Ba Bộ Mặt Của I-a-nút

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 262 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Mầm Độc Của Cây «Xương Rồng»

❊ ❊ ❊

Những cơn bão biển tháng giêng ập đến phía nam biển Ban-tích. Những đợt gió tây bắc lạnh giá từ bờ biển Na-uy thổi về đã gây ra sóng lớn. Sóng điên cuồng tràn lên hãi biển đầy cát vàng của bán đảo Dem-lan-ski, sóng trào lên rồi rút nhanh, sóng gào thét dữ dội trong cơn phẫn nộ tuyệt vọng và tan đi trong những cồn cát ở Frít và Cu-rít-nê-rung. Thỉnh thoảng gió lặng đi và biển chậm chạp thu những chiếc vòi xanh của mình vào lòng, sau khi đã để lại trên bờ cát những mảnh vụn của bè mảng và những chiếc xuồng cấp cứu, những xác người bị ngư lôi xé nát.

Nhưng đấy chỉ là sự im lặng chốc lát, gió tây bắc lại mạnh lên. Biển Ban-tích giận dữ lại kéo từ bờ ra những tặng vật khủng khiếp kia!

Còn những đám mây vẫn không mệt mỏi tiếp tục cuộc hành trình về phương nam để rồi biến thành một trận bão tuyết rét thấu xương ở một vùng nào đó sau Kuê-níc-béc.

Lão Crăng ngồi bên cửa sổ nhà bếp, phì phèo tẩu thuốc nhìn những người con dâu đang bận rộn bên bếp. Lão đang đợi trời tối để vào rừng, đến chiếc hầm bí mật của lão để rình bắt tên trộm ba tuần nay đã lấy cắp thực phẩm của lão để trong kho.

Từ mùa hè, khi lão, một ông già đi săn thấy rõ là chiến tranh sẽ thất bại, thì lão đã nảy ra ý dựng một kho bí mật ở trong rừng. Giờ đây, lão không tin là người Đức sẽ được ăn bánh mỳ nóng, thơm ngon, kèm với bánh lát bơ như lời tên binh nhất hay la hét đã hứa. Lão chẳng phải là người chống phát xít, vì lão luôn tránh xa chính trị. Nhưng lão Crăng cho rằng chỉ có miếng bánh mỳ tự tay mình làm là chắc chắn hơn cả. Giá các con trai lão ở nhà cùng ghé vai với lão thì miếng bánh nhà lão sẽ được phết một lớp bơ ra trò kia! Đó là cái triết lý của lão. Lão chẳng hám của cải của người khác. Chỉ cốt sao người khác đừng chạm đến của riêng của lão. Người ta đã lôi một đứa con trai lão ra trận, chẳng khi nào nó trở về được nữa, đứa thứ hai đang ở Kuê-níc-béc hay Pi-lau, lão cũng chẳng rõ.

Hầm bí mật lão dự trữ lương thực, thực phẩm được làm rất chắc chắn. Đó là điều cần thiết vì gia đình lão đông. Các cuộc trưng thu đã bắt đầu... Hãy cứ thử chối từ tên Khuy-te mà xem! Nhiều lần hắn tuyên bố rằng cứ dành lương thực... cho quân đội quang vinh của quốc trưởng… Nhưng người Nga sắp đến, và chuyện này thì từ lâu lão không nghi ngờ nữa. Lính Nga cũng phải ăn.

Crăng thở phì phò một cách giận dữ: «Hắn là ại? Chẳng giống dã thú chút nào cả, lấy trộm thật khôn ngoan, hay là người?». Hôm nay, khi trời tối, lão sẽ thử khám phá điều bí mật này. Mấy mụ đàn bà đang to tiếng với nhau bên bếp, lão Crăng đứng dậy, cằn nhằn quát họ im rồi với lấy cây súng trên tường và ra cửa. Lão mở cửa, bước xuống bậc thềm, nheo mắt lại.

Bão quất tuyết vào mặt lão, rồi rú lên ở phía sau trong góc nhà. Tuyết phủ dầy và lão Crăng hối tiếc là không mang theo bàn trượt tuyết. Kẹp chặt súng dưới nách, lão nặng nhọc bước đi trên tuyết dầy. Chẳng mấy chốc tuyết đã bám từ đầu đến chân lão. Trông lão như một ông già tuyết.

Trong rừng dễ đi hơn. Crăng rảo bước. Đi được khoảng một cây số rưỡi thì lão rẽ sang phải và tụt xuống một khe cạn và sâu, mọc đầy những loại cây. Ở ngay trong lòng khe, dưới gốc cây cổ thụ có những lớp cây con bao bọc kín xung quanh là chiếc hầm của lão. Vừa cẩn thận rẽ cây vừa như bò, Crăng lách vào hầm, lão thấy ngay là mình đã đến chậm. Tên lạ mặt đã ở đây và bỏ đi!

Lão chửi bới thậm tệ, nhưng bỗng lão phát hiện thấy dấu vết đã bị tuyết lấp đi mất một nửa.

- Bây giờ thì mày có trốn đi đằng trời, quân đê tiện! - Lão nói.

Sau khi đã ngụy trang lại lối vào hầm bí mật, lão đặt ngón tay vào cò súng, đứng thẳng người quan sát. Có dấu vết lạ! Lão cúi người xuống dò xét theo những dấu vết. Nhưng thật khó, vì chúng đã bị biến dạng đi rất nhiều, đôi chỗ còn bị tuyết xóa sạch.

