Đúng như anh cán bộ thấp nhỏ đã nói. Chỉ mười lăm phút sau hơn một trăm lít nước được đem về. Hòa cho đại đội của mình chạy hết con dốc rồi tránh sang một bên nhường đường cho đoàn ô tô chở bộ binh vượt lên trước. Nhìn gương mặt tươi rói của những người chiến sĩ trẻ măng vừa san sẻ chút nước uống cuối cùng cho chiếc xe của mình, lòng anh rưng rưng xúc động.
Sở chỉ huy cánh quân Duyên Hải, trong đó có tiền phương Thiết giáp cơ động ngay sau khối thứ hai của Binh đoàn Sông Hương. Chiếc xe Bắc Kinh của tư lệnh Đào hôm nay có vẻ như tốt hơn hẳn vì không phải chốc chốc dừng lại bổ sung nước như dạo trước nữa. Chính ông Đào cũng nhận ra sự khác lạ này nên sau mấy chục ki- lô- mét đầu, ông bảo Năm:
- Này! Kiểm tra nước làm mát đi chứ. Nó mà cháy máy nổ là cậu bị kỷ luật đấy!
Nam liếc nhìn Phùng, thấy Phùng lắc nhẹ đầu, anh nhỏ nhẹ:
- Báo cáo tư lệnh, chắc là do đường tốt, lại ít dốc nên không hao nước như trước. Tôi vẫn thường xuyên theo dõi đồng hồ nhiệt độ đấy ạ.
Thực ra, giữa Phùng và Năm có một bí mật nho nhỏ mà họ không muốn cho thủ trưởng của mình biết. Chiếc xe của tư lệnh Đào vốn là chiếc Bắc Kinh cũ kỹ đã sử dụng nhiều năm. Cơ quan kỹ thuật định đổi xe mới cho ông nhưng ông bảo: “tớ thấy vẫn dùng tốt đấy chứ, nếu được cấp xe mới các cậu hãy ưu tiên cho đơn vị chiến đấu trước đã” nên lại thôi. Tuy nhiên, có đi công tác đường dài mới thấy hết cái sự già nua của nó. Chẳng biết két mát của nó đã đóng bao nhiêu cặn nhưng cứ độ ba chục ki- lô- mét là nước đã sôi lên sùng sục. Vì vậy lúc nào lái xe Năm cũng phải tích trữ vài chục lít nước để sẵn sàng bổ sung. Biết vậy, hôm được giao ra bán đảo Sơn Trà kiểm tra tình hình các đơn vị ngoài ấy Phùng nháy Nam lấy thêm một can xăng hai mươi lít bỏ lên xe. Xong việc rồi, hai thày trò quay về thành phố Đà Nẵng. Đến trước một cái ga- ra rất to vẫn đang đóng cửa im ỉm, Phùng bảo Năm dừng xe rồi vào gõ cửa. Người chủ ga- ra mở cửa nhìn thấy anh bộ đội giải phóng súng ngắn kè kè bên hông thì hốt hoảng ra mặt. Anh ta chỉ bình tâm trở lại khi thấy Phùng ôn tồn: “Két mát xe chúng tôi có vấn đề, nhiệt độ thường xuyên lên cao. Các anh có giúp sửa được không?”. Người chủ ga- ra hồ hởi: “Dạ! Chắc là nó bị két nhiều cặn bẩn. Chúng tôi làm được”. Phùng cẩn thận: “Nhưng chúng tôi không có tiền đâu, chỉ có…”. Không để anh nói hết lời, người chủ ga- ra đã xua tay: “Không cần đâu ạ! Chúng tôi làm giúp thôi ạ! Giúp đỡ bộ đội giải phóng là trách nhiệm của chúng tôi mà”. Anh ta gọi mấy cậu thợ trẻ ra. Họ loay hoay gần một tiếng thì xong. Không chỉ xúc rửa két mát nước, họ còn bảo dưỡng và điều chỉnh thêm một số bộ phận nữa. Chiếc xe cũ kỹ như được lột xác, tiếng máy nổ êm hơn hẳn. Xong việc, Năm xách can xăng vào để trả công. Người chủ ga- ra cứ chối bai bải. Chỉ đến khi Phùng bảo: “Đây không phải là trả công mà là có chút quà cảm ơn các anh em đã giúp đỡ” thì anh ta mới chịu nhận. Nhưng thật tình cũng phải công nhận tay nghề của họ giỏi.
Đường tốt, xe chạy êm như ru. Tư lệnh Đào ngồi im lặng không tham gia vào câu chuyện sôi nổi của cấp dưới, những người lần đầu tiên được đặt chân đến đây. Đôi mắt của ông lim dim sau cặp kính trông như đang ngủ nhưng không phải. Vùng đất này thực ra không quá xa lạ với ông. Hồi đầu kháng chiến chống Pháp ông đã có mặt trong đoàn quân Nam tiến vào đến tận Nha Trang. Tuy nhiên, cảnh vật đã thay đổi quá nhiều. Đường sá tốt hơn. Nhà cửa to đẹp hơn. Phố xá sầm uất hơn. Chỉ còn đó những con người chất phác và đôn hậu là không thay đổi. Tất nhiên, cũng có những người không mong đợi các ông. Tuy nhiên, đó chỉ là số ít.
