chiếm lĩnh phần lớn đất nước. Những người có lá phiếu quyết định cực lực chống de Gaulle: ông chưa bao giờ là một nhân vật nổi bật trong phạm vi nước Pháp. Nhiều binh sĩ và chính trị gia nổi tiếng có thể yêu cầu gánh vác vai trò mà ông mong muốn ; ông không có lực bẩy nào để các đồng minh công nhận mình là lãnh tụ của Nước Pháp Tự do, và không có sự công nhận của họ, ông sẽ chẳng có thế lực gì.

Ngay từ đầu de Gaulle đã phớt lờ những kẻ có lá phiếu quyết định và tự giới thiệu mình với tất cả mọi người không chừa một ai như là con người duy nhất có thể cứu vớt nước Pháp sau sự đầu hàng nhục nhã của nó. Ông gửi những bài diễn văn khuấy động tới Pháp trên tất cả các đài phát thanh. Ông thực hiện một chuyến đi khắp nước Anh và Mỹ, thể hiện ý thức về mục đích của mình, gợi nên hình ảnh của một Jean d’Arce đời nay. Ông thực hiện những cuộc tiếp xúc quan trọng trong phạm vi lực lượng Kháng chiến Pháp. Winston Churchill ngưỡng mộ de Gaulle nhưng thường thấy ông ngạo mạn không chịu nổi, còn Franklin Roosevelt thì coi thường ông; đã nhiều lần hai nhà lãnh tụ cố thuyết phục ông chấp nhận chia sẻ quyền kiểm soát Nước Pháp Tự do. Nhưng lời đáp của ông luôn giống nhau: ông sẽ không thỏa hiệp. Ông sẽ không chấp nhận bất kỳ cái gì khác hơn quyền lãnh đạo. Trong các vòng đàm phán ông tỏ ra rất thô lỗ, cho tới mức thỉnh thoảng ông lại bước khỏi phòng, chứng tỏ rõ ràng rằng đối với ông, hoặc là tất cả, hoặc là chẳng có gì. Churchill và Roosevelt nguyền rủa de Gaulle, mất cả ngày họ không thể buộc ông vào một vị trí nào, thậm chí họ còn nói về việc giáng cấp ông và ép ông ra khỏi vũ đài chính trị. Nhưng họ luôn luôn lùi lại, và cuối cùng cho ông cái mà ông muốn. Làm khác đi có nghĩa là tạo nên một vụ bê nối công cộng trong những thời điểm tế nhị và sẽ phá hỏng mối quan hệ của họ với thế giới ngầm nước Pháp. Họ hẳn sẽ giáng cấp một người mà công chúng vốn sùng kính.

Thấu hiểu: Nếu bạn yếu và yêu cầu một chút ít, bạn sẽ chỉ nhận được một chút ít. Nhưng nếu bạn mạnh mẽ, đưa ra những yêu cầu cứng rắn, thậm chí có tính chất xúc phạm, bạn sẽ tạo nên một ấn tượng tương phản: mọi người sẽ nghĩ rằng sự tự tin của bạn phải dựa vào một cái gì đó có thật. Bạn sẽ có được sự tôn trọng, rồi tới lượt nó lại biến thành lực bẩy. Khi bạn có thể nâng mình lên một vị trí mạnh hơn, bạn có thể lấy được nhiều hơn bằng cách từ chối thỏa hiệp, làm rõ rằng bạn muốn bước ra khỏi bàn - một hình thức hoàn hảo của sự áp bức. Đối phương có thể gọi bạn là đồ bịp bợm, nhưng bạn bảo đảm rằng họ sẽ phải trả giá cho việc này - một vụ công bố tệ hại, chẳng hạn vậy. Và nếu cuối cùng bạn chịu thỏa hiệp chút ít, nó sẽ ít hơn rất nhiều so với những thỏa hiệp mà họ ép buộc bạn nếu có thể. Nhà văn và nhà ngoại giao lớn Harold Nicholson tin rằng có hai loại đàm phán: của những chiến binh và của những ông chủ tiệm. Những chiến binh dùng đàm phán như một phương tiện để kiếm thời gian và vị trí mạnh hơn. Các ông chủ tiệm hoạt động theo nguyên tắc rằng quan trọng hơn là nên thiết lập lòng tin cậy, để trung hòa các yêu cầu của các bên và tiến tới một thỏa thuận mà các bên đều nhất trí và thỏa mãn. Dù là trong ngoại giao hay thương mại, vấn đề nảy sinh khi các ông chủ tiệm giả định rằng họ đang tiếp xúc với một ông chủ tiệm khác nhưng thực ra lại phải đối đầu với một chiến binh.