Ở sâu trong khu rừng vân sam có một quãng trống lớn, bên rìa quãng trống này có một căn lều nửa như nhà kho, nửa như chòi canh gác, giờ được dùng chứa cỏ khô.

Lão nhìn thấy trong tuyết một dãy những hố con đã bị lấp quá nửa. Dãy hố này chạy dài theo mép rừng, sau đó ngoặt về phía căn lều gỗ đã sẫm màu vì thời gian. Lão Crăng thận trọng, rón rén đến căn lều, rọi đèn pin tìm then cửa, lên đạn và kéo cánh cửa ra. Tấm cửa kêu ken két và mở toang. Qua ánh đèn pin, lão thấy đống cỏ khô, chỉ có cỏ thôi. Lão lưỡng lự giây lát lia đèn pin hết mọi phía. Lão cầm ngang cây súng lấy nòng súng rẽ đám cỏ khô trước mặt. Bỗng lão nhảy lui về phía sau.

Trước mắt lão là một người đang nằm. Người đó lấy tay phải che mắt cho khỏi chói, đầu không đội mũ ấm, chiếc áo ca pốt rách bươm, chân đi đôi giày to đế gỗ...

Họ lặng thinh nhìn nhau. Lão Crăng chiếu chếch đèn sang phía bên. Người kia không nhúc nhích, mắt không rời mặt lão.

Sự yên lặng kéo dài một lúc lâu, cuối cùng lão Crăng lên tiếng:

- Ăn đi, ăn đi.

Sau đó lão dựa súng vào dầm cửa và ngồi xổm bên cạnh người kia.

- Đừng sợ, tôi không phải là một tên quốc xã - Crăng nói, và bỗng dưng lão cảm thấy như nằm trước mặt lão là đứa con trai lớn đã mất tích ở Sta-lin-grát.

Lão lắc đầu.

- Người Nga à? Nằm đây đã lâu chưa? - Lão hỏi - Crăng nói tiếng Nga trọ trẹ.

- Đã ba tuần. - người đó nói bằng tiếng Đức.

- Tay à? - Lão thận trọng chạm tay vào cánh tay trái của người kia.

- Đã khá hơn. Sẽ tố giác tôi chứ?

Lão lắc đầu. Lão khó giải thích được vì sao lão xử sự như vậy. Dẫu sao thì người nằm trước mặt cũng được coi là kẻ thù. Có thể chính người này đã giết chết con lão ở bên sông Von-ga xa xôi kia! Biết đâu con trai lão đã bị bắt làm tù binh và bây giờ cũng đang nhai mẩu bánh của người nông dân Nga đem cho nó? Nhưng che giấu tù binh Nga rất nguy hiểm. Nhưng lão đi tố cáo với tên xã trưởng xấc xược thì người ta nhất định sẽ bắn chết người trai này. Đến nay, lão vẫn còn nhớ những tiếng súng trong khu rừng hồi nào. Biết đâu người này là một người trong số đó?... Còn bây giờ thì người Nga đang ở cửa ngõ của nước Phổ. Chắc lão sẽ làm đúng, nếu lão cứu đồng bào của người Nga và trao lại nguyên vẹn cho người Nga… Song, nếu bọn Giét-ta-pô phát giác ra thì sao? Tất nhiên, đó chỉ là những phân tích võ đoán của Crăng mà thôi. Khó mà tháo gỡ được toàn bộ mớ suy nghĩ rối bòng bong thoáng qua trong đầu lão, nhưng lão đã quyết định cứu giúp người Nga này. Lão đẩy bánh mỳ sấy và giăm bông lại gần tay anh ta.

- Tên anh là gì?

- Áp-gu-xtơ... - người Nga trả lời.

Khi những phát súng đầu tiên vang lên, Áp-gu-xtơ Gai-li-tich đang đứng ở hàng thứ hai trong đám tù binh, và anh cảm thấy bị đập mạnh vào đầu. Anh loạng choạng, rồi ngã phịch xuống chiếc hố chính tay anh vừa đào.

Cùng lúc đó, viên đạn súng máy thứ hai của bọn SS xuyên vào phần mềm của cánh tay, nhưng đại úy Gai-li-tích đã choáng váng, không còn cảm thấy đau đớn nữa. Ngay sau khi đám tù binh Nga đào xong các boong ke đầu tiên, tại những nơi thâm sơn cùng cốc của miền Đông Phổ này, Gai-li-tích đã thấy trước kết cục: Bọn Hít-le sẽ không để cho nhân chứng sống sót. Tính chất hai mặt của sự việc đã dằn vặt Áp-gu-xtơ Gai-li-tích. Anh hoàn toàn tình cờ rơi vào toán tù binh được lựa chọn trong các trại tập trung ở Kuê-níc-béc. Anh đụng phải tên chỉ huy tác chiến đến tuyển chọn, vì ở anh có một cái gì đó khiến cho hắn chú ý. Tên chỉ huy trại không muốn xử người thợ cơ khí lành nghề này. Nhưng tranh cãi với tên phụ tá của Ho-xtơ, thì hắn lại không dám.