Tưởng như ngủ nhưng thực ra ông Đào đang tập trung suy nghĩ về trận chiến đấu sắp tới. Mặc dù quân và dân ta đã giành được những chiến thắng vang dội, giải phóng hoàn toàn quân khu Một và phần lớn quân khu Hai của địch. Song ở thế “chó cùng dứt giậu”, chắc chắn bọn địch cẽ chống cự điên cuồng và sẽ làm mọi cách để ngăn bước chân của ông và đồng đội. Ngày 28 tháng 3 vừa qua, đích thân đại tướng Uây- en, Chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân Hoa Kỳ đã tới Sài Gòn. Sau khi nghe Thiệu báo cáo tình hình và thị sát một vòng, Uây- en đã cố vấn cho chính quyền Sài Gòn thiết lập một vành đai phòng thủ để cố giữ phần đất còn lại. Theo hắn, “tuyến phòng thủ Sài Gòn sẽ neo ở thị xã Phan Rang, lấy Xuân Lộc làm mũi nhọn phòng thủ chính và Tây Ninh là rìa phía tây” sẽ bảo đảm giữ được Sài Gòn chờ mùa mưa xuống sẽ phản công hoặc chờ đợi một giải pháp chính trị. Có lẽ viên đại tướng tư lệnh quân viễn chinh Mỹ cuối cùng ở Đông Dương vẫn còn ôm mối hận phải cuốn cờ trong lòng nên tỏ ra hết sức hiếu chiến. Ngoài việc đốc thúc quân ngụy xây dựng tuyến phòng thủ hắn còn điện về Mỹ yêu cầu tổng thống Pho viện trợ khẩn cấp cho Sài Gòn. Những lời kêu cứu khẩn thiết của Uây- en ít nhiều vẫn được một số giới chức diều hâu trong chính quyền của tổng thống Pho ủng hộ nên một cầu hàng không từ Băng Cốc đến Sài Gòn đã được thiết lập. Một khối lượng khá lớn phương tiện chiến tranh đã được không vận khẩn cấp đến Sài Gòn. Ngoài biển Đông, tàu sân bay Hen- cốc cũng rập rình như để trấn an thêm tinh thần cho Thiệu và bè lũ tay sai. Dường như đã gượng lại được sau cơn choáng, lại được quan thầy hà hơi, tiếp sức nên chính quyền Sài Gòn đã sáp nhập hai tỉnh còn lại của quân khu Hai là Ninh Thuận và Bình Thuận vào quân khu Ba. Đồng thời thành lập Bộ tư lệnh tiền phương quân khu Ba do trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chỉ huy đặt tại Phan Rang. Theo tin tình báo của ta thì chúng đã tập trung được ở đây 1 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn không quân, 1 lữ đoàn dù, 1 liên đoàn biệt động quân… Tổng cộng lực lượng địch ở đây lên đến hơn chục nghìn quân, lại được hỏa lực của tàu chiến ngoài khơi yểm trợ. Còn ở Xuân Lộc, sư đoàn bộ binh 18 gần như còn nguyên vẹn cùng với liên đoàn bảo an 936, thiết đoàn 5 và 3 tiểu đoàn bảo an đã được bố trí phòng thủ tại đây. Trên đài Sài Gòn, hết tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại đến các quan chức của Bộ Tổng tham mưu ngụy thay nhau hò hét “tử thủ Phan Rang, tử thủ Xuân Lộc” để lên dây cót cho tinh thần binh sĩ. Thực ra, cái chuyện hò hét suông thì cũng chẳng cần để ý đến làm gì. Tuy nhiên, nếu không giải quyết nhanh, để địch củng cố tuyến phòng thủ trở nên vững chắc thì quân ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Nếu lực lượng phái đi trước của binh đoàn mà không đủ sức đột phá, phải dùng đến chủ lực ở khối ba thì chưa biết đến bao giờ mới có thể vượt qua. Cái mẹo “dĩ dật đãi lao” này thì ai cũng biết. Vấn đề bây giờ là phải đánh nhanh, thắng nhanh.
Nhưng có vẻ như cái ý định đánh nhanh, thắng nhanh của ta đã không thực hiện được ở Xuân Lộc thì phải. Đã ba ngày rồi theo dõi chiến sự ở Xuân Lộc, ông Đào biết trận chiến đấu ở đây gặp rất nhiều khó khăn. Hôm nay là ngày thứ tư quân ta tiến công thị xã đó. Không biết tình hình thế nào. Vì vậy, khi đoàn xe vừa dừng lại trong một cánh rừng thưa dưới chân núi Tà Lương, ông Đào đã vội lôi chiếc đài bán dẫn ra mở. Lẹt xẹt dò qua một loạt đài, tai ông bỗng dỏng lên khi nghe nhắc đến hai tiếng Xuân Lộc. Ông vội chỉnh lại tần số và vặn to nút âm lượng. Từ trong chiếc đài vọng ra giọng nói nhão nhoẹt của con mụ phát thanh viên đài Sài Gòn:
“Hôm nay là ngày thứ tư cộng quân tiến hành tiến công thị xã Xuân Lộc. Mặc dù đã được tăng phái thêm nhiều binh lực nhưng trước sự kháng cự vô cùng anh dũng của các chiến binh quân lực Việt Nam cộng hòa, cộng quân đã phải dừng bước ở ngoại vi thị xã, bỏ lại hàng trăm xác chết và nhiều quân cụ, trong đó có 4 chiến xa T54. Tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh sư đoàn bộ binh 18 cho phóng viên bản đài biết: “Tinh thần binh sĩ VNCH tại Xuân Lộc rất cao, hệ thống truyền tin rất tốt. Các đơn vị Dù và BĐQ đã đến tăng viện kịp thời. Đồng bào ở Sài Gòn hãy yên tâm vì Xuân Lộc còn thì Sài Gòn cũng còn”. Ông còn thách thức tướng Hoàng Cầm, tư lệnh quân đoàn 4 cộng quân tiếp tục tiến công”.
Vẫn biết rằng thông tin do đài Sài Gòn đưa thì không thể tin tưởng hoàn toàn song ông Đào vẫn ngồi thừ ra. Như vậy quân ta vẫn chưa đột được qua Xuân Lộc và nhiệm vụ của cánh quân Duyên Hải này chắc sẽ phức tạp hơn.
★ ★ ★
Vào lúc đó, trong một căn nhà còn khá nguyên vẹn ở rìa ấp Bảo Vinh A, mấy cán bộ tiểu đoàn tăng 21 đang ngồi chờ chiếc xe dắt đi cứu kéo xe hỏng và làm công tác thương binh, tử sỹ về. Sau ba ngày chiến đấu không đạt được kết quả, 4 xe bị mìn và 1 xe sa xuống hố bom phải bỏ lại trận địa. Đêm nay, họ quyết định sử dụng 3 xe còn lại chi viện cho chiếc xe dắt bò vào để cứu kéo xe hỏng về. Theo hiệp đồng, còn một tiếng nữa họ mới bắt đầu nổ súng.
Dưới ánh sáng leo lắt của ngọn nến nhỏ còn sót lại trên bàn, không khí trong nhà có vẻ rất nặng nề, u ám. Tiểu đoàn trưởng Khê ngồi ủ rũ bên cạnh cái bàn trông như một pho tượng gỗ. Phía bên kia bàn, chính trị viên Bào đang lúi húi ghi chép gì đó vào cuốn sổ tay. Tham mưu trưởng tiểu đoàn thì đang ghé ngồi gà gật bên cạnh chiếc đài 2 oát. Cân và một cán bộ đại đội 2 thì ngồi im lặng ngay ngoài cửa, mắt dòi nhìn về phía nam, nơi ba chiếc xe tăng và chiếc xe dắt đang ém sẵn chờ giờ nổ súng. Quả thật, có quá nhiều điều làm cho họ phải bận lòng. Đây đã là ngày thứ ba tiểu đoàn 21 tham gia tiến công Xuân Lộc. Tuy nhiên, kết quả không những không chọc thủng được phòng tuyến địch mà lại còn bị thiệt hại nặng nề.
