Quyền tư lệnh Đào mhìn đăm đăm vào tấm bản đồ suy nghĩ một lát rồi quay về phía tư lệnh quân tình nguyện:
- Báo cáo anh! Chúng tôi hiện chỉ có một đại đội xe tăng và một đại đội thiết giáp bánh hơi, mỗi thứ có ưu điểm và nhược điểm riêng. Tuy nhiên qua rút kinh nghiệm từ trận Tà Mây- Làng Vây chúng tôi đã đúc rút ra một nguyên tắc trong sử dụng xe tăng là phải sử dụng tập trung trên hướng chủ yếu và mục tiêu chủ yếu. Có như vậy mới phát huy cao nhất được những ưu điểm và tăng khả năng đột phá của xe tăng. Vì vậy đề nghị anh nghiên cứu lại, có lẽ ta nên sử dụng tập trung cho hướng chủ yếu thôi.
Tư lệnh quân tình nguyện lắc đầu:
- Không được! Như tôi đã nói ở trên, cả hai hướng chúng đều tổ chức phòng ngự khá vững chắc nên tôi mới cần đến sự đột phá của các anh chứ.
Quyền tư lệnh Đào cố bảo vệ ý kiến của mình:
- Tất nhiên có xe tăng đi cùng thì khả năng đột phá sẽ cao hơn nhưng theo tôi nếu ta sử dụng tập trung trên hướng đường Bảy tốc độ tiến công sẽ cao hơn cũng sẽ hỗ trợ được cho hướng kia.
Tư lệnh quân tình nguyện dứt khoát:
- Không dài dòng nữa! Anh muốn làm thế nào thì làm nhưng trên cả hai hướng chiến dịch đều phải có xe tăng. Đó là mệnh lệnh đấy!
Biết là không thể tranh luận được với người chỉ huy cao nhất ở chiến trường này nên sau một lát tính toán quyền tư lệnh Đào đành chấp nhận:
- Vậy thì tôi sẽ cho biên chế lại hai đại đội trên thành hai đại đội hỗn hợp để sử dụng trên hai hướng. Như vậy mỗi đại đội sẽ gồm một trung đội xe tăng và một trung đội xe thiết giáp. Tuy nhiên tôi sẽ ưu tiên hơn cho hướng chủ yếu. Anh thấy thế có được không?
Tư lệnh quân tình nguyện tươi cười:
- Như thế mới được chứ! Anh cứ thế mà làm, anh em ở các đơn vị rất mong có xe tăng đấy!
Quyền tư lệnh Đào đứng dạy:
- Nếu anh đã đồng ý vậy thì tôi sẽ truyền đạt ngay xuống đơn vị để anh em tổ chức lại đội hình. Còn tôi thì xin phép anh đêm nay tôi sẽ đến sở chỉ huy chiến dịch để nắm tình hình cụ thể.
Tư lệnh quân tình nguyện gật đầu:
- Tôi đồng ý! Anh Hữu tư lệnh chiến dịch đang ở trên đó. Anh lên đấy và bàn bạc cụ thể với anh ấy về cách sử dụng sao cho hiệu quả nhất.
Bắt chặt tay người chỉ huy quân tình nguyện quyền tư lệnh Đào quày quả trở về chỗ của mình. Mặc dù không thật thoải mái lắm với quyết định đó nhưng ngay lập tức ông viết điện thông báo ý định của chiến dịch cho đoàn 195, yêu cầu 195 tổ chức lại đội hình và nhờ thông tin của mặt trận gửi đi trong phiên liên lạc sớm nhất.
Ngay đêm hôm đó quyền tư lệnh Đào đã có mặt tại sở chỉ huy chiến dịch 139. Đó là một cái hang nằm trên sườn một ngọn núi ở khoảng giữa đường số Bốn và đường số Bảy. Từ đây có thể quan sát bao quát cả một vùng rộng lớn của Cánh Đồng Chum. Khi nghe ông báo cáo về ý định sử dụng tăng thiết giáp trên hai hướng chiến dịch tư lệnh Lê Đức Hữu hoàn toàn đồng ý, ông cũng đồng ý sẽ cử một trợ lý thông thạo địa hình khu vực này dẫn người chỉ huy xe tăng đi trinh sát thực địa.
Mặc dù đã biết đến Cánh Đồng Chum qua sách vở nhưng quyền tư lệnh Đào vẫn thấy choáng ngợp trước khung cảnh hùng vĩ và có phần huyền bí của cao nguyên này. Những đồi cỏ bằng phẳng nối nhau chạy dài đến hút tầm mắt, xung quanh được bao bọc bởi những rừng thông hàng trăm tuổi lúc nào cũng tỏa ra một mùi thơm khó tả rất dễ chịu. Trên một số ngọn đồi đó có những chiếc chum nằm tập trung thành từng cụm. Những chiếc chum hình trụ được làm bằng đá, đục đẽo thô sơ, cái to cao ngập đầu người, cái nhỏ chỉ bằng cái cối đá lỗ đặt dựng đứng giữa đất trời bao la chẳng biết để làm gì? Có lẽ vì vậy mà người ta gọi đây là Cánh Đồng Chum. Người trợ lý trinh sát của mặt trận giới thiệu:
- Báo cáo các đồng chí! Trước mặt chúng ta là Cánh Đồng Chum, phía bên trái ta có đường số Bảy chạy từ đông sang tây qua trung tâm Cánh Đồng Chum đến Mường Sủi. Bên tay phải chúng ta là đường số Bốn chạy men theo rìa phía bắc Cánh Đồng Chum qua Noọng Pẹt đến Bản Khai và gặp đường số Bảy ở Mường Sủi. Tại trung tâm Cánh Đồng Chum có khoảng 20 tiểu đoàn địch đồn trú, có sân bay dã chiến và một trận địa pháo.
Ngay từ khi nhìn thấy nơi này quyền tư lệnh Đào đã nhận xét đây là nơi có địa hình tương đối bằng phẳng, ít bị chia cắt, chất đất cứng chắc, độ dốc thấp,... Ông quay lại hỏi hai trợ lý của mình:
- Các cậu có thấy đây là nơi có thể sử dụng xe tăng rất tốt không?
Hai trợ lý ngơ ngác nhìn nhau. Hình như họ chẳng quan tâm đến địa hình mà đang bị những chiếc chum đá huyền bí mê hoặc, lúc ông Đào hỏi họ đang mải tranh luận về nguồn gốc cũng như công dụng của chúng. Quyền tư lệnh Đào hơi gắt:
- Các cậu hay nhỉ! Đi trinh sát hay đi khảo cổ đấy?
Trợ lý tác chiến Phùng tỏ vẻ biết lỗi, anh thanh minh:
- Xin lỗi tư lệnh! Chúng tôi biết vậy nhưng quả thật những chiếc chum đá này nó có một cái gì đó huyền bí mà chúng tôi không dứt ra được.
Quyền tư lệnh Đào hỏi người trợ lý trinh sát:
- Đồng chí ở đây lâu có biết gì về nguồn gốc của những chiếc chum này thì giải thích cho họ đi.
Đến lượt người trợ lý trinh sát bẽn lẽn:
- Thực ra chúng tôi cũng có hỏi bà con quanh đây nhưng không ai trả lời cho thật chính xác, họ chỉ bảo nghe già làng truyền lại thế này, thế nọ nhưng rất khác nhau nên chẳng biết cái nào đúng, cái nào sai.
Quyền tư lệnh Đào rành rẽ:
- Có thể nói đây là dấu tích của một nền văn minh đã phát triển ở một mức độ khá cao. Nền văn minh đó đã tồn tại ở đây từ hàng ngàn năm trước nhưng rất có thể đã bị tuyệt diệt nên không để lại văn tự nói về nguồn gốc những chiếc chum này. Hiện nay có nhiều giả thuyết về nguồn gốc và công dụng của chúng, tuy nhiên giả thuyết có sức nặng nhất là những chiếc chum này dùng để lưu giữ hài cốt của những người đã khuất của bộ tộc chủ nhân vùng đất này. Khi phát hiện ra chúng người ta vẫn còn thấy còn rất nhiều xương người trong đó.
Trợ lý Phùng ngạc nhiên:
- Sao tư lệnh lại biết rõ thế ạ?
Quyền tư lệnh Đào hơi giễu cợt:
- Tại sao à? Tại sách đấy! Cậu về đọc lại cuốn Vòng quanh thế giới của Nhà xuất bản Phổ thông có trong thư viện ấy- Ông trở lại cái giọng trì chiết mỗi khi không hài lòng- Cứ rỗi ra một cái là cờ tướng, tú- lơ- khơ thì còn biết cái gì nữa.
Hai chàng trợ lý có vẻ xấu hổ, dù sao thì quyền tư lệnh Đào cũng “đánh trúng” điểm yếu của họ. Phùng vội giở bản đồ ra đánh đấu điểm đứng vào rồi lấy ống nhòm ra quan sát, anh thốt lên đầy mừng rỡ:
- Báo cáo tư lệnh! Ở đây có thể sử dụng xe tăng để đánh lớn được.