Áp-gu-xtơ Gai-li-tích ở trong trại tập trung với nhiệm vụ đặc biệt là tổ chức các hoạt động bí mật, đảm bảo liên lạc với các chiến sĩ tình báo Xô-viết đang hoạt động trên lãnh thổ Đông Phổ, Lát-vi-a, Bê-lô-rút-xia và Ba Lan. Hoạt động chủ yếu của anh phải triển khai khi Hồng quân vượt biên giới Đông Phổ và bắt đầu các chiến dịch tiêu diệt tập đoàn quân Đông Phổ của quân Đức.

Và trường hợp ngẫu nhiên khủng khiếp ấy xảy ra... Đầu tiên là ý nghĩ chạy trốn, nhưng anh phải gác lại vì bọn canh gác không lúc nào rời mắt khỏi những tù binh. Hơn nữa ít lâu sau Gai-li-tích đã từ bỏ ý định đầu tiên còn vì lý do khác. Anh muốn tìm hiểu xem bọn Hít-le chuẩn bị các boong ke nhằm mục đích gì và Gai-li-tích đã quyết định chờ đợi để có khả năng trực tiếp báo tin quan trọng nhất về vị trí của các hầm bí mật. Sau đó sẽ chạy trốn.

Đại úy Gai-li-tích đã tính sai thời gian. Bọn chúng đã quyết định thủ tiêu nhóm của anh sớm hơn anh dự tính, còn việc anh chạy trốn thì đã được chuẩn bị.

...Chiếc chăn bông phủ kín đến tận đầu. Tuyết đọng trên chăn, rồi tan ra, thấm ướt chăn, chiếc chăn đè nặng khắp người anh, anh nghĩ, cần phải đứng dậy làm nhiệm vụ. Anh hoàn toàn không ngạc nhiên rằng mình đang ngủ trên tuyết và muốn lấy tay hất bỏ chiếc chăn ẩm ướt ra, nhưng cơn đau đã làm anh phải tỉnh dậy. Giá như Gai-li-tích còn nằm trong mồ chung nửa tiếng nữa thì chẳng gì có thể cứu nổi anh. Tên xã trưởng Han-xơ Khuy-te, theo lệnh của Phri-đríc, đã phái một toán lính vào rừng lấp ngôi mộ và xóa mọi dấu vết.

Ngay trong đêm đầu tiên Áp-gu-xtơ Gai-li-tích ở trong rừng. Ban đêm, anh đột nhập vào một điền trang ở gần đây, nhưng chẳng kiếm được gì, trừ chiếc khăn giải giường để băng bó. Đại úy Gai-li-tích nhịn đói hai ngày đêm, sau đó mới tình cờ tìm được hầm bí mật của lão Crăng.

Cứ cách một hai ngày, Crăng lại đến thăm người lão bảo trợ. Lão mang đồ ăn đến cho anh và dần dần thay quần áo, băng bó cho anh. Những ngày đầu họ hầu như chẳng nói gì với nhau. Sau đó lão Crăng đưa ra nhiều câu hỏi. Gai-li-tích dè dặt kể mọi chuyện, anh thử thăm dò để tìm kiếm ý định và hành vi của lão. Nhưng khó có thể moi được ở lão một điều gì. Lão hỏi, nhưng lặng thinh nhiều hơn. Cánh tay đã khá hơn, nhưng Gai-li-tích lại buồn rầu. Anh khổ sở vì không có việc làm, vì hoàn cảnh trớ trêu của anh: một chàng trai sức vóc, một đảng viên cộng sản, một người tổ chức các hoạt động bí mật của phong trào kháng chiến trong các trại tập trung của phát xít, một chiến sĩ tình báo, thế mà, chán thật, anh phải ẩn náu trong một hầm bí mật như một tên đào ngũ. Nhưng đi đâu bây giờ? Từ đây đến Kuê-níc-béc xa hàng trăm cây số, dọc đường đầy đồn bốt của bọn SS, trong các làng thì đặc bọn sen đầm, bọn chó săn quốc xã, mà trong tay anh lại chẳng có cái gì. Thực ra cũng có một địa điểm gặp gỡ bí mật chắc chắn ở ngay Kuê-níc-béc, tại nhà của Phi-se. Địa điểm này dành cho trường hợp thật cần thiết, nhưng phải làm thế nào đi tới đó mà không bị bọn chúng vồ được. Và sẽ ra sao, nếu như…

***

- Chúng ta đang đi qua lãnh địa của Hen-ric Mắc «nhà triết học» mà chúng ta đã gặp ở khách sạn «Phiên tòa đẫm máu»... Cậu còn nhớ hắn chứ Vê-nhê? - Phri-đríc Phôn Ghê-rơ-lắc lên tiếng hỏi khi họ băng qua con đường vòng và chiếc xe hơi vút lên con đường nhựa bằng phẳng dẫn đến Prây-sít Ê-lau - kia kìa, phía bên phải là đồn «Ki-ô-nhít»... Xin lỗi, Vê-nhê - Hắn tiếp tục - Năm cũ đã qua đi, còn năm mới chẳng có gì có thể hứa hẹn với chúng ta...

- Anh muốn quên hết sao, Phri-đríc?

- Không phải đâu, Vê-nhê ạ. Không thể đắm mình trong mộng tưởng, nếu như chẳng có gì để quên và cũng chẳng có gì để nhớ.

- Do đâu mà anh lại bi quan như thế, Phri-đríc thân mến? Chúng tôi chưa hết mọi khả năng mà quốc trưởng của chúng ta hiện đang có trong tay và...