Thực ra, tiếng là một tiểu đoàn xe tăng nhưng trước khi bước vào trận đánh này toàn tiểu đoàn chỉ còn đúng 12 chiếc. Sở dĩ như vậy là vì sau các trận Phước Long, trận vận động tiến công dọc đường 20 lên tới tận Bảo Lộc, Di Linh lực lượng của tiểu đoàn phần bị tiêu hao trong chiến đấu, phần bị hư hỏng do tình trạng kỹ thuật không bảo đảm lại không được bổ sung kịp thời. Bộ đội thì cũng quá mệt mỏi sau những chặng đường dài cơ động, chiến đấu liên tục, nhiều đồng chí bị sốt rét hành hạ không nuốt nổi cơm. Thế nhưng, khi nhận nhiệm vụ tiến công Xuân Lộc ai cũng hào hứng và sẵn sàng nhận nhiệm vụ vì họ biết rằng nếu nhổ được cánh cửa thép này thì đường về Biên Hòa và Sài Gòn sẽ không còn xa nữa.
Ấy thế nhưng kết quả lại không được như mong muốn.
Ngay ngày đầu tiên, hai đại đội 1 và 2 được tung vào trận đánh, đại đội 3 được cử làm đội dự bị. Đại đội 1 phối thuộc cho một tiểu đoàn bộ binh tiến công ở bắc đường sắt vào khu hậu cứ chiến đoàn 52. Còn đại đội 2 cũng với bộ binh đánh vào căn cứ thiết đoàn 5 và khu thông tin ở phía nam đường sắt. Sau màn hỏa lực chuẩn bị của pháo binh, xe tăng và bộ binh đồng loạt xung phong. Tuy nhiên, cả hai hướng tiến công đều bị địch ngăn chặn quyết liệt bằng không quân và pháo binh. Trên hướng đại đội 1, bộ binh không mở được cửa mở nên xe tăng đành phải dừng ở bên ngoài phát huy hỏa lực bắn vào các mục tiêu bên trong. Kết cục cuộc đấu pháo đó xe 363 bị trúng một phát tên lửa chống tăng, kíp xe thương vong gần hết. Không xung phong được, đại đội 1 được lệnh lui về phía sau.
Bên hướng đại đội 2 cũng chẳng hơn gì. Bộ binh không mở được cửa nên khi đã áp sát hàng rào rồi, xe tăng vẫn không xung phong được. Chủ động tìm đường vượt qua hệ thống vật cản chống tăng dày đặc thì lần lượt 3 xe 943, 331 và 949 dính mìn phải nằm lại. Chỉ còn một mình xe 365 tiến sau kịp dừng lại, lợi dụng địa hình địa vật chi viện cho các xe kia khắc phục hậu quả nhưng không thành công.
Tối ấy, khi đã lui về vị trí ban đầu Cân đến gặp tiểu đoàn trưởng bộ binh. Nhìn người cán bộ cũng trạc tuổi mình trên đầu và một cánh tay băng trắng xóa, Cân không nỡ nói những lời trách móc mà anh đã nung nấu từ trước. Dường như người cán bộ bộ binh cũng đoán được điều đó nên anh ta chủ động nói trước: “Anh thông cảm! Gọi là tiểu đoàn thôi chứ anh biết chúng tôi có bao nhiêu tay súng không? Huy động cả anh nuôi, y tá mới được hơn trăm đấy. Mà lính đâu có khỏe. Vừa vận động hàng trăm ki- lô- mét từ đường 20 về một cái là lại húc vào đây. Thực tình, cũng không ngờ chúng ngoan cố đến thế. Cứ tưởng nó sụp đến nơi rồi. Ai ngờ nó vẫn chống cự như điên. Mà sao máy bay, pháo binh của chúng vẫn mạnh như thế”. Quả có thế thật. Ngay cả Cân và anh em lính tăng mình cũng tưởng trận này dễ “xơi”, cứ nghĩ sẽ thắng như chẻ tre như mấy hôm trước đánh lên Bảo Lộc. Mà có lẽ cả cấp trên cũng vậy chăng?
Ngày hôm sau, sư đoàn điện xuống tiếp tục tiến công. Tuy nhiên, cũng lại như ngày hôm trước. Vừa mới nổ súng xung phong địch đã cho máy bay, pháo binh ngăn chặn quyết liệt. Dưới làn bom đạn dày như vãi trấu, bộ binh thương vong nhiều, không còn sức chiến đấu nên lại phải lui về. Xe tăng không có bộ binh đi cùng cũng phải rút về ấp Bảo Vinh A. Lần này thì cả tiểu đoàn trưởng và chính trị viên tiểu đoàn bô binh đều bị thương nặng phải chuyển lên tuyến trên điều trị.
Sang chiều, tiểu đoàn xe tăng đề nghị đưa đội dự bị vào chiến đấu để tăng cường khả năng đột phá. Cấp trên đồng ý ngay nhưng do trục trặc trong hiệp đồng chiến đấu mà phải đến sáng ngày hôm sau mới tiếp tục tiến công được. Tuy nhiên, kết quả chiến đấu ngày thứ ba này cũng chẳng có gì khả quan hơn. Có lẽ địch đã dồn hết sức ra để ngăn chặn hướng tiến công chính diện này thì phải. Vừa mới xuất kích đã thấy máy bay lên đen trời. Phản lực có. Trực thăng có. Rồi pháo, cối, tên lửa chống tăng dường như được dồn hết về đây thì phải. Và rồi, các mũi tiến công của bộ binh bị chùn lại. Xe tăng số 350 trúng mìn bốc cháy. Xe 358 sa xuống hố bom không lên được. Xe 942 trúng tên lửa chống tăng, may không cháy, chỉ có trưởng xe bị thương. Thế là lại phải lui về.
Có lẽ cấp trên cũng đã nhận ra sự không hợp lý khi quyết định tiến công trực diện vào nơi địch phòng thủ rắn nhất nên đã chuyển hướng tiến công vào phía sau quân địch. Tiểu đoàn nhận được lệnh tìm mọi cách thu hồi xe pháo và củng cố để chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo. Thực ra, hy vọng kéo được xe về cũng mong manh lắm. Xe bị đứt xích bỏ lại trên đó cả ngày trời liệu bọn địch có bỏ qua không.
Một loạt pháo bỗng nổ vang cắt ngang luồn suy nghĩ của mọi người. Tất cả nhào ra phía cửa hướng về phía có tiếng súng nổ. Tham mưu trưởng tiểu đoàn cũng bừng tỉnh, anh áp sát cáp nghe vào tai và xách luôn chiếc máy ra ngoài. Từ phía trận địa vọng về tiếng súng bắn trả loạn xạ của địch, thỉnh thoảng lại được một phát pháo 100 điểm nhịp. Chợt tham mưu trưởng gọi tiểu đoàn trưởng Khê:
- Anh Khê! Anh nghe báo cáo này.
Khê giằng lấy bộ cáp nghe chụp lên đầu, anh hỏi dồn:
- Tôi Khê đây! Báo cáo đi!