Quyền tư lệnh Đào cười:
- Cái đó để tính sau. Còn bây giờ trong tay anh chỉ có hai đại đội thôi đấy.
Mấy thầy trò còn đi tiếp đến một vài điểm nữa rồi mới trở về sở chỉ huy. Vừa thấy mặt ông tư lệnh chiến dịch đã thông báo:
- Trên đã cho phép ta bắt đầu đợt Hai chiến dịch. Tôi định đêm nay nổ súng đánh Noọng Pẹt. Anh thấy có được không?
Quyền tư lệnh Đào gật đầu:
- Tôi không có ý kiến gì. Bên tôi anh em đã vào vị trí tập kết từ hôm kia, đã đi trinh sát thực địa và hiệp đồng chiến đấu với bộ binh rồi nên không có gì khó khăn cả.
Tư lệnh chiến dịch phấn khởi:
- Thế thì tốt rồi. Bây giờ đề nghị các anh thông báo cho đơn vị của mình. Chiều nay ta sẽ di chuyển ra sở chỉ huy phía trước. Nửa đêm sẽ nổ súng.
Quyền tư lệnh Đào quay về hầm bảo trợ lý Phùng:
- Đồng chí điện báo cho anh Sỹ đang đi với đại đội Hai: đêm nay ta sẽ tham gia đánh Noọng Pẹt. Nhắc anh em hiệp đồng lại với bộ binh thêm một lần nữa. Thời gian cụ thể do bên bộ binh thông báo.
Đêm hôm đó tại sở chỉ huy phía trước quyền tư lệnh Đào háo hức như trẻ lại hàng chục tuổi. Thế là cái mong muốn được trực tiếp chỉ huy, được tận mắt chứng kiến bộ đội của mình chiến đấu sắp thành hiện thực, ông không rời chiếc đài vô tuyến điện 2 oát đang để ở chế độ thu canh lấy một phút.
Đúng 23 giờ bắt đầu hỏa lực chuẩn bị. Những loạt đạn pháo tầm xa bay qua đầu sở chỉ huy cứ rít lên veo véo rồi rót xuống cứ điểm địch, từng cụm chớp lửa lóe lên cùng những tràng tiếng nổ dội về. Từ trong tai nghe của đài 2 oát quyền tư lệnh Đào nghe rõ tiếng trung đoàn phó Sỹ ra lệnh cho đại đội 2 xuất kích lên chiếm tuyến triển khai, tiếng đại đội trưởng nhận đủ rồi ra lệnh cho các trung đội. Mọi thứ có vẻ sẽ được thực hiện đúng như kế hoạch.
Bọn địch trong cứ điểm cũng như trong hệ thống phòng thủ Cánh Đồng Chum ngay lập tức có phản ứng. Đầu tiên là trận địa pháo của địch ở trung tâm Cánh Đồng Chum lên tiếng. Chúng liên tục bắn dọc theo đường số Bốn để ngăn chặn việc cơ động lực lượng của ta. Chừng mười phút sau đến lượt không quân địch tham chiến. Có đến ba, bốn tốp máy bay đến bắn pháo sáng, ném bom, bắn đại liên xuống xung quanh cứ điểm Noọng Pẹt và cả xung quanh khu vực sở chỉ huy phía trước. Quyền tư lệnh Đào đặt chiếc đài 2 oát lên thành hầm rồi đứng hẳn dậy chăm chú quan sát. Từ trong tai nghe ông đã thấy tiếng của đại đội trưởng đang lệnh cho các trung đội phát hiện mục tiêu tiêu diệt. Ông tin rằng chỉ một lát nữa thôi ông sẽ nhìn thấy những chớp lửa đầu nòng của pháo 76 ly và những chiếc xe tăng đang hùng dũng lao vào cứ điểm địch.
Nhưng ông đã không kịp nhìn thấy những cái đó. Một chớp lửa nháng lên trong căn hầm sở chỉ huy. Quyền tư lệnh Đào lịm đi và không biết gì nữa.
Vị trí tập kết của đại đội 1 tiểu đoàn 195 nằm trong một khu rừng thông còn nguyên vẹn cách đường số Bảy chừng hơn một ki- lô- mét, bên cạnh đó là bệnh viện dã chiến của Quân tình nguyện Việt Nam. Nằm ở đây từ hơn ba ngày chính ủy Võ đã cho bộ đội đi bắt liên lạc với đoàn bộ binh Bông Lau là đơn vị mà họ sẽ đến phối thuộc. Sau khi nhận nhiệm vụ về đơn vị đã tổ chức cho cán bộ đi trinh sát thực địa và tiến hành mọi mặt công tác chuẩn bị chiến đấu. Theo kế hoạch của mặt trận, sau khi giải phóng Noọng Pẹt mở thông đường số Bốn thì cả hai hướng sẽ đồng loạt tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum.
Gần sáng nay nhận được tin của trung đoàn phó Sỹ báo về “Noọng Pẹt đã được giải phóng” chính ủy Võ nghĩ bụng: “chỉ một, hai hôm nữa sẽ đến lượt đại đội 1 vào trận” nên sáng nay anh muốn xuống tranh thủ kiểm tra lại một lần nữa công tác chuẩn bị của đơn vị. Vì vậy vừa mới sáng ra anh đã gọi chính trị viên tiểu đoàn Bùi Văn:
- Cậu đi với tớ xuống đại đội 1 kiểm tra công tác chuẩn bị thêm một lần nữa.
Không khí buổi sáng trong rừng thông thật dễ chịu mặc dù trời hơi lạnh. Hai anh em vừa đi vừa nói chuyện, chủ đề chính là chiến thắng đêm qua của đại đội Hai. Cả hai đều tin rằng “đầu đã xuôi thì đuôi sẽ lọt” nên hy vọng đại đội 1 sắp tới cũng sẽ chiến thắng giòn giã. Một tốp chiến sĩ đi ngược chiều với bọn họ từ phía bệnh viện dã chiến ra, người nào người nấy trông hết sức mệt mỏi. Đang mải câu chuyện chính ủy Võ vẫn lõm bõm nghe câu được, câu chăng của mấy chiến sỹ: “bom đánh trúng hầm”, “mất máu nhiều lắm, không biết có kịp không?”, “nặng nhất là ông tư lệnh thiết giáp”. Chính ủy Võ vội túm lấy một chiến sĩ giật giọng hỏi:
- Các đồng chí nói gì? Tư lệnh thiết giáp làm sao?
Người chiến sĩ giương đôi mắt nhìn chính ủy Võ như nhìn một vật thể lạ, một lát sau anh ta mới mệt mỏi trả lời:
- Các đồng chí không biết à? Bom đánh trúng hầm sở chỉ huy! Cả tư lệnh chiến dịch, tư lệnh thiết giáp đều bị thương. Bọn tôi vừa mới khiêng các ông ấy vào viện đấy.
Có vẻ như sét đánh ngang tai cũng không làm cho chính ủy Võ giật mình bằng nghe tin này, anh vội kéo Bùi văn:
- Vào ngay bệnh viện xem thế nào đã.
Hai anh em vừa đi vừa chạy gằn vào khu vực bệnh viện dã chiến, họ lao thẳng vào hầm cấp cứu. Ở trong đó các bác sĩ, y tá đang hối hả cấp cứu mấy ca bị thương vừa được chuyển tới. Chính ủy Võ xông thẳng vào cửa hầm, một y tá cản anh lại:
- Các đồng chí để cho chúng tôi làm việc chứ! Mấy ca này nặng lắm, lại chuyển từ xa về đây nên nếu không nhanh sẽ nguy hiểm đến tính mạng anh em.
Chính ủy Võ biết anh ta nói có lý nên đành đứng ngoài ngó vào, ruột nóng như lửa đốt. Trong lúc đó Bùi văn đã xán lại gần người y tá trực:
- Đồng chí cho biết trong số thương binh vừa mới chuyển về có ai là Vũ Huy Đào không?
Người y tá trực lật mấy tờ giấy viết tay bằng thứ chữ rất nguyệch ngoạc vừa lẩm bẩm đọc rồi anh ta rút ra một tờ:
- Có đây! Vũ Huy Đào, tư lệnh thiết giáp!
Giật lấy tờ giấy trong tay người y tá Bùi Văn như không tin vào mắt mình. Anh chạy lại chỗ chính ủy Võ:
- Đúng là tư lệnh Đào bị thương rồi anh ạ! Giấy chứng thương đây này.
Chính ủy Võ đón lấy tờ giấy, anh lẩm nhẩm đọc:
- Bị bom đánh trúng hầm. Vết thương vùng ngực, mặt. Nghi gãy xương sườn, thủng phổi, hỏng mắt trái.