- Thôi đi, Vê-nhê… - Phôn Ghê-rơ-lắc mệt mỏi ngả người trên đệm ghế và nhấn ga cho xe chạy nhanh. Tôi không phải là Hen-rích Mắc, cũng chẳng phải là thiếu tá Ba-đên-khúp - Hắn nói sau một phút im lặng. - Đừng nhạo tôi như vậy… - Hắn mỉm cười, mắt không rời con đường và khẽ nói - Phải, mà cả anh nữa, Vê-nhê ạ, anh cũng không phải là con người chính thống như thường ra vẻ đâu.

Đại úy nhún vai.

- Dẫu sao, đó là chuyện của anh - Phri-đríc nói tiếp - Riêng với tôi, tôi đã có điều kiện để tin chắc điều này...

Hắn xả bớt ga, chiếc xe chạy chậm lại và rẽ vào Lút-víc-xvan-đe… Ít hôm sau ngày lễ giáng sinh, Vê-nhê được mời đến chơi nhà ông bác Phôn Ghê-rơ-lắc. Nam tước Các Phôn Ghê-rơ-lắc sống trong một thái ấp lâu đời, không xa Prây-sít Ê-lau, mấy năm gần đây, ông ta chẳng đi đâu ra khỏi nhà. Là một điền chủ nhiều ruộng đất, lại có nhiều nhà máy lớn chế biến nông phẩm, nam tước nổi tiếng là người khá kỳ quặc, thô lỗ và nói chung, là một con người đáng sợ, tự cho phép mình đưa ra những nhận xét về đám người thân cận của quốc trưởng.

Vê-nhê Phôn Sli-đên đã nhiều lần nghe thấy ở Kuê-níc-béc người ta nói rằng ngay cả «lãnh tụ nâu» của Phổ là E-rích Kốc cũng phải gờm. Vê-nhê đã chú ý đến nam tước Các Phôn Hôn-bắc từ lâu, và khi thượng úy ngỏ lời mời đến thăm Nam tước là anh nhận lời ngay. Giờ đây hai người đang trên xe của Phôn Ghê-rơ-lắc đến thăm lão. Ghê-rơ-lắc có vẻ rầu rĩ. Thời gian gần đây hắn có cảm giác là hắn giống một con người bên cạnh một ngôi nhà đang sụp đổ. Hắn muốn nói cho hết để tâm hồn được nhẹ nhõm, nhưng Phri-đríc không thấy ai bên cạnh có thể hiểu được hắn. Phôn Ghê-rơ-lắc kính trọng Vê-nhê. Nhưng bằng trực giác hắn cảm thấy là giữa hai người có bức tường chắn ngang. Tất nhiên, hắn cũng chẳng nghi vấn bức tường đó là bức tường thế nào, nhưng hắn vẫn cảm thấy sự tồn tại của nó, và Phôn Ghê-rơ-lắc đã không thể thổ lộ hết mọi hoài nghi của mình với đại úy Vê-nhê.

***

- Bốn sư đoàn của quân đội chúng ta đang bị tập đoàn quân xe tăng số 5 của bọn Đức bao vây ở miền Ba-xtô-nhơ. Tập đoàn quân này tiếp tục di chuyển về phía Tây. Theo những tin tức tác chiến gần đây nhất thì bộ chỉ huy Đức đã đổi hướng của tập đoàn quân xe tăng số 6 của bọn SS. Bây giờ, thay cho tướng Li- ê-sơ, tập đoàn quân xe tăng số 6 tiến về Đi-nan và Ji-ve, ở đấy nó liên kết với các đơn vị của tập đoàn quân xe tăng số 5 ở cánh trái và đang tiếp tục hiệp đồng tấn công cùng các đơn vị này...

- Sao lại có thể xảy ra chuyện như vậy? - En-vít Hô-li-đây cất tiếng hỏi.

Jim nhún vai, hắn vừa từ Oa-sinh-tơn đến Luân-đôn.

- Bây giờ thì khó mà phân tích được toàn cục vấn đề này. Chúng ta chẳng đã có một số tin tức về sự phản kích có thể xảy ra của đối phương và chúng ta chẳng đã thông báo cho ban tham mưu của Ai-xen-hao và Mông-gô-mê-ri biết đó sao? Nhưng chẳng ai coi chuyện này có ý nghĩa quyết định. Chính tập đoàn quân thứ nhất của chúng ta, sau khi bị đòn tấn công chủ yếu mãnh liệt của bọn Đức đã phải tháo chạy không dám ngoảnh đầu lại...

- Phải, không thể liệt chiến dịch Ác-đen-xki vào những trang sử chói lọi của chúng ta - En tư lự trả lời.

- Chả phải nói! Sau cuộc diễu hành chiến thắng từ Noóc-măng-đi đến Brúc-xen, thì đây lại là một cái búng mũi nữa... Vì rằng, chỉ sau 8 ngày tiến công, các đạo quân Đức đã chọc thủng phòng tuyến rộng đến một trăm ki-lô-mét và tiến sâu vào tuyến phòng thủ của chúng ta đến một trăm mười ki-lô-mét. Đó là chúng chưa tung ra các đội quân dự bị! Thế còn quân đồng minh thiệt hại mất bao nhiêu?... Nói chung là mặt trận bị chia cắt làm đôi, bọn Đức đang chuẩn bị một trận tấn công mới bằng cánh trái của nhóm tập đoàn quân «B». Chúng đã điều tới đó 10 sư đoàn và một lữ đoàn, anh thử hình dung xem, như thế là thế nào? Chỉ có tài thánh mới cứu nổi chúng ta...