Không biết phía đầu kia báo cáo những gì, chỉ thấy tiểu đoàn trưởng Khê “à”, “ừ” một lúc rồi buông thõng:
- Thôi, được rồi! Cứ thế mà làm- Nhìn nét mặt chăm chú của những cán bộ dưới quyền xung quanh, anh lắc đầu nói nhỏ- Mấy xe bị mìn bị chúng bắn cháy hết rồi. Chỉ còn mỗi cái 356 anh em đang kéo về.
★ ★ ★
Những tin tức không vui từ Xuân Lộc dội về làm ông Đào cũng như cả Bộ tư lệnh cánh quân Duyên Hải lo lắng. Một cuộc họp được tổ chức ngay tại sở chỉ huy với thành phần là Bộ tư lệnh binh đoàn Sông Hương, thủ trưởng sư đoàn bộ binh Sao Đỏ cùng đại diện các quân binh chủng. Mọi người vừa đến đủ, Tư lệnh cánh quân Duyên Hải vào đề ngay:
- Thưa các đồng chí! Tôi vừa nhận được điện của Bộ thông báo tình hình quốc tế cũng như diễn biến trên các chiến trường. Nói chung là tình hình rất sáng sủa, đặc biệt đối với Hoa Kỳ thì cuộc chiến tranh này đã coi như kết thúc. Chắc chắn sẽ không có sự can thiệp nào từ phía Mỹ, vì vậy chúng ta có thể yên tâm làm việc của mình hơn. Ở hậu phương miền Bắc, toàn Đảng toàn dân đang dốc hết sức người, sức của chi viện cho miền Nam đánh thắng trận cuối cùng. Hiện tại, binh đoàn Quyết Chiến, binh đoàn Cao Nguyên đang nhằm hướng Sài gòn để cơ động. Trên các chiến trường, chúng ta cũng đã mở rộng được bàn đạp tiến công Sài Gòn từ các hướng nam, tây nam và tây bắc- Ông bỗng trầm giọng xuống- Tuy nhiên, ý định chiếm bàn đạp phía bắc của binh đoàn Mê- Kông tại Xuân Lộc thì gặp nhiều khó khăn. Sau bốn ngày chiến đấu, bị nhiều tổn thất các đồng chí ở Bộ chỉ huy Miền đã quyết định không tiếp tục đánh trực diện nữa mà sẽ đánh vào phía sau quân địch. Nếu ở trong đó đánh hổng được phía sau và ngoài này ta cũng ép sát vào thì chẳng cần đánh chúng cũng phải bỏ Xuân Lộc mà chạy. Vì vậy, vấn đề đặt ra với cánh quân này của ta là phải nhanh chóng tiến công Phan Rang và các tỉnh cực nam Trung Bộ. Một lý do nữa buộc chúng ta phải tiến công nhanh là từ bài học Xuân Lộc ta đã rút ra một điều: nếu chậm trễ, để quân địch có thời gian củng cố tuyến phòng ngự vững chắc thì chúng ta sẽ gặp khó khăn bội phần. Vì vậy, tôi quyết định như sau: ngay từ hôm nay, sư đoàn Sao Đỏ có nhiệm vụ tiêu diệt các căn cứ tiền tiêu để mở đường cho binh đoàn Sông Hương tiến đánh Phan Rang. Còn binh đoàn Sông Hương phải nhanh chóng dồn lực lượng lên và tổ chức đánh chiếm Phan Rang ngay, sau đó khẩn trương phát triển xuống Phan Thiết. Thời gian nổ súng đánh Phan Rang chậm nhất là ngày 16 tháng Tư. Tôi hạn cho các anh trong vòng hai ngày phải giải quyết xong tuyến phòng thủ này và chậm nhất ngày 20 phải chiếm được Phan Thiết. Binh đoàn khẩn trương xây dựng quyết tâm chiến đấu, sáng sớm mai báo cáo tôi- Ông dừng lại ngẩng nhìn khắp một vòng rồi hỏi- Các đồng chí còn hỏi gì nữa không? Nếu không, mời các đồng chí về triển khai công việc.
Mọi người lục tục đứng dậy, nét mặt người nào cũng trầm ngâm đầy vẻ suy tư. Họ hiểu, những trận đánh cuối cùng sẽ không hề dễ dàng chút nào. Sau khi nán lại trao đổi với sư trưởng Sao Đỏ mấy phút, tư lệnh binh đoàn Sông Hương tiến lại chỗ ông Đào nói nhỏ:
- Chúng tôi cần trao đổi với anh một chút.
Ông Đào cũng nhỏ nhẹ:
- Mời anh về bên tôi cho tiện.
Cả hai cùng sánh bước về phía sở chỉ huy tiền phương của Thiết giáp, theo sau họ là phó tư lệnh Hoàng và hai sĩ quan tham mưu. Mặc dù vừa mới đến đây chiều qua song tiểu đội công binh đã xây dựng xong hầm chỉ huy với đầy đủ mái che, bàn ghế. Mời các đồng sự ngồi xuống ghế xong ông Đào bảo chiến sĩ công vụ đang rót nước:
- Đồng chí mời phó chính ủy Thu và đồng chí Phùng lên gặp tôi ngay- Quay lại phía các vị khách, ông niềm nở- Các anh uống nước đi!
Vẻ nôn nóng hiện rõ trên mặt tướng Ân, ông giục người sĩ quan tham mưu mở bản đồ trải lên chiếc bàn trước mặt. Khi thấy phó chính ủy Thu và trưởng phòng tác chiến Phùng vào, ông nói luôn:
- Báo cáo các anh! Xin phép các anh cho chúng tôi vào việc luôn. Như anh Đào đã biết, nhiệm vụ của binh đoàn vừa nhận là hết sức nặng nề. Tuyến phòng thủ của địch tại Phan Rang nếu tính từ quận lỵ Du Long đến mũi Cà Ná có chiều sâu gần 70 ki- lô- mét, chính diện có chỗ lên đến trên 10 ki- lô- mét như đoạn từ cảng Ninh Chữ lên sân bay Thành Sơn. Nếu cứ đánh theo kiểu tiến công trận địa, mỗi ngày nhổ một chốt của địch thì có lẽ phải mất hàng tuần mới xong. Thế mà trên giao cho chúng ta phải giải quyết xong trong vòng hai ngày. Chính vì vậy tôi rất muốn tham khảo ý kiến của các anh bên Thiết giáp về cách đánh trong trận này.
Căn hầm lặng đi đến hàng phút, mãi sau tư lệnh Đào mới hỏi:
- Hiện giờ lực lượng khối một của binh đoàn đã đến đâu và các anh định bố trí vị trí tập kết ở đâu?