Thế là đúng rồi! Quyền tư lệnh Đào đã bị thương mà xem ra vết thương khá nặng. Lại còn mấy anh em đi cùng với anh ấy nữa, có ai bị làm sao không? Ruột gan chính ủy Võ rối như tơ vò, anh hết đứng lên ngó vào trong hầm lại ngồi xuống khúc gốc cây gục mặt vào đầu gối.
Chừng nửa tiếng sau việc cấp cứu đã xong, thương binh đang được chuyển ra. Hai anh em đứng ngay cửa hầm cấp cứu nhưng cũng không thể nhận ra ai vào với ai vì tất cả đều băng bó kín cả mặt mũi, họ đành theo các cáng thương về hầm điều trị. Nhưng cũng phải nhờ đến các đồng chí y tá họ mới biết quyền tư lệnh Đào đang nằm chỗ nào. Nhìn quyền tư lệnh Đào nằm bẹp dí trên chiếc cáng, một vòng băng cuốn chặt quanh đầu và nửa khuôn mặt chỉ để hở cái mũi, cái miệng và một bên gò má chính ủy Võ thấy xót xa: “kiểu này chắc anh ấy sẽ mất đôi mắt”. Mặc dù cũng đã có nhiều lần va chạm, thậm chí to tiếng với nhau song chính ủy Võ vẫn luôn quý mến và tôn trọng người đồng đội, tuy có khắt khe, ác khẩu nhưng bụng dạ chẳng có gì. Lật tấm vỏ chăn trên người ông Đào ra hai anh em lại sững sờ: ông đang ở trần, một vòng băng trắng cuốn quanh lồng ngực đang phập phồng thở từng hơi ngắn và khó nhọc. Đặt một tay lên cánh tay phải còn khá lành lặn của quyền tư lệnh Đào anh gọi nhỏ bằng cái giọng miền nam hơi nằng nặng:
- Anh Đào! Anh Đào! Anh có nhận ra tôi không?
Im lặng. Không một dấu hiệu nào cho thấy có sự nhận biết. Bùi Văn đứng cạnh đang sụt sịt:
- Không biết anh ấy có qua được không?
Bác sĩ viện trưởng đã đứng đằng sau hai người từ lúc nào không biết, anh chậm rãi:
- Đồng chí ấy và đồng chí tư lệnh chiến dịch đều bị thương khá nặng, giờ đều đang hôn mê. Các anh đừng gọi anh ấy nữa!
Chính ủy Võ cầm tay bác sĩ viện trưởng:
- Liệu anh ấy có qua khỏi được không, bác sĩ?
Người bác sĩ im lặng một lát rồi mới trả lời:
- Cũng không biết thế nào mà nói trước được. Chúng tôi đã cố gắng hết sức nhưng khả năng của bệnh viện cũng có hạn. Vì vậy chúng tôi đã điện về bên nhà xin trực thăng để đưa hai đồng chí này về 108 ngay. Không biết có kịp không?
Đúng lúc ấy cậu công vụ của chính ủy Võ lao tới, cậu ta hớt hơ hớt hải vừa thở vừa nói:
- Báo cáo... thủ trưởng! Mời... thủ trưởng về... ngay. Mặt trận có điện gửi thủ trưởng ạ.
Chính ủy Võ sững sờ:
- Điện thế nào? Đồng chí có biết không?
Người chiến sĩ đã bớt thở:
- Em không biết ạ! Chỉ thấy báo về bộ tư lệnh mặt trận gấp.
Chẳng còn cách nào hơn là về ngay, chính ủy Võ nắm lấy bàn tay người bác sĩ viện trưởng:
- Thôi thì trăm sự nhờ các đồng chí! Đấy là thủ trưởng của chúng tôi đấy. Tư lệnh binh chủng thiết giáp đấy.
Người bác sĩ viện trưởng ôn tồn:
- Các anh cứ yên tâm! Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng.
Bước thấp bước cao về đến chỗ trú quân chính ủy Võ vội liên lạc với bộ tư lệnh mặt trận. Thì ra trên ấy yêu cầu anh về ngay để thay quyền tư lệnh Đào làm đại diện xe tăng bên cạnh Bộ tư lệnh chiến dịch. Vừa chuẩn bị ba lô anh vừa dặn chính trị viên Bùi Văn:
- Cậu ở đây thay thế vị trí của tôi bên cạnh chỉ huy của trung đoàn bộ binh. Ngày hôm nay phải xuống kiểm tra lại một lần nữa công tác chuẩn bị chiến đấu của đơn vị. Nhớ phổ biến tin chiến thắng Noọng Pẹt cho anh em phấn khởi. Còn chuyện tư lệnh bị thương thì thôi khoan hãy nói. Bây giờ tôi phải đi đây. Chúc mạnh khỏe và chiến thắng nhé!
Bùi Văn đưa cả hai tay bắt tay chính ủy Võ:
- Anh cứ yên tâm! Tôi sẽ cố gắng!
Đứng dõi theo hai thày trò chính ủy Võ đang rảo bước trên con đường mòn một lúc anh cũng quay lại với những công việc bộn bề đang chờ mình.
Đến Bộ tư lệnh mặt trận việc đầu tiên mà chính ủy Võ làm là hỏi tin tức của mấy anh em trợ lý đi cùng quyền tư lệnh Đào. Ông thở phảo nhẹ nhõm khi biết không ai vệc gì vì lúc ấy họ đang ở hầm khác, tất cả vẫn đang ở lại sở chỉ huy dự bị của chiến dịch để chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo.
Tư lệnh quân tình nguyện đón chính ủy Võ bằng vẻ mặt hơi buồn, ông ngậm ngùi:
- Thật không may! Trận đánh vừa mới bắt đầu được vài phút thì sở chỉ huy đã bị trúng bom. Cả hầm hy sinh và bị thương gần hết. May là anh Đào và anh Hữu chỉ bị thương. Đêm nay máy bay trực thăng ở bên nhà sẽ sang đón các anh ấy về 108 điều trị, không biết có kịp không?- Ông chuyển sang giọng vỗ về- Thôi anh ạ! Chiến tranh mà, bom đạn nó có tránh ai đâu. Từ hôm nay anh sẽ thay anh Đào làm đại diện xe tăng tại sở chỉ huy chiến dịch. Rất mong anh động viên bộ đội phát huy kết quả thắng lợi trận đánh vừa qua để hoàn thành mục tiêu của chiến dịch.
Chính ủy Võ vội trả lời:
- Anh cứ yên tâm! Về ý định sử dụng xe tăng của 195 trong chiến dịch này anh Đào đã phổ biến cho tôi từ trước nên tôi đã nắm chắc rồi, chúng tôi sẽ dựa vào đó và căn cứ tình hình thực tế để thực hiện.
Tư lệnh quân tình nguyện gật đầu:
- Vì bọn địch đang hoang mang sau khi ta giải phóng Noọng Pẹt nên chúng tôi dự định nổ súng tiến công Cánh Đồng Chum chậm nhất là đêm 17 rạng sáng 18 tháng Hai. Vì vậy đề nghị anh thu xếp để xuống sở chỉ huy chiến dịch ngay. Tôi sẽ cho người dẫn đường.
Chính ủy Võ đứng dạy:
- Vậy tôi xin phép về để chuẩn bị lên đường.
Mặc dù là một cán bộ chính trị nhưng Võ đã được đào tạo rất cơ bản về xe tăng tại nước ngoài nên công việc chỉ huy xe tăng chiến đấu cũng không quá xa lạ đối với anh. Đã đi theo cùng đơn vị từ bên nhà sang đến đây nên anh biết tình hình tư tưởng, ý chí quyết tâm của bộ đội cũng như tình trạng kỹ thuật của trang bị rất tốt. Điều duy nhất làm anh lo lắng nhất bây giờ là việc trinh sát nắm địa hình và địch của các đơn vị còn khá sơ sài, chủ yếu là trên bản đồ và quan sát từ xa. Mà ở đây chiều sâu phòng ngự của địch khá lớn nên chắc chắn quá trình tiến công vào trung tâm sẽ gặp nhiều khó khăn. Vừa đi anh vừa tính toán những giải pháp tốt nhất để khắc phục tình trạng trên nên cảm thấy quãng đường đến sở chỉ huy chiến dịch dường như rất ngắn.
Sở chỉ huy chiến dịch lần này được đặt trong một hang núi gần Bản Ang, nơi có nhiều chum đá nhất ở đây. Hình như hang núi này là nơi người bản địa ở đây dùng để tiến hành các nghi lễ trước khi mai táng người chết nên còn khá nhiều những di vật liên quan đến tế lễ và xương người. Vốn là người không mê tín nhưng chính ủy Võ vẫn lầm rầm:
- Cầu mong linh hồn các bậc tiền nhân phù hộ độ trì cho con cháu nhanh đánh đuổi hết bọn xâm lược và phản động ra khỏi đất nước này.