Sẽ rất có ích nếu biết trước bạn đối mặt với kiểu đàm phán nào. Điều khó khăn là các chiến binh tài ba sẽ tự biến họ thành những bậc thầy trong thuật ngụy trang: đầu tiên họ tỏ vẻ chân thành và thân hữu, rồi sẽ hé lộ bản chất chiến binh của mình khi chuyện đã quá muộn màng. Trong việc giải quyết một xung đột với một kẻ thù mà bạn không biết rõ, tốt nhất là luôn tự bảo vệ bằng cách đóng vai trò chiến binh: đàm phán khi đang tiến tới. Sẽ luôn luôn có thời gian để lùi lại và ổn định mọi thứ nếu bạn đi quá xa. Nhưng nếu bạn trở thành con mồi của một chiến binh, bạn sẽ không thể thu hồi được gì cả. Trong một thế giới có ngày càng nhiều chiến binh, bạn cũng phải sẵn sàng vung gươm, ngay cả khi từ đáy tim bạn là một ông chủ tiệm.

Tư liệu : Đừng tự xem mình là chiến thắng cho đến ngày hôm sau của cuộc chiến, hay bị đánh bại cho tới bốn ngày sau đó... Hãy luôn một tay cầm kiếm và tay kia cầm nhánh ôliu, luôn sẵn sàng đàm phán nhưng chỉ đàm phán trong khi vẫn tiến lên.
            Hoàng tử Klemens von Metternich (1773 – 1859)
Hình ảnh: Cây gậy lớn. Bạn có thể nói năng nhỏ nhẹ và hành động tao nhã, nhưng đối phương thấy rằng bạn đang cầm một vật đáng sợ trong tay. Anh ta không cần cảm thấy đau đớn thật sự hay bị đánh vào đầu; anh ta biết rằng cây gậy đang ở đó, rằng nó không ở đâu xa xôi cả, rằng bạn đã từng sử dụng nó, và rằng nó gây tổn thương. Tốt nhất nên kết thúc tranh cãi và thỏa thuận cuộc đàm phán với bất cứ giá nào còn hơn là đánh liều với một cú vụt điếng người.

HOÁN VỊ

Trong đàm phán cũng như trong chiến tranh, bạn đừng để bản thân tự mang mình đi: có một nguy cơ trong việc tiến tới quá xa, lấy quá nhiều, cho tới mức bạn tạo nên một kẻ thù quyết liệt, kẻ sẽ hành động để báo thù. Phe Đồng minh đã bị như thế sau Thế chiến I. Họ đã đưa ra những điều kiện quá khắt khe cho Đức trong đàm phán hòa bình đến mức người ta có thể cho rằng họ đang đặt những nền móng cho Thế chiến II. Trước đó một thế kỷ, khi Metternich đàm phán, mục tiêu của ông luôn là ngăn ngừa đối phương cảm thấy bị sai lầm. Mục đích của bạn trong bất kỳ cuộc đàm phán nào không bao giờ là để thỏa mãn lòng tham hay trừng phạt đối phương mà là để bảo vệ cho những lợi ích của riêng mình. Rốt cuộc, một thỏa thuận mang tính trừng phạt sẽ chỉ đe dọa cho sự an toàn của bạn.

ta đã bắt kịp cậu.” Và chẳng bao lâu, cả hai chúng tôi gõ (đánh máy chữ) liên tục không ngừng, nhanh hết mức chúng tôi có thể làm. Jones thường không chấp hành tốt các mệnh lệnh, nhưng anh ta thấy rằng mình ngày càng làm việc chăm chỉ hơn
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Robert Greene

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.