Phó tư lệnh Hoàng nhanh nhảu:
- Hai tiểu đoàn xe tăng và sư B25 trong ngày hôm nay sẽ đến đây. Ý định của chúng tôi là bố trí tập kết ở Ba Ngòi- Ông chỉ tay lên một điểm trên bản đồ.
Cả mấy sĩ quan Thiết giáp cùng nhổm hẳn lên để nhìn. Lại lặng im một lát ông Đào mới chậm rãi:
- Với tình hình như thế này, để hoàn thành nhiệm vụ chỉ còn một cách duy nhất là tổ chức tiến công trong hành tiến. Đặc biệt, phải lấy cơ giới làm chủ mới đẩy nhanh được tốc độ tiến công.
Tướng Ân gật đầu:
- Tôi cũng nghĩ vậy. Tuy nhiên, loại hình tác chiến này còn rất mới mẻ với chúng tôi. Chính vì vậy chúng tôi mới tới đây.
Ông Đào khiêm tốn:
- Thực ra, với chúng tôi thì cũng mới chỉ áp dụng thành công loại hình này trong một vài trận đánh thôi. Tôi nghĩ chính anh Hoàng sau trận hành tiến tiến công Đà Nẵng qua đèo Hải Vân vừa rồi mới là người có nhiều kinh nghiệm nhất đấy. Nhưng thôi, cứ đi sẽ tới, cứ làm sẽ có kinh nghiệm. Các anh đã tham khảo thì ý tôi thế này: một là, chúng ta phải tận dụng vị trí có lợi của sư đoàn Sao Đỏ để mở cửa và tạo bàn đạp tiến công cho lực lượng chính. Hai là, về tổ chức đội hình tiến công theo tôi, các anh nên tổ chức thành một thê đội và đội dự bị, và đặc biệt là phải cơ giới hóa toàn bộ. Thứ ba, khi thực hành tiến công phải đánh lướt, có khi bỏ qua những mục tiêu không quan trọng để thọc thẳng vào mục tiêu chủ yếu. Về thành phần thê đội 1 có thể gồm 1 tiểu đoàn xe tăng chở theo bộ binh trên xe, 1 tiểu đoàn cao xạ để bảo vệ đội hình chiến đấu, 1 tiểu đoàn bộ binh ngồi trên xe tải chạy phía sau và nếu có pháo bắn thẳng nữa đi cùng cũng được. Còn đội dự bị sẽ gồm các lực lượng còn lại của khối một. Sau khi thê đội 1 đã đột phá được tuyến phòng ngự vững chắc của địch ta sẽ tung đội dự bị vào để làm chủ địa bàn, truy quét tàn quân và phát triển xuống Cà Ná.
Tất cả mọi người có mặt cùng gật gù ra chiều tâm đắc. Tướng Ân gật đầu:
- Tôi đã thống nhất với sư trưởng Sao Đỏ rồi. Đêm nay các anh ấy sẽ nổ súng đánh chiếm quận lỵ Du Long và một số cứ điểm tiền tiêu của địch. Đồng thời sẽ cho lực lượng áp sát thị xã và sân bay Thành Sơn để sẵn sàng phối hợp với lực lượng tiến công theo đường quốc lộ 1.
Phó chính ủy Thu bây giờ mới lên tiếng:
- Vậy các anh xác định những mục tiêu nào là mục tiêu chủ yếu của trận đánh?
Đại tá Hoàng trả lời ngay:
- Chúng tôi xác định mục tiêu chủ yếu là Tòa thị chính, cảng Ninh Chữ và sân bay Thành Sơn. Chiếm được ba nơi này là coi như ta đã phá tan tuyến phòng thủ Phan Rang.
Phó chính ủy Thu gật đầu tán đồng, riêng ông Đào có vẻ chưa yên tâm. Nhấp nhổm nhìn bản đồ một hồi ông mới chậm rãi:
- Theo tôi, các anh nên bổ sung thêm một mục tiêu nữa gọi là chủ yếu hay quan trọng cũng được. Đó là cây cầu bắc qua sông Kinh Dinh ở phía nam thị xã. Tôi nhớ con sông này khá rộng, nếu để địch phá được cầu thì ta sẽ rất khó phát triển xuống phía nam.
Tướng Ân gật đầu đồng ý ngay, ông bảo hai sĩ quan đi cùng:
- Các đồng chí bổ sung nhiệm vụ này vào quyết tâm cho tôi- Ông nghiêng cổ tay xem đồng hồ rồi đứng dậy- Xin cảm ơn những ý kiến quý báu của các anh. Còn bây giờ chúng tôi xin phép về để tiếp tục công tác chuẩn bị.
Ông Đào nắm chặt lấy tay tướng Ân tươi cười:
- Anh Ân cứ tổ chức đánh như hôm ta xem diễn tập ở Liên Xô ấy thì chắc chắn là chúng sẽ trở tay không kịp đâu. Còn 16 này, tôi sẽ xin phép tư lệnh đi cùng các anh.
★ ★ ★
Không đợi đến ngày 16 mà nửa đêm 15 tháng Tư ông Đào đã gọi trưởng phòng tác chiến Phùng, trợ lý chính trị Hàng cùng một chiến sĩ thông tin đi tới sở chỉ huy tiền phương của binh đoàn Sông Hương. Ông cũng không ngờ tại đây có gần như đủ mặt đại diện các binh chủng và cơ quan Bộ. Sở chỉ huy đặt ngay ven đường quốc lộ 1, chẳng có nhà cửa, bàn ghế, chỉ thấy mấy cái hầm âm nông choèn và mấy đoạn hào giao thông. Tướng Ân cười gượng:
- Các anh thông cảm. Vừa mới triển khai nên nhà cửa tuyềnh toàng quá- Ông cao giọng nói đùa- Cảm ơn các vị đã không chê nhà cửa đơn sơ mà hội tụ ở đây. Đúng là đủ mặt anh tài nhé. Chả mấy khi mà ở “nhà” tôi lại có mặt đến bảy vị tướng thế này.
Ông Đào nhìn quanh, thấy đúng là có sáu thiếu tướng thật nên vội cải chính:
- Có sáu thôi, anh ạ!
Tướng Ân cười thâm thúy:
- Thì tôi vẫn thấy người ta gọi anh là tướng thiết giáp rồi, phải không? Hay là sợ khao mà không dám nhận?
Mọi người cười òa, không khí căng thẳng trước trận đánh dường như được dãn ra phần nào.