Được tin chính ủy Võ thay quyền tư lệnh Đào đã có mặt tại sở chỉ huy mấy trợ lý vội đến gặp, mấy anh em tay bắt mặt mừng. Chính ủy Võ bắt tay từng người rồi thân mật:
- Thôi, các cậu ạ! Trong cái rủi có cái may, mấy anh em cậu không ai việc gì là tốt rồi, còn anh Đào cũng chỉ bị thương. Đêm nay máy bay sẽ sang đón anh ấy về bên nhà điều trị, các cậu cứ yên tâm.
Trợ lý Phùng vẫn băn khoăn:
- Lúc thủ trưởng Đào bị tôi thấy nặng lắm, cả một nửa người bên trái từ đầu xuống đến chân bê bết máu
Võ vội trấn an:
- Trước khi xuống đây tớ đã kịp vào bệnh viện dã chiến thăm anh ấy, cũng không nặng lắm đâu, chắc sẽ qua khỏi thôi- Võ giấu biệt tình trạng rất xấu của quyền tư lệnh Đào.
Tư lệnh chiến dịch cho người xuống mời Võ đến gặp. Vừa gặp nhau anh đã thông báo rất ngắn gọn:
- Trên đã quyết định 2 giờ sáng mai ta sẽ nổ súng. Rất may là anh đã đến kịp.
Võ bắt tay người đồng đội mới, anh gật đầu:
- Đồng chí tư lệnh mặt trận đã cho tôi biết rồi. Bên tôi anh em cũng đã sẵn sàng, chỉ chờ lệnh của chiến dịch mà thôi.
Tuy nhiên trận đánh đã không diễn ra theo đúng kế hoạch. Khi xe tăng đang cơ động theo đường số Bảy thì vẫn còn giữ được liên lạc với sở chỉ huy. Qua làn sóng điện Võ biết đại đội 1 đang bị máy bay địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt song vẫn vừa dùng 12 ly 7 bắn máy bay vừa cơ động đến vị trí điều chỉnh. Nhưng rồi từ đó trở đi thì trong tai nghe chiếc đài 2 oát không còn nghe thấy gì ngoài những tiếng rào rào, xẹt xẹt. Áp chặt cái tổ hợp vào tai Võ hy vọng sẽ nghe được một cái gì đó ngoài những tiếng rào nhưng vô vọng, lòng anh nóng như lửa đốt. Các trợ lý bên cạnh cũng vậy, tất cả nín lặng dõi theo từng thay đổi nhỏ trên gương mặt người chỉ huy. Nhìn đồng hồ đã gần đến giờ nổ súng Võ lắc đầu:
- Vẫn không có tín hiệu gì cả! Chẳng lẽ lại bị... – Anh bỏ dở câu nói.
Trợ lý Phùng phán đoán:
- Lần cuối cùng nghe thấy tín hiệu là lúc đại đội đã gần đến vị trí điều chỉnh rồi. Chỗ đó hơi thấp so với xung quanh nên khá an toàn, nhưng có lẽ vì thấp quá nên rơi vào vùng chết, sóng cực ngắn không liên lạc được. Thủ trưởng cứ bình tĩnh đợi xem thế nào!
Đã quá giờ nổ súng theo hiệp đồng mà vẫn không thấy động tĩnh gì. Sở chỉ huy cũng không liên lạc được với trung đoàn bộ binh trên hướng chủ yếu, chắc là đường dây hữu tuyến đã bị máy bay địch đánh đứt. Bây giờ chỉ còn trông vào hiệp đồng của các đơn vị mà thôi. Tất cả hầu như bất lực!
2 giờ 35 phút, một loạt tiếng nổ dậy lên ở trung tâm Cánh Đồng Chum. Có vẻ như pháo binh mặt trận đang bắn chuẩn bị. Không khí sở chỉ huy chiến dịch sôi động hẳn lên. Tuy nhiên liên lạc với các hướng đều vẫn chưa khôi phục được.
Võ vẫn áp chặt tổ hợp vào tai, mắt anh bỗng sáng rực lên:
- Thấy tín hiệu rồi! Đại đội 1 đã bắt đầu xung phong.
Cả sở chỉ huy xúm lại bên chiếc đài 2 oát. Chính ủy Võ hét vào tổ hợp:
- Sở chỉ huy gọi 01! Báo cáo tình hình cụ thể về ngay!
Từ trong tai nghe của tổ hợp vang lên những tiếng nói bập bõm, rời rạc:
- 01 báo cáo! Trên đường cơ động... bị... đánh cháy ... xe. Còn 4 xe...- Tiếng nói bỗng tắt lịm đi.
Chính ủy Võ vẫn áp cái tổ hợp vào tai, miệng thông báo cho mọi người:
- “Xê Một” báo cáo trên đường cơ động bị máy bay đánh cháy 2 xe, còn 4 xe nhưng lại “tịt ngóp” rồi.
Mấy anh em lại nghển cổ nhìn ra ngoài. Từ khu vực sân bay vang lên đủ loại tiếng nổ, chủ yếu là tiếng súng bộ binh của địch. Nhưng trong cái mớ âm thanh hỗn độn ấy vẫn nghe vang lên tiếng pháo 76 ly trầm đục và những loạt trọng liên 12 ly 7 đanh chắc. Phùng đoán:
- “Xê Một” đang đánh vào sân bay rồi. Các anh có nghe tiếng pháo và 12 ly 7 không?
Bỗng trong tai nghe lại vang lên tiếng nói gấp gáp của chính trị viên đại đội Nguyễn Huy Cậy, trưởng xe 514:
- 14 báo cáo sở chỉ huy! 3 xe đã bị mìn ở ngoài hàng rào, còn một mình 14 đã vào trong cứ điểm. Xin chỉ thị!
Trong lòng chính ủy Võ rối như tơ vò: chỉ còn một xe của chính trị viên phải đối mặt với một lực lượng địch lớn gấp nhiều lần, lệnh cho anh em đánh tiếp thì cầm chắc đến chín phần hy sinh, chỉ còn một phần sống. Nhưng không đánh nữa thì sẽ không hoàn thành nhiệm vụ. Võ bóp công tắc phát hỏi lại:
- Sở chỉ huy gọi 14! Có bắt được liên lạc với bộ binh không? Có những ai đi cùng 14?
Tai nghe lặng đi một lát rồi lại vang lên tiếng của chính trị viên Cậy:
- 14 báo cáo! Không bắt được liên lạc với bộ binh. Trên xe hiện có 4 chiến sĩ công binh và 1 chiến sĩ Pa- thét Lào. Vũ khí tốt, đạn còn nhiều, có thể tiếp tục chiến đấu được! Báo cáo hết!
Võ đứng lặng đi suy nghĩ. Chợt nhớ đến trận Tà Mây chỉ có một xe 555 vào được cứ điểm mà cũng làm địch hoảng sợ phải bỏ chạy anh đi đến một quyết định táo bạo:
- Sở chỉ huy gọi 14! Tiếp tục chiến đấu. Phát huy cả hỏa lực và xung lực để diệt địch! Nhận đủ trả lời!
Từ trong tai nghe vang lên giọng Cậy nhanh và dứt khoát:
- 14 nhận đủ!
Những tiếng nổ của pháo 76 ly và trọng liên 12 ly 7 lại vang lên từng chặp. Tiếng súng các loại của địch bắn trả điên cuồng. Trên trời một tốp máy bay lại xuất hiện, chúng tung ra hai quả pháo sáng và liên tục nhào xuống cắt bom, bắn đại liên. Trận chiến đấu kéo dài cho đến gần sáng, chợt trong tai nghe tổ hợp lại vang lên tiếng nói nhưng không phải tiếng chính trị viên Cậy:
- Báo cáo! Xe trúng đạn, chính trị viên Cậy bị thương. Địch đã bỏ chạy gần hết! Xin chỉ thị!
Chính ủy Võ bóp công tắc phát hối hả:
- Sở chỉ huy gọi 14! Xe còn chạy được không? Đạn còn không? Đồng chí là ai?
Tiếng trả lời:
- 14 báo cáo! Xe pháo còn tốt, đạn còn hơn chục viên, tôi là Thản kỹ thuật viên đại đội. Bọn địch đang hoảng loạn, xin phép cho chúng tôi tiếp tục truy kích!
Võ hơi bối rối: chỉ còn một xe, đạn gần hết, trưởng xe lại bị thương, đánh nữa sẽ hết sức nguy hiểm. Nhưng đây cũng là một thời cơ hiếm có, bỏ qua chưa biết đến khi nào mới lặp lại. Anh kiên quyết:
- Sở chỉ huy gọi 14! Tiếp tục truy kích địch! Nhận đủ trả lời!
Từ tai nghe tổ hợp vang lên:
- 14 nhận đủ!
Lại những tiếng nổ loạn xạ vọng về. Một lúc sau tiếng Thản vang lên trong tổ hợp:
- 14 báo cáo! Địch đã rút chạy hết khỏi khu trung tâm! Xin chỉ thị!