- Hay là người Nga? - Hô-li-đây nói…

Jim nhìn hắn chằm chằm.

- Anh biết chuyện rồi à? Thôi được, anh nói đúng, cơ quan chúng ta đang trông đợi vào cả con đường ngoại giao nữa. Nhưng cái chính hiện nay không phải là chuyện đó. Cần phải thuyết phục những nhà lãnh đạo có đầu óc tỉnh táo của quốc gia Đức rằng, họ không chọn đúng phương pháp để nâng cao uy tín của mình. Mặt trận phía Tây, tự nó phải biến đi. Anh sẽ bay đến Thụy Sĩ với hộ chiếu có tên là Ri-bây-rô đờ Xăng-tốt - một kỹ nghệ gia chăn nuôi - Jim nói tiếp - Từ đó anh chuyển qua Béc-lin, ở đấy anh sẽ làm nhiệm vụ liên lạc giữa cơ quan chúng ta với cơ quan của Him-le. Ông ta là một người khôn ngoan. Sếp có thể có ý định đánh giá con ngựa này một cách thực nghiêm chỉnh.

Hô-li-đây im lặng.

- Hình như anh không vui phải không? - Jim hỏi.

- Vì sao kia chứ? - En-vít hỏi lại.

***

Thuyền trưởng tàu «Pô-mê-ra-nhi-a» cảm thấy lo khủng khiếp. Trời gần tối thì tàu rời Tu-cu với một ngàn tấn tinh quặng Ni-ken trong hầm tàu và được sáu tàu cảnh giới tác chiến đi hộ tống, nó đi về phía Kuê-níc-béc. Một cuộc vượt biển ngắn trên biển Ban-tích vào mùa đông. Chẳng có gì đặc biệt đối với một thuyền trưởng giàu kinh nghiệm. Tất nhiên, nếu hắn bỏ qua những chiếc tàu ngầm đáng nguyền rủa của bọn Nga. Suốt đêm hắn không ngủ, cứ đếm bước trong ca-bin, đôi lúc nhắm một ly cô-nhắc. Sau đó hắn lại bước ra cầu tàu. Từ trên cánh trái, hắn theo dõi hai chiếc tàu khu trục và bốn tàu chống tàu ngầm có những chiếc thân dài hiện ra lờ mờ trong đêm tối, xong hắn trở về buồng mình, và lại đểm từng bước trong ca-bin, hai tay chắp sau lưng. Đến sáng, trời ấm hơn, gió lặng biển yên và thuyền trưởng thở phào nghĩ rằng vào lúc gió lặng sóng yên như lúc này thì tàu ngầm khó mà nhô chiếc mắt kính lên khỏi mặt nước.

- Bảo mang cho tôi cà-phê lên cầu tàu. - Viên thuyền trưởng ra lệnh. Cà phê được mang lên, nhưng hắn chưa kịp nhấp một ngụm thì trên đầu đã nghe thấy tiếng ầm ầm của động cơ máy bay. Thuyền trưởng đẩy vội tách cà phê sang bên, cà phê sánh cả vào tấm bản đồ. Hắn nhảy ra cầu tàu nhìn thấy các máy bay phóng ngư lôi sắp tấn công chiếc tàu «Pô-mê-ra-nhi-a». Hắn định ra lệnh báo động và tự vệ bằng các khẩu đại bác cỡ nhỏ đặt ở sân mũi tàu. Nhưng hắn ngạc nhiên thấy các tàu bảo vệ vẫn bình thản tiến theo hướng cũ. Những chiếc máy bay bay đến gần và bây giờ hắn đã nhìn thấy rõ dấu chữ thập trên cánh máy bay.

- Máy bay của ta! - Hắn nói thầm, tay rời cần báo động và đưa mắt nhìn theo các tàu phóng ngư lôi. Trong khi đó một chiếc tàu ngầm Xô-viết đã đặt tàu «Pô-mê-ra-nhi-a» trong đường ngắm từ lâu. Đội hộ tống quá mạnh đi theo tàu «Pô-mê-ra-nhi-a» đã buộc người chỉ huy chiếc tàu ngầm phải suy đi tính lại rất nhiều lần để lựa chọn thời cơ đón đánh có hiệu quả và không bị giáng trả. Các máy bay phóng ngư lôi Đức bay qua phía trên các con tàu, các sĩ quan và thủy thủ Đức ngẩng đầu xem những chiếc phi cơ nặng nề đang làm náo động cả không trung... Người chỉ huy tàu ngầm Xô-viết đã chọn chính những giây phút đó để phát lệnh tiến công.

Thuyền trưởng tàu «Pô-mê-ra-nhi-a» nghe thấy tiếng kêu thất thanh ở phía dưới «có thủy lôi». Hắn cho người ngoắt lái sang phải, nhưng đã muộn mất rồi! Tiếng nổ rất lớn của hai quả thủy lôi đã chẻ chiếc tàu «Pô-mê-ra-nhi-a» ra làm đôi. Chiếc tàu chìm xuống rất nhanh. Những chiếc tàu khu trục và tàu săn tàu ngầm sục sạo chung quanh, chúng dùng cả máy định vị dưới biển để dò tìm. Một chiếc tàu đã vớt được các thủy thủ sống sót lên tàu. Chúng không tìm thấy viên thuyền trưởng. Hắn đã có mặt ở buồng lái khi tiếng nổ làm vỡ tung trong con tàu chất đầy quặng Ni-ken. Người chỉ huy tàu ngầm Xô-viết đã tính rất chính xác lộ trình của tàu «Pô-mê-ra-nhi-a» Anh đã biết rất rõ con tàu kia rời khỏi Tu-cu vào lúc nào.