Sau khi nghe Tư lệnh binh đoàn Sông Hương báo cáo tình hình đánh địch của sư đoàn Sao Đỏ cũng như công tác chuẩn bị của đội hình chính và thời gian nổ súng, ông Đào gọi Phùng:
- Cậu nghe rồi đấy. Vấn đề bây giờ là phải hiệp đồng thật chặt chẽ để thực hiện cho bằng được mà thôi. Bây giờ cậu lên chỗ tiểu đoàn 4 cùng với sư trưởng B25 sắp xếp đội hình của thê đội 1 cho thật hợp lý. Thứ tự thì cho đại đội tăng đi trước, hai đại đội thiết giáp đi sau. Mỗi xe tăng chở theo một tiểu đội bộ binh. Riêng xe thiết giáp nếu quân mình không đủ thì cũng bổ sung bộ binh lên cho đủ. Trên đường tiến công mạnh dạn bỏ qua các mục tiêu nhỏ lẻ, nếu thật cần thiết chỉ tiến công bằng hỏa lực thôi, nhất quyết không được dừng lại. À, nhớ nhắc cậu Bản phải thường xuyên báo cáo tình hình về đấy nhé. Cậu nhớ chưa?
Phùng dõng dạc:
- Tôi nhớ rồi ạ.
Ông Đào khoát tay:
- Vậy cậu đi đi. Khi nào anh em xuất kích rồi thì quay về đây- Phùng vừa đi được vài bước thì ông Đào giật giọng- Này, Phùng ! Nhớ truyền đạt cho cậu Bản, trong mệnh lệnh của cậu ta chỉ có tiến, tiến và tiến thôi đấy.
Dứt lời, ông phẩy tay ra hiệu cho Phùng đi nhanh rồi quay lại chỗ mấy vị tướng. Cuộc trò chuyện giữa vị chỉ huy binh đoàn với các phái viên của Bộ, đại diện các binh chủng vẫn tiếp tục. Vốn đã quen biết và cùng công tác với nhau nhiều năm nên câu chuyện giữa các vị tướng lúc này nghe thật xuề xòa, bình dị chẳng khác gì mấy ông nông dân lúc nghỉ giữa buổi cày. Thỉnh thoảng một tràng cười giòn giã, trẻ trung lại vang lên. Ông Đào vừa tham gia câu chuyện vừa dỏng tai hướng về phía người chiến sĩ giữ chiếc đài 2 oát. Khi đằng đông đã ửng hồng thì ông đứng dạy bước lại gần người chiến sĩ thông tin. Người chiến sĩ thấy thủ trưởng lại gần vội bật dậy đứng nghiêm. Ông khẽ xua tay rồi cầm lấy bộ cáp nghe chụp vào đầu. Trong tai nghe vẫn chỉ là tiếng rào rào quen thuộc.
Đúng 5 giờ sáng, từ trong tai nghe vang lên tiếng tiểu đoàn trưởng Bản:
- 04 gọi 44, chú ý nhận điện! 100, thứ tự 43, 48, 49! Chú ý giữ vững tốc độ, cự ly đội hình, sẵn sàng đánh địch. Nhận đủ trả lời!
Tiếng các đại đội trưởng lần lượt trả lời. Một lát sau lại là tiếng Bản:
- 04 gọi 01! Báo cáo 01, 44 đã 100. 47!
Tiếp đó là tiếng của lữ trưởng Tình:
- 01 nhận đủ.
Ông Đào thở ra một hơi ngắn rồi gỡ bộ cáp nghe ra khỏi tai. Thoảng trong tiếng gió biển ông như nghe thấy tiếng gầm gào của hơn 20 chiếc động cơ từ phía nam vọng về.
Chưa đến 6 giờ, bình minh đã nhuốm hồng mặt biển. Những cơn gió sớm tinh khôi như mang cả vị mặn của biển cả mơn man tận từng chân tóc. Trưởng phòng Phùng đã quay về sở chỉ huy từ lúc nãy. Bây giờ đến lượt anh ôm chiếc máy 2 oát thay cho thủ trưởng. Rời khỏi chỗ ngồi, ông Đào hướng mặt về đằng đông vươn vai hít một hơi dài đầy sảng khoái. Chẳng hiểu vì sao, từ hôm đi chiến dịch đến nay ông lại thấy khỏe ra. Mặc dù ăn ngủ thất thường, thuốc men thì thường xuyên quên uống nhưng ông chẳng cảm thấy mệt mỏi tý nào. Phải chăng cái tạng ông thích hợp với việc đi đây đi đó hơn là ngồi ở phòng làm việc. Ông đã tự hỏi và tự trả lời: chính cái khí thế một ngày bằng hai mươi năm này đã mang lại sức mạnh cho ông.
Đúng 6 giờ, Phùng ngẩng lên nói nhỏ:
- Tiểu đoàn 4 đã qua Du Long, địch đã rút chạy. Anh Bản đã ra lệnh tăng tốc độ. Thủ trưởng có chỉ thị gì không?
Ông Đào lắc mạnh đầu:
- Không cần! Khi không thật cần thiết mình không nên tham gia vào mạng chỉ huy của anh em. Nhớ đấy nhé!
Phùng gật đầu đáp khẽ: “Rõ ạ” rồi lại cắm cúi xuống bên chiếc máy.
Nửa tiếng nữa đã trôi qua. Mặt trời mới lên chừng hơn một con sào mà đã thấy chói chang, rực rỡ. Ông Đào phóng tầm mắt nhìn theo quốc lộ 1 nhưng chẳng thấy gì ngoài những ngọn đồi trọc trơ trụi nối tiếp nhau đến tận chân trời. Ông bỗng thấy ngồ ngộ về cái địa danh này. Tại sao lại là Phan Rang, chẳng lẽ vì nó “nóng như rang” mà người ta đặt tên như vậy. Chợt Phùng kêu lên thảng thốt:
- Báo cáo thủ trưởng, tiểu đoàn 4 đã gặp địch ở Ba Tháp.
Không để Phùng nói hết câu, ông Đào giật lấy bộ cáp nghe chụp vào đầu. Trong tai nghe loạn xạ những tiếng nói khác nhau. Tiếng của lữ trưởng Tình khìn khịt như người ngạt mũi. Tiếng Bản ồm ồm nhưng dõng dạc đang chỉ huy triển khai đội hình. Tiếng cậu đại đội trưởng đại đội 3 người Quảng Bình chỉ huy hỏa lực đại đội mà vẫn nhẹ nhàng như con gái. Chợt ông cau mày vì trong cái mớ âm thanh ấy ông nghe rõ tiếng Bản thảng thốt:
- 48, 49 chú ý! Tập trung bắn máy bay chi viện cho 43 đột phá!
Ông Đào đứng hẳn dậy khum tay che mắt nhìn. Mặc dù cách xa khu chiến hàng chục ki- lô- mét nhưng vẫn thấy được mấy chiếc máy bay đang lượn lờ tít trên cao rồi chúc đầu lao xuống. Tất cả mọi người trong sở chỉ huy cũng đã đứng cả dậy ngóng về hướng nam. Ông Đào cao giọng:
- Anh Ân! Đề nghị anh cho tiểu đoàn cao xạ tổ chức bắn máy bay để bảo vệ đội hình ngay. Chỗ này gần Thành Sơn lắm. Không ngăn được chúng mình sẽ không tiến được đâu- Ông quay lại Phùng- Từ Ba Tháp vào thị xã còn mấy cây nữa?