Võ mừng rỡ. Ngay lập tức anh hét vào ống nói:
- 14 rời khỏi trận địa về Bản Len! Chú ý ngụy trang tránh máy bay địch. Nhận đủ trả lời!
Tiếng trả lời vọng về rất nhanh:
- 14 nhận đủ!
Võ dứt cái tổ hợp ra khỏi đầu, anh thở ra một hơi dài. Trong sở chỉ huy mọi người cùng thở phào nhẹ nhõm.
Diễn biến tiếp theo của trận đánh thật không ai ngờ tới: ngay sáng hôm sau hàng đoàn máy bay lên thẳng kéo tới bốc hết tàn quân bay thẳng về Long Chẹng. Cánh Đồng Chum được giải phóng hết sức bất ngờ. Có lẽ chúng sợ quân ta sẽ mở đợt tiến công tiếp theo ngay đêm đó nên rút trước là hơn. Tư lệnh chiến dịch bắt tay Võ:
- Xin cảm ơn các anh! Tôi thật không ngờ chỉ một cái xe tăng mà làm cho địch hoảng sợ đến vậy.
Võ gật gật đầu nhưng không nói gì. Anh biết rằng lúc này mà mở miệng nhất định anh sẽ không dừng lại được: bộ binh của các anh ở đâu mà để xe tăng chúng tôi đơn độc chiến đấu? Còn công binh ở đâu mà không dò gỡ mìn để đến nỗi ba xe tăng bị hỏng ngay ngoài hàng rào? vv... và vv....
Câu hỏi đó còn trở đi trở lại mãi trong đầu Võ. Như vậy vấn đề hiệp đồng chiến đấu giữa bộ binh, công binh với xe tăng vẫn còn là một vấn đề nan giải. Tuy nhiên trận đánh này cũng chứng tỏ một điều: xe tăng nếu được tăng cường một lực lượng thích hợp đi cùng thì hoàn toàn có thể độc lập tác chiến được.
Cái Tết năm nay của nhà bà Hạnh có phần vui vẻ hơn mọi năm. Sự vắng mặt của ông Đào trong những ngày Tết đã trở thành bình thường. Thì từ khi lấy nhau đến nay đã hơn hai chục năm nay ông cũng mới có hai lần ăn Tết ở nhà cùng vợ con, còn lại cứ biền biệt suốt. Hết chín năm kháng chiến chống Pháp đến ba năm đi học nước ngoài, về nước được hai năm thì lại xảy ra chiến tranh phá hoại. Tết này trước khi đi chiến trường ông cũng ghé về nhà được một buổi rồi thông báo ngắn gọn: “Tôi đi công tác xa, Tết này không về nhà được”. Nói Tết này nhà bà vui hơn là vì có đứa cháu ngoại con đầu lòng của Hường được mẹ đưa về ăn Tết với bà. Đứa bé đã được gần một tuổi trở thành trung tâm chú ý của cả nhà. Bận rộn hơn nhưng cũng vui vẻ, ấm cúng hơn. Vì vậy bà quyết định sẽ tổ chức bữa “hạ cây nêu” tươm tất hơn mọi năm. Thực ra từ lâu ở quê bà người ta đã thôi không trồng cây nêu vào dịp Tết nhưng vào mồng bảy Tết nhà nào nhà nấy vẫn sắm sửa cỗ bàn cúng các cụ, gọi là bữa “hạ cây nêu”.
Cỗ bàn đã được bày biện đầy đủ trên bàn thờ, bà Hạnh sửa lại đầu tóc rồi đứng trước bàn thờ khấn vái. Bà không biết khấn bằng chữ Hán nên cứ nôm na nghĩ thế nào nói thế ấy, đại khái mong tổ tiên phù hộ độ trì cho cả nhà mạnh khỏe, may mắn, con cháu học hành tấn tới, phù hộ cho ông ấy giữa nơi hòn tên, mũi đạn được bình yên trở về với gia đình. Ngoài sân cậu Hưng và các dì đang tranh nhau bắt đứa cháu đầu tập đi, chúng hò hét động viên thằng bé váng cả nhà. Khấn vái xong bà quay ra nhìn các con và đứa cháu cười hiền hậu.
Chợt một chiếc xe con đỗ xịch ngay trước ngõ. Thoáng nhìn qua bà biết ngay là xe cơ quan chồng. Từ trên xe trưởng ban cán bộ Hiệu bước xuống. Quái lạ, hôm 29 Tết chú ấy và bác Ngọc, bác Thu đã về chúc Tết gia đình rồi cơ mà! Bà chợt thấy một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng: “chắc ông ấy có việc gì?”.
Linh cảm của bà đã đúng, sau một hồi vòng vo rồi Hiệu cũng phải nói thật:
- Thưa chị! Vừa rồi đi công tác bên nước bạn anh Đào chẳng may bị ốm. Hiện anh đang nằm điều trị ở 108. Các thủ trưởng Bộ tư lệnh cho em về đón chị sang thăm và động viên anh ấy.
Bà Hạnh nước mắt vòng quanh:
- Anh ấy bị nặng lắm phải không chú?
Hiệu nói tỉnh bơ như không:
- Dạ! Cũng bình thường thôi, không nặng lắm đâu.
Mấy chị em con Hường đã nghe thấy hết mọi chuyện, chúng xúm vào đứng sau lưng mẹ. Bà Hạnh lấy lại vẻ bình tĩnh cất tiếng dõng dạc:
- Bố bị ốm, bây giờ Hưng và Hiển đi với mẹ sang thăm bố, còn chị Hường ở nhà cho các em ăn cơm. Chiều nay đứa nào vào việc ấy nhé!
Thấy bà định gói ít thức ăn mang đi Hiệu nhỏ nhẹ:
- Không cần đâu chị ạ. Bên ấy có đầy đủ các thứ rồi.
Bà quày quả ra xe, anh con rể và cậu con nuôi lẳng lặng theo sau. Mọi người vừa lên xe chiếc xe đã nổ máy nhằm hướng phà Chèm chạy nhanh.
Suốt dọc đường đi bà không hỏi thêm Hiệu câu nào vì bà biết rằng có hỏi cũng chỉ nhận được những câu trả lời như lúc nãy ở nhà nhưng bà biết chắc chắn là ông Đào không chỉ ốm xoàng. Lấy nhau giờ đã có bốn mặt con bà lạ gì cái tính gan lỳ, bảo thủ của ông ấy. Nếu ông ấy còn nói được chắc chắn không bao giờ cho đón mẹ con bà sang thăm. Như thế này có nghĩa là ông ấy đã “thập tử, nhất sinh” rồi.
Bệnh viện 108 vắng hoe, có lẽ các khoa phòng đã đi sơ tán cả chỉ còn một số bộ phận ở lại. Chiếc xe con chưa dừng hẳn bà Hạnh đã thấy ông Ngọc, ông Dương và ông Thu bước lại đón. Vừa bước xuống xe bà hỏi ngay:
- Ông ấy bị nặng lắm phải không? Cho tôi vào với ông ấy ngay!
Chính ủy Ngọc vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh thường ngày:
- Chị cứ bình tĩnh! Anh ấy bị cũng nặng nhưng nhờ được cấp cứu kịp thời, lại được máy bay chuyển về đây ngay nên đã qua cơn nguy kịch. Chị đợi một lát nữa để anh em người ta chăm sóc cho anh ấy xong rồi vào.
Tham mưu trưởng Dương, chủ nhiệm chính trị Thu cũng mỗi người một câu an ủi bà. Thực ra để đi đến quyết định về đón bà Hạnh sang mấy anh em ông cũng phải bàn bạc mãi. Tham mưu trưởng Dương và trưởng ban cán bộ Hiệu thì cho rằng cứ để ông Đào tương đối bình phục rồi hãy cho gia đình biết. Chủ nhiệm chính trị Thu thì ngược lại, trong thâm tâm ông lo quyền tư lệnh Đào không qua khỏi được nên ông kiên quyết đề nghị đón bà Hạnh sang ngay. Cuối cùng chính ủy Ngọc đã ngả theo ý kiến của ông Thu.
Các y tá đã đẩy chiếc xe chuyên dùng đi ra, chính ủy Ngọc chìa tay:
- Chị vào đi!
Bà Hạnh xăm xăm bước vào căn phòng trắng toát một màu lạnh lẽo. Trong phòng chỉ có mỗi một giường có người nằm lên bà đoán chắc đấy là chồng mình. Bà tiến lại gần. Hai chân bà bỗng rủn ra như muốn khụyu xuống. Hiển đi phía sau vội đưa tay đỡ và dìu mẹ vợ đến sát bên giường. Ngồi ghé xuống mép giường bà nhìn đăm đăm vào cái thân hình nhỏ nhoi như một đứa bé đang nằm bất động trước mặt: một vòng băng trắng cuốn gần kín cả đầu và mặt, một cái mặt nạ nhựa trong suốt chụp lên mũi, ló ra khỏi tấm chăn là một vòng băng từ bả vai trái xuống, một chai dịch truyền trong vắt treo ở đầu giường nối vào tay phải của ông bằng một ống nhựa đang rỉ rả từng giọt. Bà lay nhẹ vào bên vai còn lành lặn của ông:
- Ông Đào! Ông Đào!