***

Họ ngồi bên bàn tiệc bày biện sang trọng và mặt đỏ bừng lên vì rượu. Ngài Nam tước già đã tiếp đãi họ thật sự niềm nở như kiểu ông hoàng. Phri-đríc tươi tỉnh hơn đôi chút, mặt mày hết cau có và đôi khi anh còn pha trò nữa. Vê-nhê Phôn Sli-đên đã biết cách chiếm ngay được cảm tình của chủ nhân. Khi cậu cháu giới thiệu khách đến thăm thì Nam tước đã tuyên bố là không thể chịu đựng được những tên vênh váo mặc quân phục màu đen, nay ông vui mừng vì bạn của cháu ông không mặc quân phục đen. Trong khi chờ đợi dọn bàn tiệc, Nam tước đã dẫn đại úy đi thăm ngôi nhà cổ ba tầng được xây dựng kiên cố với một thư viện tuyệt vời. Trong đó đặc biệt quý là những tiêu bản viết đầu tiên trên da cừu rất hiếm của thế kỷ thứ X, thứ XI. Phôn Hôn-bắc còn giới thiệu cho khách xem cả một bộ sưu tập vũ khí cổ, từ cái lao của người Phổ thời cổ đại cho đến những khẩu súng khai hậu thời kỳ chiến tranh bảy năm.

Nam tước bỗng nhiên quay sang hỏi đại úy Vê-nhê khi anh đang mân mê khẩu súng lục cổ hai nòng.

- Đại úy hãy cho biết, liệu đã đến lúc phải gửi tất cả những thứ này đi xa hơn nữa, hay phải chôn giấu chúng dưới đất?

Vê-nhê mỉm cười.

- Tôi là một người bình thường trong quân đội, thưa Nam tước, do đấy tôi khó có thể nhận định nổi những ý đồ của Quốc trưởng chúng ta.

- Quốc trưởng của các anh... Nam tước lầm bầm nói và quay ra phía cửa. Đại úy có cảm tưởng là khi ra tới cửa Nam tước còn càu nhàu nói thêm: Quỷ tha ma bắt hắn đi...

Nam tước có dáng người cao, xương xẩu nhưng không phải là gầy còm. Đầu lão luôn ngẩng cao, mái tóc bàn chải màu trắng bạc làm cho khuôn mặt Nam tước có vẻ như người hay gây gổ.

Bên bàn tiệc, lão ăn ít nhưng luôn luôn nâng cốc, kề môi uống rượu. Một tên đầy tớ đi đi lại lại không một tiếng động trong gian phòng trải thảm Gô-be-len để hầu rượu lão.

- Tôi đã hỏi bạn anh, Phri-đríc ạ, - khi nào tôi phải thu xếp hành lý… - Nam tước ngả người trong ghế bành, tay phải cầm chiếc cốc pha lê lấp lánh.

- Còn anh, anh sẽ nói gì về chuyện này? - Nam tước hỏi cháu.

- Tốt nhất là hãy lo đến chiếc quan tài, bác thân mến ạ.

- Cháu quá buồn rầu đấy, cháu thân mến ạ. - Nam tước lắc đầu - Bạn cháu thì trái lại, anh ta đã được truyền bệnh lạc quan đáng thèm muốn.

- Thưa Nam tước, mỗi người có một tâm sự riêng của mình - Vê-nhê chen vào câu chuyện.

- Chính thế, mỗi người có một tâm sự riêng của mình «Kẻ nào quên điều này thì kết cục sẽ phải giặt quần mình»! Phôn Hôn-bắc bỗng nhiên nổi cáu.

Lão chìa cốc ra và cũng chẳng đợi người hầu rót đầy, lão đã đưa cốc lên miệng khiến rượu sánh ra cả tấm thảm và quần áo. Lão uống ừng ực.

- Những tên thợ vẽ hạng bét, những tên nát rượu, nhưng tên đồng tính luyến ái, chúng khoắng sạch cả nước Đức, chúng bôi bẩn nước Đức từ đầu đến chân, chúng đã xuỵt để cả thế giới chống lại chúng, còn bây giờ thì đang tìm bờ bụi chắc chắn để giấu mông của mình - lão nói toáng lên.

Mắt Phri-đríc Phôn Ghê-rơ-lắc sáng lên một cách vui vẻ. Vê-nhê suy nghĩ: «Bắt đầu rồi đấy!».

- Một tên giáo quèn khốn khổ với cả một mớ khuyết tật và trí tuệ của một thằng đồ tể, một tên thọt mắc bệnh thần kinh, một tên béo phị, bụng ních đầy vàng, một tên thợ sơn liệt dương bẩn thỉu, mà tôi cũng chẳng bao giờ thèm thuê ngữ người ấy, chúng đang quyết định, đúng hơn là đã quyết định số phận cả nước Đức... Và đây là những con người «hùng» đã trích dẫn Nít-sơ! Nít-sơ cũng phải cựa mình trong quan tài khi nghe thấy những lời nói bất hủ của mình từ mồm của bọn chúng! Lẽ nào Nit-sơ chờ đợi ở loài người những thủ lĩnh như vậy?