Phùng trả lời ngay không cần suy nghĩ:
- Dạ, chỉ khoảng gần chục cây thôi, thủ trưởng ạ.
Ông Đào lẳng lặng không nói gì nữa mà cứ đăm chiêu nhìn lên trời, đôi mắt nặng trĩu lo âu.
Chừng như mệnh lệnh của tư lệnh binh đoàn đã có hiệu lực vì đã thấy lấm tấm những chấm khói của đạn cao xạ trên bầu trời trong xanh. Một chiếc A37 bỗng phụt khói đen kịt ở đằng đuôi rồi ngúc ngắc đầu chúc xuống. Tất cả những người có mặt ở sở chỉ huy reo lên đầy phấn khích:
- Cháy rồi! Máy bay cháy rồi!
Có vẻ như lưới lửa phòng không đã được phối hợp chặt chẽ hơn nên những chiếc máy bay chủ yếu ném bom từ tít trên cao chứ không dám sà thấp xuống như trước nữa. Ông Đào sốt ruột bóp công tắc phát:
- Tam Đảo gọi 04! Báo cáo tình hình về ngay! 47!
Mấy giây sau, tiếng tiểu đoàn trưởng Bản vọng lại:
- 04 báo cáo! 04 đã chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài. Về ta, 1 xe bị cháy, 1 xe bị thương. Về người, hy sinh 4, bị thương 4. Xin chỉ thị, 47!
Ông Đào bóp mạnh cái công tắc:
- 04 chú ý! Ngay lập tức tăng tốc độ đánh chiếm các mục tiêu theo kế hoạch. 47!
Tiếng Bản vọng về ngay lập tức:
- 04 nhận đủ! 04 gọi 44! Nhanh chóng tăng tốc độ đánh chiếm các mục tiêu theo kế hoạch. 47!
Tiếng các đại đội trưởng trả lời líu ríu nhưng không thấy cái giọng Quảng Bình của đại đội trưởng đại đội xe tăng 3 nữa. Chắc xe này “bị” rồi.
Thêm một chiếc máy bay nữa bị bắn cháy. Tuy nhiên, có vẻ như chúng lại xuất hiện nhiều hơn. Những chiếc máy bay nới dần vòng lượn ngày càng xa về phía nam. Ông Đào hiểu bọn chúng đang bám đánh đội hình của tiểu đoàn 4 dưới mặt đất. Chợt những tiếng ồn trong tai nghe nhỏ dần rồi bặt hẳn. Ông Đào gỡ bộ cáp nghe ra nghiêng ngó rồi vẫy người chiến sĩ thông tin:
- Đồng chí kiểm tra xem máy móc thế nào mà không nghe thấy gì nữa?
Cậu chiến sĩ loay hoay một lúc rồi đứng dậy, khuôn mặt tái nhợt lấm tấm mồ hôi:
- Báo cáo thủ trưởng, máy không sao ạ. Có lẽ do khoảng cách xa quá nên mất liên lạc thôi.
Ông Đào cau mày định nói gì đó nhưng lại thôi. Có lẽ cậu ta nói đúng. Bây giờ phải cơ động sở chỉ huy lên phía trước là tốt nhất. Ông lại gần tướng Ân. Vị tư lệnh binh đoàn lưng áo ướt đẫm mồ hôi ngước lên:
- Gay quá! Mất liên lạc rồi.
Thế này thì đúng là do đội hình chiến đấu đã cơ động rất nhanh làm cho các đài sóng cực ngắn không dủ khả năng liên lạc rồi. Ông nói nhỏ:
- Có lẽ ta phải cơ động sở chỉ huy lên thôi, anh ạ.
Tướng Ân gật đầu:
- Vâng! Có lẽ phải thế thôi- Sau vài giây suy nghĩ ông quả quyết- Cũng không thể lên quá gần được. Tôi sẽ cho một sĩ quan tham mưu lên trước nắm tình hình. Trường hợp cần thiết thì làm trạm chuyển tiếp về đây. Anh thấy thế có được không?
Liếc nhìn sang mấy vị tướng đang đứng xung quanh, ông Đào gật đầu:
- Tôi đồng ý! Bên tôi sẽ cử anh Phùng đi cùng- Ông quay lại gọi Phùng- Phùng, cậu đi với xe của phòng tham mưu binh đoàn nhé. Khi đến cự ly liên lạc được với phía trước thì nắm tình hình thì báo cáo về ngay. Bọn tớ cũng sẽ cơ động dần lên phía sau các cậu.
Một chiếc xe Jeep được đánh ra. Hai sĩ quan và một chiến sĩ thông tin trèo vội lên xe. Chiếc xe phóng vụt đi như tên bắn. Tư lệnh binh đoàn cao giọng:
- Các đồng chí về xe! Chuẩn bị cơ động!
Tuy nhiên, sở chỉ huy chưa kịp xuất phát đã thấy từ loa của chiếc máy PRC25 của tư lệnh binh đoàn vang lên tiếng của Phùng:
- Báo cáo Sông Hương! Thê đội 1 đã vào đến thị xã. Đã chiếm được Tòa thị chính. Đang triển khai đánh chiếm các mục tiêu còn lại. Bộ đội còn sung sức, đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Báo cáo hết!
Tất cả các khuôn mặt cùng giãn ra. Ông Đào liếc nhìn đồng hồ, mới 7 giờ 15 phút. Tư lệnh binh đoàn cất tiếng oang oang:
- Tất cả xuất phát!
Hơn chục chiếc xe cả lớn lẫn nhỏ rùng rùng chuyển bánh hướng về phía thị xã Phan Rang vẫn đang ầm ào tiếng súng.
Đoàn xe chạy được gần chục ki- lô- mét thì phải giảm tốc độ vì những hố bom nổ ngay giữa đường và đất đá do những quả nổ ven đường quăng lên. Nhìn những hố bom dày đặc trải dài dọc theo con đường, ông Đào hiểu rằng quân địch vẫn hết sức ngoan cố và quyết giữ đến cùng tuyến phòng thủ này. Phóng tầm mắt về phía trước, ông Đào chợt giật mình vì phát hiện ra trên một ngọn đồi sừng sững một ngôi tháp Chàm màu đỏ sậm. Đã từng đọc nhiều tài liệu về nền văn hóa cổ Chăm- Pa, ông thật sự ngưỡng mộ dân tộc này đã để lại cho đời sau những kiệt tác độc nhất, vô nhị. Đó là những ngọn tháp rải rác khắp dải đất miền Trung đầy nắng gió mà ông đã thoáng gặp trong những ngày qua. Chưa đặt chân vào bên trong bất kỳ một ngọn tháp nào song ông luôn cảm thấy từ mỗi ngọn tháp đều tỏa ra một cái gì đó thật huyền hoặc và bí ẩn. Không cần giở bản đồ ông cũng biết ngọn đồi có mấy tòa tháp ở phía trước là Ba Tháp.