Người bác sĩ trực nãy giờ vẫn đứng lặng im nay mới lên tiếng:
- Bác đừng gọi bác ấy nữa. Hiện giờ bác ấy vẫn đang hôn mê nên chưa biết gì đâu.
Bà Hạnh hỏi mà không quay đầu lại:
- Nhà tôi bị có nặng lắm không?
Người bác sĩ từ tốn:
- Thưa bác! Bác ấy bị thương vào đầu, mặt và ngực. Nhìn chung vết thương cũng không nặng lắm và hiện tại đã qua cơn nguy kịch. Bây giờ thì bác ấy còn hôn mê, chắc một hai ngày nữa sẽ tỉnh lại.
Bà Hạnh vẫn ngồi đăm đăm nhìn chồng. Hai mươi mấy năm lấy nhau thì hơn chục năm ông chinh chiến khắp các chiến trường, bị thương cũng đã mấy lần nhưng bà nào có biết. Thôi thì phận vợ bộ đội thời chiến chẳng biết thế nào mà nói trước được. Còn biết bao chị em khác đâu có được cái may mắn như bà. Nghĩ được như vậy bà đứng dạy cứng cỏi:
- Bây giờ mẹ ở lại đây chăm sóc bố. Hai anh em nhờ các chú đưa về rồi còn đi làm, đi học. Nhớ nói với Hường và các em là bố bị nhẹ thôi.
Đối với ông Đào thời gian nằm viện vừa dài lê thê vừa vô vị đến chán ngấy. Là con người của hành động lúc nào ông cũng phải có một việc gì đó để làm, để suy nghĩ, để học hỏi. Còn bây giờ nằm ở đây đã hơn tháng trời chẳng có việc gì mà làm, mà muốn làm gì cũng không được vì ngực và tay trái vẫn còn đau. Sách cũng không được đọc vì con mắt còn lại vẫn đau nhức và thị lực giảm khá nhiều. Bác sĩ bảo ông phải giữ gìn thật cẩn thận may ra mới hồi phục được. Chỉ còn mỗi cái đầu là không ai cấm được ông suy nghĩ thành ra chưa bao giờ ông có nhiều thời gian để nghĩ ngợi đến thế.
Mặc dù tiêu chuẩn cán bộ cao cấp có người phục vụ riêng nhưng bà Hạnh vẫn thường xuyên ở lại chăm sóc ông từ ngày ấy đến giờ. Ông bắt bà về lo công việc ở nhà thì bà bảo: “các con lớn rồi, lại còn bà con cô bác nữa” nên vẫn ở lại. Lấy nhau hơn hai chục năm, có với nhau đã bốn mặt con nhưng lần đầu tiên ông và bà được ở với nhau lâu đến vậy. Cũng vì thế lần đầu tiên ông được hưởng sự chăm sóc từng ly, từng tý của người vợ hiền thục, đảm đang. Hàng ngày bà chỉ quanh quẩn bên ông, chăm chăm theo dõi xem ông có yêu cầu gì thì thực hiện. Đến giờ bà xuống nhà ăn lấy hai suất cơm về, bón cho ông xong rồi mới ăn. Nửa tháng trở lại đây thấy đã khá hơn ông bảo bà đọc sách cho ông nghe. Con Hường khi biết vậy đã gửi sang cho bố bộ “Con đường đau khổ” của A- lếch- xây Tôn- stôi mà nó mới mua. Người đàn bà nhà quê ít chữ mấy hôm đầu cứ như đánh vật với quyển sách, nhất là với những cái tên nước ngoài. Thấy thế ông bảo bà đừng đọc nữa nhưng bà không nghe. Mất vài hôm thì bà cũng đọc tương đối trôi chảy, có hôm bà đọc cho ông nghe đến bốn, năm tiếng đồng hồ. Cảm nhận được cái tình của người vợ hiền khô khan như ông cũng bật lên được câu đùa:
- Tôi bị thương thế này đâm ra may bà nhỉ! Có bị thương mình mới được sống với nhau lâu thế chứ.
Bà lườm ông:
- Phải gió cái nhà ông này, chỉ nói gở!
Nói như vậy nhưng trong sâu thẳm cõi lòng bà cảm thấy những ngày được ở bên chồng để chăm sóc, nâng giấc cho ông là chuỗi ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời hơn hai mươi năm làm vợ của bà.
Tuy vậy bà không thể hiểu nổi những lúc không nghe bà đọc sách hay những đêm trằn trọc, cứ nhìn trừng trừng lên trần nhà thì ông nghĩ gì. Có nhắc ông đi ngủ cũng chỉ được nghe một câu quen thuộc: “tôi không ngủ được”. Thế mà xin thuốc ngủ cho lại không uống. Ông bảo: “uống vào rồi đâm quen, sau này không có thuốc thì ngủ làm sao?”.
Bà không biết cũng phải thôi. Cuộc đời người phụ nữ nông thôn quanh năm chẳng mấy khi ra khỏi lũy tre làng, vừa mới đến tuổi trưởng thành thì đã đi làm dâu, làm vợ rồi làm mẹ, cái lo toan quanh quẩn chỉ là manh áo, miếng cơm rồi con đau, con ốm thì làm sao biết được ông nghĩ những gì! Còn ông, đúng là những tháng ngày nằm dài ở viện ông đã suy nghĩ rất nhiều về bản thân mình. Nhưng nghĩ gì thì nghĩ quanh đi quẩn lại cũng chỉ nhằm vào một câu hỏi đau đáu: mấy chục năm qua mình đã sống như thế nào?
Về thiên chức làm chồng, làm cha xét cho cùng ông cho rằng mình đã không làm được thật trọn vẹn. Hơn hai mươi năm làm vợ, làm chồng, có với nhau bốn mặt con mà tổng cộng thời gian sống bên nhau chỉ được vài ba tháng. Mọi việc trong nhà, trong họ, chăm sóc mẹ già, nuôi dạy con cái phó mặc cho đôi vai tảo tần của vợ. Họa hoằn lắm thì gửi về nhà vài chục đồng lương, có dạy bảo con thì cũng dăm câu ba điều khuôn sáo, chúng có nghe, có làm theo hay không cũng chẳng biết. Ông cũng tự biện hộ cho mình là do hoàn cảnh thời chiến nhưng rồi từ trong thâm tâm ông đánh giá mình chưa phải là người chồng tốt, người cha tốt. Nhiều lúc nằm im nhìn cái dáng lặng lẽ, nhẫn nhục của vợ đi lại phục vụ mình mà ông thấy lòng đắng đót. Ông sẽ phải làm gì đây để đền đáp lại bà?
Còn một điều nữa chiếm nhiều thời gian suy nghĩ nhất của ông là: ông đã là một người chỉ huy như thế nào? Là một người đã đi nhiều, đọc nhiều và chịu khó chiêm nghiệm từ lâu ông đã tự bắt mình phải phấn đấu theo những tiêu chuẩn của một người làm tướng mà sử sách đông tây kim cổ đã tổng kết. Tựu trung lại ông thấy những tiêu chí “trí, dũng, nhân, tín, trung” mà Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã nêu ra trong pho “Binh thư yếu lược” là đầy đủ và khái quát nhất. Là người rất nghiêm khắc với mình ông nhận thấy bản thân cũng đã ít nhiều theo được những tiêu chí đó.
Nói về “trí” không dám tự nhận mình là đã có thừa nhưng ông biết mình cũng đã tích lũy được một số tri thức cũng như kinh nghiệm hết sức quý giá. Được như vậy trước hết là nhờ một quá trình học hỏi nghiêm túc theo lời dạy của Bác Hồ ngày ông được gặp Bác sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Lúc ngồi học trong trường thì cố học “hết chữ của thày”, chỗ nào chưa biết, chưa rõ thì hỏi đến cùng, hỏi cho bằng được. Lúc ra công tác thì học từ thực tế, học những người đồng đội, rồi chiêm nghiệm, tổng kết. Với sự học hỏi, nghiên cứu không ngừng ông đã cùng các đồng đội của mình đã đặt những viên gạch đầu tiên cho lý luận sử dụng xe tăng, thiết giáp mang những nét đặc thù Việt Nam khác hẳn những gì mà các ông tiếp thu được bên nước bạn. Lý luận đó đã được kiểm chứng trong trận Tà Mây- Làng Vây và một số trận đánh nữa ở Lào. Tuy vậy, với ông như thế vẫn còn chưa đủ nên ông mới quyết định đi chiến trường để trực tiếp chỉ huy, để tận mắt chứng kiến xe tăng của mình chiến đấu qua đó có thêm thực tế để bổ khuyết cho những gì còn thiếu. Ông không quá tự mãn nhưng cũng biết rằng cho đến giờ tri thức về sử dụng xe tăng ở Việt Nam thì khó có ai có thể qua được mặt ông. Tuy nhiên ông cũng biết tri thức là vô hạn mà đầu óc con người thì có hạn, trong khi đó thực tế lại thay đổi từng ngày từng giờ nên việc học hỏi phải không ngừng nghỉ. Điều đó thì ông vẫn đang thực hiện, ngay cả bây giờ khi đang nằm viện đầu óc ông có lúc nào ngừng chiêm nghiệm, suy nghĩ về những trận đánh mà ông và các đồng đội của ông đã trải qua đâu.