Phri-đríc cười nhạo một cách cởi mở. Đại úy thấy câu chuyện bắt đầu có chiều hướng nguy hiểm. Lần này anh không lo có sự khiêu khích, nhưng chúa sẽ che chở cho người nào biết thận trọng.

- Xin Nam tước cho phép - Anh lên tiếng.

Nam tước nhìn chằm chằm vào anh.

- Chính Clau-dê-vít, đã chỉ ra rằng, nói chung không nên bài xích một phương sách, nếu không nêu ra được một phương sách khác tốt hơn. Có phải thế không Phri-đríc. - Vê-nhê quay sang hỏi bạn mình.

- Tôi sẵn sàng giải thích cho anh nghe lời chỉ trích của tôi, đại úy ạ! Phải, phải, tôi sẵn sàng giải thích. Hy vọng rằng tôi đang tiếp chuyện với một người đứng đắn. Vì anh là bạn của Phri-đríc kia mà!

Vê-nhê khoát tay vẻ bất bình.

- Vả lại đối với tôi, thì đằng nào cũng thế, - Nam tước phẩy tay, - Tôi đã phát biểu điều đó với Ê-ric Kốc, một kẻ chơi trội ngu đần và đã buộc hắn phải câm miệng khi muốn phản đối tôi ngay trong nhà của tôi, ngôi nhà mà tổ tiên tôi đã tiếp đón Phri-đríc đại đế và «tể tướng thép» như những người ngang hàng. Thế đấy! - Lão tiếp tục nói - khác với một số kẻ đần độn, tôi hiểu được là lịch sử nước Đức bắt đầu từ đấy, không phải từ năm 1933, mà sớm hơn rất nhiều. Khi còn trẻ, tôi đã vinh dự được làm quen với Bít-xmắc, đại úy ạ. Đấy là một con người vĩ đại. Chính ông đã làm cho nước Đức được hiển vinh.

- Nhưng quốc trưởng cũng tạo ra được một nước Đức như thế - Phôn Sli-đên ngắt lời lão, - Xe tăng của chúng ta đang lăn xích trên những quảng trường của Véc-xây và trên các đường phố Vác-xa-va...

- Chúng ta đã dày xéo - Nam tước nói - Người ta đã đá đít chúng ta ra khỏi Pa-ri.

- Nhưng hiện nay tình hình mặt trận phía Tây đã thay đổi - Một lần nữa đại úy lại phản đối - Chúng ta đã tống bọn Anh-Mỹ ra ngoại vi Ác-ten. Chúng đang tháo chạy trước sức tấn công của các tập đoàn quân xe tăng của chúng ta.

- Đấy chỉ là một cơn giẫy chết, đại úy ạ. Chúng ta không còn lực lượng dự trữ cho chiến tranh ở cả hai mặt trận - Nếu giờ đây người Nga tấn công, chúng ta sẽ phải rút các đơn vị quân đội từ mặt trận phía Tây và chuyển qua phía đông.

Nam tước im lặng. Lão nhìn trừng trừng lên phía trên đầu những người đang đối thoại, dường như lão thấy một cái gì lớn lao ở đằng sau những bức tường của tòa lâu đài cổ. Các sỹ quan cũng im lặng.

- Nói các anh cạn chén! - Bỗng nhiên lão nói to - Nước Đức không phải như nước Nga có không gian bao la và dân cư đông đúc. Chúng ta phải luôn luôn nhớ điều này: đừng bao giờ động vào con gấu Nga ngay trong hang của nó! Nước Đức có thể bắt phương Tây phải nghe theo ý muốn của mình chỉ khi nào nước Đức liên minh được với phương Đông hoặc là được sự bảo đảm trung lập của phương Đông! Phải, chỉ có liên minh với nước Nga! Bít-xmắc đã xây dựng chính sách của nước Đức đúng như thế. Bít-xmắc di huấn cho những người kế tục chính điều đó. Chúng ta chiếm vị trí trung tâm của châu Âu và bị hở sườn từ mọi phía. Không đảm bảo an toàn cho mình về phương Đông, thì không nên chiến đấu với phương Tây. Những nhà chính trị và quân sự ngày nay không muốn biết đến cả Clau-dê-vít lẫn Bít-xmắc. Phri-đríc Phôn Ghê-rơ-lắc giơ tay ngăn.

- À... - Nam tước phẩy tay.

Lão đứng dậy đến bên cửa sổ, sau đó đi nhanh chóng ra khỏi phòng.

- Đừng để ý đến ông cụ, Vê-nhê ạ. Bác tôi là người không đến nỗi tồi, nhưng ông cụ đã già nên không thể thích nghi với những chuyện đang xảy ra với nước Đức.

- Sao anh kỳ vậy, Phri-đríc, tôi rất mến nam tước, mặc dù ngài có đôi phần khắt khe trong xét đoán - Sli-đên trả lời.

Chủ nhân vào phòng, tay cầm mấy cuốn sách:

- Các anh hãy nghe đây - Lão nói - Đây là bức thư của công tước Bít-xmắc gửi bá tước Su-va-nốp - Nam tước cầm một quyển sách đưa lên gần mắt, rồi đọc: «Chừng nào còn ở cương vị mình, tôi vẫn còn trung thành với những truyền thống mà tôi đã theo đuổi 25 năm nay. Sự giúp đỡ mà nước Nga và nước Đức dành cho nhau và đã dành cho nhau hơn 100 năm nay không hề gây một tổn thất nào đối với những lợi ích đặc biệt của cả phía bên này lẫn bên kia. Trong suốt hơn 100 năm hai quốc gia láng giềng ở châu Âu có lẽ chưa từng có một mong muốn nhỏ bé nào để trở thành kẻ thù của nhau, chỉ một sự việc này có thể rút ra được kết luận là các lợi ích của hai bên không hề tách rời nhau...».