Còn về “dũng” ư? Không dám nhận mình là người tung hoành ngang dọc giữa nơi trận mạc, đánh đâu thắng đó như các danh tướng xưa nay nhưng ông cũng tự thấy mình là người có dũng khí, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì dù khó khăn, ác liệt đến đâu cũng chẳng từ nan mà chỉ có tìm mọi cách để hoàn thành. Từ lúc làm tiểu đội trưởng, trung đội trưởng chỉ với giáo mác, súng trường nhưng cũng đã dẫn đầu anh em trong đơn vị lao vào đồn giặc mà chẳng so đo tính toán. Cho đến lúc được bổ nhiệm lên những chức vụ cao hơn ông vẫn không ngần ngại xông vào chỗ hòn tên mũi đạn. Cái dũng ở ông còn được thể hiện ở chỗ ông dám bày tỏ chính kiến của mình và cũng rất kiên quyết bảo vệ chính kiến của mình dù rằng có đôi khi chính kiến đó không hợp ý cấp trên. Ông có thể tự hào về điều đó.
“Trung” thì không có gì phải bàn cả. Là người có chút chữ nghĩa ông đến với cách mạng một cách tự giác và bằng nhận thức của mình. Vì vậy suốt hai chục năm qua ông tin yêu và phục tùng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ. Lý tưởng của Đảng cũng là lý tưởng sống của ông và ông đã nguyện một lòng theo Đảng đến cùng dù khó khăn gian khổ đến đâu.
“Tín” cũng vậy. Ông là người biết giữ chữ tín đối với tất cả mọi người. Từ anh em họ mạc ở quê đến con cháu trong nhà, từ cấp trên đến cấp dưới khi ông đã hứa cái gì là quyết làm cho bằng được. Nếu không thực hiện được thì phải có giải thích rõ ràng nguyên nhân vì sao chứ không bao giờ để cho lời hứa trôi vào quên lãng.
Chí có chữ “Nhân” là làm ông băn khoăn nhiều nhất. Có hiểu biết sâu sắc về Hán tự và văn hóa phương Đông ông hiểu chữ “Nhân” có ý nghĩa rất khái quát, rất rộng, rất sâu xa. Nhân đó là nhân văn, nhân bản, nhân đạo, là cách làm người, là cái cách đối xử giữa con người với con người. Hiểu đấy, biết đấy nhưng làm theo được thật khó. Nói cho công bằng ông là người rất thương người, thương cha mẹ, vợ con, thương đồng chí, đồng đội nhưng cái cách thương của ông cũng hơi khác thường, đúng như kiểu người xưa: “thương cho roi cho vọt”. Thương đấy nhưng bên ngoài lại tỏ ra rất nghiêm khắc, nghiêm khắc đến mức khắt khe. Cũng chẳng có mục đích gì ngoài mong muốn cho mọi người hoàn thiện hơn lên, tốt đẹp hơn lên, giỏi giang hơn lên. Có lẽ cũng vì thế mà ông là người rất hà tiện lời khen? Ngay cả con cái ông cũng vậy, chúng ngoan ngoãn, tự lập, học giỏi mà có mấy khi được nghe một lời khen của bố. Còn ông mà đã chê thì bây giờ tự ông cũng nhận thấy là... hơi quá lời, thậm chí có khi nghe như chì chiết. Và có lẽ chính vì vậy mà những người xung quanh ông chỉ sợ ông mà không yêu ông, chỉ làm theo ông vì ông là cấp trên mà không yêu quý ông như một người cha, một người anh lớn. Các con ông cũng thế, có việc gì cần nói với bố hay bố gọi hỏi cũng chỉ dăm câu, ba điều là lỉnh mất. Những lúc ấy ông cũng thấy buồn. Nhưng biết làm sao được, bản tính trời sinh mà. Phương ngôn Trung Quốc có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Ông tự dặn mình phải cố gắng sửa chữa nhưng cũng biết rằng sẽ rất khó khăn.
Gần ba tháng trời nằm điều trị ở 108 các vết thương trên người quyền tư lệnh Đào về cơ bản đã lành. Bên mắt bị mất đã được các bác sĩ lắp vào đó một con mắt giả trông cũng không đến nỗi nào, bên mắt còn lại thị lực đã được khôi phục một phần. Mấy cái xương sườn bị gãy cũng đã liền nhưng phổi thì hơi yếu, thỉnh thoảng thở còn khó khăn. Mọi cái tiến triển có vẻ tốt nhưng khi lần đầu tiên đứng trước tấm gương trong buồng vệ sinh ông không khỏi giật mình vì những thay đổi trên khuôn mặt mình. Một vết sẹo dài từ chân tóc chẻ đôi lông mày trái và mi mắt kéo xuống tận gò má làm cho bộ mặt vốn bình thường đã khó gần của ông nay lại thêm nét dữ tợn. Biết vậy đồng chí chủ nhiệm khoa điều trị cán bộ cao cấp an ủi ông:
- Với đà này thì chẳng mấy chốc anh sẽ được ra viện thôi. Riêng về đôi mắt tôi sẽ đề nghị bên khoa mắt thửa cho anh một cặp kính đặc biệt, vừa đảm bảo tăng thị lực cho mắt phải, vừa che đi con mắt bên trái- Ông cười- Như thế cũng còn đẹp trai chán.
Ông Đào không nói gì nhưng ngay ngày hôm sau đã thấy được mời lên khoa mắt thử kính. Sau khi thử cặp kính làm riêng cho mình ở khoa mắt ông thừa nhận đồng chí trưởng khoa có lý. Đôi mắt kính to, lại hơi râm nên che đi được gần hết vết sẹo bên mắt trái làm cho ông trông đỡ dữ tướng hơn. Ngay chiều đó ông chính thức xin ra viện, lại còn yêu cầu chính ủy Ngọc và các đồng sự nói giúp. Cuối cùng, thể theo nguyện vọng của ông bệnh viện đồng ý cho ông về bệnh xá cơ quan dưỡng bệnh.
Quyền tư lệnh Đào về cơ quan được mấy hôm thì đến lượt tham mưu trưởng Dương nhập viện. Căn bệnh đau bụng từ hồi ở Đường Chín ra thỉnh thoảng tái phát ông cũng chỉ xin vài viên thuốc an thần, giảm đau. Nhưng lần này thì đau quá ông buộc phải xuống bệnh xá. Chủ nhiệm quân y binh chủng đã nhiều lần đề nghị ông đi kiểm tra ông không chịu. Nhân dịp này anh kiên quyết đưa ông đi khám bệnh, lại còn trực tiếp “áp tải” ông lên 108 để khám.
Vừa mới nhìn qua tấm phim X quang và mấy bản kết quả xét nghiệm, chủ nhiệm phòng khám đã yêu cầu ông nhập viện ngay và làm tất cả thủ tục để mổ càng sớm càng tốt. Thấy bảo mình phải mổ tham mưu trưởng Dương tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Tôi làm sao mà phải mổ? Suốt hai năm nay thỉnh thoảng nó đau một tý, uống vài viên thuốc vào là khỏi thôi mà.
Chủ nhiệm phòng khám lắc đầu:
- Không được! Trước thế nào tôi không biết. Còn hôm nay anh không mổ sẽ nguy hiểm đến tính mạng đấy!
Ông Dương vẫn cười như không có chuyện gì xảy ra:
- Đề nghị bác sĩ cho biết tôi bị làm sao?
Chủ nhiệm phòng khám nhăn mặt:
- Anh bị làm sao à? Cái túi mật của anh nó sưng lên bằng nắm đấm kia kìa- Tay anh ta chỉ vào một vùng sáng trên tấm phim X quang rồi lắc đầu ngán ngẩm- Tôi cũng chẳng biết tại sao các anh lại coi thường mạng sống của mình đến vậy. Giá như hồi mới bị đau anh đến đây ngay thì bây giờ chắc không phải mổ, còn hôm nay không mổ không được.
Biết là không thể tránh được cuộc phẫu thuật ông Dương chỉ còn biết nhăn nhó:
- Còn bao nhiêu việc đang chất đống lên đấy!
Người bác sĩ cười:
- Anh cứ yên tâm! Mổ xong rồi anh về tha hồ mà làm.
Không ai ngờ là bệnh của tham mưu trưởng Dương lại nặng đến thế. Các bác sĩ cũng định cố gắng bảo toàn cái túi mật cho ông nhưng không thể và cuối cùng đã đi đến quyết định cắt toàn bộ túi mật. Chắc là vì khi mới nhiễm bệnh không được điều trị kịp thời, kết hợp với những cơn sốt rét rừng và điều kiện sống khắc nghiệt ở chiến trường Đường Chín đã gây ra hậu quả ấy. Khi biết túi mật của mình đã bị cắt hoàn toàn ông Dương lo lắm, không biết rồi đây mình sẽ thế nào. Thấy ông lo lắng vị bác sĩ điều trị chỉ cười:
- Anh cứ coi như mình là người tiêu hoang ấy thôi mà. Người ta làm ra dùng không hết thì cho vào đó dự trữ, lúc nào thiếu bỏ ra dùng. Còn anh bây giờ thì làm ra bao nhiêu tiêu hết bấy nhiêu không có chỗ dự trữ nữa- Anh đổi sang giọng an ủi- Nhưng không sao! Chỉ cần anh tuân theo một số quy định về ăn uống, sinh hoạt thì sức khỏe vẫn đảm bảo. Tôi đảm bảo anh còn sống đến trăm tuổi ấy chứ.
Nghe thì nghe để đấy chứ tham mưu trưởng Dương biết rằng sắp tới đối với ông sẽ là những ngày khó khăn, nhất là khi binh chủng Thiết giáp của ông đang có triển vọng phát triển mạnh mẽ với nhiệm vụ ngày càng nặng nề, phức tạp hơn. Trong khi đó quyền tư lệnh thì bị thương chưa khỏi hẳn, còn tham mưu trưởng thì lại như thế này!
Ngày ra viện về cơ quan, chủ nhiệm chính trị Thu sang thăm lại nói đùa:
- Từ nay ông bạn cứ yên tâm hoạt động ở hậu phương thôi, còn chiến trường để đấy cho chúng tôi.
Không biết đó là câu đùa vô tình hay hữu ý nhưng tham mưu trưởng Dương thì buồn lắm.
Không chỉ tham mưu trưởng Dương thấy buồn mà quyền tư lệnh Đào cũng vậy. Có hai cán bộ chủ chốt về quân sự mà lại đều yếu rớt như thế này thì làm sao cáng đáng nổi công việc. Kinh nghiệm hai chục năm làm chỉ huy ông biết yêu cầu về sức khỏe đối với những người cán bộ quân sự là rất cao. Có khỏe mới chịu được những áp lực của công việc, mới vượt qua được những thử thách cả về trí lực và thể lực kéo dài trong nhiều ngày của một trận đánh, một chiến dịch và nói rộng ra là của cả cuộc chiến này. Vì vậy ngoài việc thường xuyên dùng thuốc theo chỉ định của bác sỹ và tham gia những công việc vừa sức, quyền tư lệnh Đào dành nhiều thời gian cho việc luyện tập thân thể. Ông sưu tầm những bài tập thể dục dưỡng sinh cũng như những bài vật lý trị liệu để đưa vào chương trình luyện tập hàng ngày. Không biết có phải vì vậy hay không nhưng chỉ sau hơn tháng về cơ quan sức khỏe của ông đã tiến triển khá rõ rệt, lá phổi trái bị thủng giờ đây đã gần trở lại bình thường, khi hít sâu vào không còn thấy đau nữa.
Về công việc ông không còn sùng sục đi đơn vị được nữa nhưng tất cả các cuộc họp, cuộc hội thảo ở cơ quan thì tham gia đầy đủ. Thời giờ còn lại chủ yếu ông dành để đọc và bổ cứu những tài liệu chiến thuật do anh em Tổ nghiên cứu của phòng tham mưu biên soạn để sắp tới đưa vào ban hành chính thức. Cũng may giai đoạn này các hoạt động tác chiến trên các chiến trường tạm lắng xuống, ta tạm thời không mở những chiến dịch lớn và vì vậy xe tăng cũng tạm thời án binh bất động.
Về phía tham mưu trưởng Dương vừa ở bệnh viện về là lao ngay vào công việc chỉ đạo phòng tham mưu hoàn chỉnh bản “kế hoạch phát triển lực lượng tăng thiết giáp giai đoạn 1970- 1975” trong đó tập trung vào nhiệm vụ chính là đưa các đơn vị xe tăng vào bổ sung cho các chiến trường trọng điểm. Ngoài ra bản kế hoạch cũng đề cập đến việc xây dựng các nhà trường đào tạo cán bộ và thành viên kíp xe một cách chính quy hơn.
Bản kế hoạch vừa được đưa sang cho quyền tư lệnh Đào, ông mới kịp xem qua một lượt thì có điện của Tổng tham mưu trưởng gọi lên gặp ở thị trấn Tam Đảo. Đút luôn tập bản thảo vào cặp quyền tư lệnh Đào gọi chủ nhiệm chính trị Thu cùng đi.
★ ★ ★
Nằm ở độ cao trên 1000 mét so với mặt nước biển thị trấn Tam Đảo với nhiệt độ trung bình vào mùa hè chỉ trên dưới 20 độ C, lại có những rừng thông ngút ngàn bao bọc xung quanh nên đã được người Pháp xây dựng thành một thị trấn nghỉ mát từ vài chục năm trước. Không quá xa Hà Nội như Sa Pa, Mẫu Sơn nên Tam Đảo rất được các quan chức người Pháp ở miền bắc ưa thích trong những dịp nghỉ cuối tuần. Cũng chính vì vậy họ đã xây dựng ở đây một loạt các biệt thự sang trọng và bề thế. Tuy nhiên trong kháng chiến chống Pháp thị trấn Tam Đảo đã bị tàn phá nặng nề, số biệt thự còn lại chỉ đếm trên đầu ngón tay. Một số trong đó được dùng làm nơi nghỉ dưỡng và làm việc cho các cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước ta.
Đường lên Tam Đảo khá quanh co, chiếc xe Bắc Kinh ì ạch leo chậm chạp. Khói từ két nước bốc lên mù mịt, cứ đi được vài cây số lái xe Năm lại phải bổ sung nước làm mát. Đã lên đây nhiều lần nhưng hôm nay quyền tư lệnh Đào mới chú ý đến đường sá, ông nói với chủ nhiệm chính trị Thu:
- Anh Thu ạ! Con đường này cũng hiểm trở chẳng kém đường Trường Sơn bao nhiêu đâu, chỉ được cái trải nhựa và các khúc cua được mở rộng hơn thôi.
Ông Thu đang bám chặt vào thanh sắt khung xe để chống lại những cái cua chóng mặt gật đầu:
- Công nhận thằng Pháp ngày xưa cũng kỳ công thật.
Quyền tư lệnh Đào chợt đột ngột thay đổi đề tài:
- Ông có đoán được hôm nay Tổng Tham mưu trưởng gọi mình lên làm gì không?
Chủ nhiệm chính trị Thu phán đoán:
- Chắc là sắp có đánh lớn, các “cụ” lại muốn dùng đến xe tăng chăng.
Quyền tư lệnh Đào tỏ vẻ đồng ý:
- Tôi cũng nghĩ vậy! Chứ các “cụ” đang bận trăm công nghìn việc khi không gọi mình lên làm gì.
Hai người cứ thế rỉ rả chuyện trò, chẳng mấy chốc những ngôi nhà ven thị trấn đã hiện ra. Đang là mùa hè mà thị trấn nghỉ mát vắng hoe, lác đác vai gia đình người nước ngoài đang nằm sưởi nắng ven hồ bơi. Chiếc xe rẽ vào khu A, nơi dành riêng cho các cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước lên nghỉ và làm việc.
Đồng chí trực ban đã đón sẵn ngoài đường đưa hai người vào một ngôi biệt thự, sau khi bảo hai vị khách ngồi ở phòng chờ anh ta biến mất sau cánh cửa. Một lát sau từ phòng trong Tổng Tham mưu trưởng bước ra, trông ông vẫn rất phong độ mặc dù mái tóc đã bạc thêm nhiều. Quyền tư lệnh Đào và chủ nhiệm chính trị Thu vội đứng dạy:
- Chào Tổng Tham mưu trưởng ạ!
Tổng Tham mưu trưởng bắt tay hai anh em, miệng xởi lởi:
- Chào hai cậu! Cậu Đào thế nào rồi, đã bình phục chưa?
Quyền tư lệnh Đào xúc động:
- Báo cáo thủ trưởng! Tôi đã khỏe rồi ạ!
Tổng Tham mưu trưởng lắc đầu:
- Chưa khỏe đâu! Da còn xanh lắm.