Bên ngoài trời bắt đầu tối nhanh, Nam tước phải nâng sách lên sát mắt hơn. Vừa lúc đó ngọn đèn treo trên bàn bùng sáng và Phôn Hôn-bắc hạ cánh tay cầm sách xuống. Lão trở lại bàn, đặt quyển sách xuống tiến đến bậu cửa sổ, đưa cặp mắt tò mò nhìn khách và thở mạnh:

- Khi ngài «tể tướng thép» về hưu, ngài vẫn thường đến thăm viếng cha tôi, sống khá lâu ở lâu đài với chúng tôi, và còn viết cả hồi ký trong ngôi nhà này nữa. Chính ở đây ngài đã viết những câu: «Giữa Nga và Đức-Phổ không có những mâu thuẫn lớn nào để hai bên có lý do gây tuyệt giao và chiến tranh với nhau»; rằng «chiến tranh với Đức đem lại ít lợi ích cho nước Nga và chiến tranh với Nga cũng đem lại ít lợi ích cho nước Đức, như vậy...» Nếu xem xét nước Đức và nước Nga một cách riêng biệt thì khó mà tìm được cho mỗi nước một lý do hiển nhiên, dù là xác đáng, để gây chiến…

Các sĩ quan ngồi im. Nam tước Phôn Hôn-bắc rót rượu đầy các cốc, ra hiệu mời Vê-nhê và cháu lão. Họ cầm cốc nhìn chủ nhân, chờ đợi.

- Bây giờ thì chẳng ai còn quan tâm suy nghĩ đến những lời tiên đoán của Bít-xmắc - Nam tước thốt lên cay đắng - Những người bôn-sê-vích, tất nhiên hoàn toàn không phải là những người Nga sa hoàng, với các quan điểm của họ, với chính phủ Mu-ghích với tư tưởng bình đẳng chung hư hỏng của họ thì chẳng khi nào tôi có thể chịu nổi. Nhưng với bọn cộng sản thì tốt hơn cả là nên sống hòa thuận chứ không phải là đánh nhau. Ngày hôm nay tôi bắt đầu thu xếp hành lý, vì tôi không mảy may mong muốn phải báo cáo trước bọn Nga về những hành vi của bất kỳ một tên xỏ lá nào. Xin mời! Xin mời!

***

Đêm đó những người dân Kuê-níc-béc được ngủ yên. Trong suốt đêm đông dài dằng dặc chẳng có một hồi còi báo động, và cũng chẳng một lần vang lên tiếng nói của người phát thanh viên:

- Chú ý! chú ý! chú ý! Báo động! báo động trên không, báo động trên không! báo động!

Vào buổi sáng tháng giêng tràn đầy ánh nắng này, có một ông già đang đi trên đường phố Kuê-nic-béc. Nhìn cách ăn mặc, ta có thể đoán ông nông dân. Ông đi chậm rãi, mắt liếc nhìn xung quanh, thỉnh thoảng dừng lại đọc các mệnh lệnh của ban quân quản và các tờ cáo thị của tòa thị chính thành phố, lườm lườm nhìn bọn SS đi tuần, lắc đầu khi thấy cảnh điêu tàn đổ nát. Lão bỗng giật thót người khi thấy trên tờ áp phích một hình người đội chiếc mũ kéo sụp xuống tận mắt, phía trên đầu có in chữ «Trạm vận tải cứu thương», đang nhìn vào lão. Lão đi qua gần hết thành phố cuối cùng lão dừng lại trước quầy kính của một hiệu thực phẩm tạp hóa. Quầy được che kín bởi một chiếc mành xếp nếp. Lão đi vòng quanh cửa hiệu tìm thấy chiếc cửa giậu. Tay lão sờ tìm nút bấm rồi lấy ngón tay cái ấn nút chuông. Một người đội mũ lông có lưỡi trai, mặc áo ghi-lê và chiếc quần bó ống sang trọng nhét trong đôi ủng mũi nhọn làm bằng da thuộc, từ, bậu cửa bước ra con đường nhỏ. Con đường này đi từ cửa giậu vào và đã được cào sạch tuyết rơi buổi sáng. Lão già do dự nghĩ: «Trông giống như tên xã trưởng của mình». Lão suy nghĩ và trong bụng nghi hoặc.

- «Ông cần gì vậy?» - Người đứng ở trên con đường nhỏ quát hỏi một cách thô lỗ.

- Ông là Vôn-phơ-găng Phi-se, chủ cửa hàng thực phẩm phải không? Tôi ở quê ra, mang thư của bác Ri-khút gửi cho ông.

- Bác già còn sống sao? Bác ấy bây giờ cũng suýt soát 80 rồi còn gì.

- Tám mươi mốt tuổi và còn thêm nửa tuổi nữa đấy.

- Thêm hai tuần nữa chứ?

- Ba tuần, thưa ông Phi-se.

Người dịch: Nguyễn Thụy Láng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Xta-nhi-xlap Ga-ga-rin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.