Gần đến Ba Tháp, trận chiến đấu ác liệt trước đó ít phút như vẫn còn hiển hiện. Những hố bom toang hoác đang còn nghi ngút khói, nhiều quả nổ ngay trên mặt đường. Một quả nổ ngay cạnh một ngôi tháp làm nó sụp hẳn mất một góc. Hai bên đường, trâu bò chết như ngả rạ.
Đoàn xe tiếp tục tiến về phía trước. Đã thấy những chướng ngại vật bằng thùng phuy và bao cát vắt ngang mặt đường, những công sự chiến đấu được đắp vội vàng bằng đất đá. Nhiều cái đã đổ sụp trước sức công phá của đạn pháo. Xung quanh đó, rải rác xác bọn lính ngụy chết trong đủ tư thế. Ông Đào tự nhủ, nếu không tiến công sớm, hệ thống phòng thủ này được củng cố vững chắc hơn và nhất là chúng rải được ít mìn chống tăng thì chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra. Có lẽ, đây là một ví dụ sinh động cho cái câu nghe hơi có vẻ văn hoa “thời gian là lực lượng”.
Đến gần một ngã ba có cái tháp canh đã sập một nửa, những dấu vết của một trận đánh ác liệt còn rõ ràng hơn. Ngay trước ngã ba, một chiếc PT85 vẫn đang nghi ngút khói. Thỉnh thoảng, một quả đạn pháo trong xe lại nổ làm bùng lên một ngọn lửa lớn. Lác đác quanh đó là bộ phận thu gom thương binh, tử sĩ đang hối hả làm việc. Một chiếc xe tải đang từ từ bò theo họ, trên thùng xe thương binh kẻ nằm, người ngồi la liệt. Ngay gần chiếc xe cháy, mấy thi hài chiến sĩ bó trong chiếc tăng đặt ngay ngắn bên vệ đường. Ông Đào quay đi giấu một giọt nước mắt sau cặp kính. Vẫn biết, chiến tranh là có mất mát, hy sinh nhưng ông không thể cầm lòng mỗi khi nhìn thấy cảnh này.
Qua ngã ba này chừng một đoạn, tư lệnh binh đoàn cho sở chỉ huy dạt vào một bên đường. Từ đây, các máy vô tuyến điện 2 oát đã có thể liên lạc tương đối tốt với thê đội 1. Phía trước, mấy chiếc máy bay vẫn quần lượn một cách tuyệt vọng. Từ đó, vẳng lại những tiếng nổ của đủ loại vũ khí.
Ông Đào áp chặt bộ cáp nghe vào tai. Không yêu cầu báo cáo nhưng qua những câu trao đổi trên làn sóng ông cũng cơ bản nắm được tình hình. Với sự chỉ đạo trực tiếp của lữ trưởng Tình và trưởng phòng tác chiến Phùng, sau khi đánh chiếm được Tòa thị chính, tiểu đoàn 4 đã chia làm ba hướng. Một hướng cơ động về phía nam chốt giữ, bảo vệ cầu Đạo Long. Một hướng cơ động lên tiến công sân bay Thành Sơn. Hướng thứ ba ra chiếm cảng Ninh Chữ. Tiếng rào trong máy lặng đi một lát rồi lại rộ lên, lần này nghe rõ cả những khẩu lệnh chỉ huy bắn của trưởng xe. Ông Đào cau mày: “Mấy cái cậu này cuống hay làm sao thế không biết, khẩu lệnh chỉ huy hỏa lực trong xe mà cứ phát lên toàn mạng thế này”. Nhưng mà thế cũng có cái hay. Chính nhờ nó mà ông biết pháo thủ xe 763 tên là Song hay Sang gì đó đã bắn cháy 3 tàu chiến, bọn còn lại chạy dạt hết ra ngoài khơi. Hy vọng chạy thoát bằng đường biển của bọn tàn quân coi như bị dập tắt.
Chợt một hiện tượng lạ xảy ra thu hút sự chú ý của tất cả mọi người ở sở chỉ huy: từ phía sân bay Thành Sơn, hơn chục chiếc máy bay- cả A37 lẫn trực thăng- cất cánh gần như cùng một lúc. Tuy nhiên, chúng không bay về đánh phá thị xã mà mải miết bay thẳng về hướng nam. Tư lệnh binh đoàn hét lên:
- Bọn ở sân bay Thành Sơn bỏ chạy rồi- Ông quát người trợ lý- Lệnh cho Sao Đỏ áp sát thật nhanh, không cho chúng tháo chạy.
Ông Đào cũng vồ lấy bộ cáp nghe, tay bóp phát, miệng hô gấp gáp:
- 04 đâu! Khẩn trương đánh chiếm sân bay, không cho địch tháo chạy. 47!
Không thấy tiếng Bản trả lời nhưng ông tin rằng anh em mình đã nhận được mệnh lệnh và đang cố gắng thực thi. Quả nhiên như vậy. Chỉ vài phút sau đã thấy tiếng Bản:
- 04 báo cáo! 04 đã vào đến cổng, đang dùng hỏa lực khống chế toàn bộ sân bay. 47!
Ông Đào thấy người lâng lâng. Chợt nhớ đến những vết đạn trên thân mấy cái máy bay vẫn đang đậu trên đường băng ở sân bay Đà Nẵng hôm nào, ông Đào bóp công tắc phát:
- 04 chú ý! Chủ yếu bắn ngăn chặn không cho cất cánh. Hạn chế bắn vào máy bay. 47!
Tiếng Bản trả lời ngay tắp lự:
- 04 nhận đủ! Các xe chú ý, không được bắn vào máy bay, chỉ cái nào cất cánh mới bắn. Nhận đủ, trả lời!
Như thế là tất cả các mục tiêu chủ yếu đã được đánh chiếm. Ông Đào trao bộ cáp nghe cho người chiến sĩ thông tin rồi lại gần xe tư lệnh binh đoàn. Gương mặt rạng rỡ, tướng Ân bắt chặt tay ông:
- Thắng rồi, anh ạ- Ông quay lại phía người sĩ quan tác chiến- Lệnh cho đội dự bị xuất phát đánh chiếm Cà Ná, ngăn chặn quân địch rút bằng đường biển. Tôi cũng không ngờ ta lại đánh nhanh đến như vậy.
Ông Đào phụ họa:
- Còn nhanh hơn Liên Xô diễn tập, anh nhỉ.
★ ★ ★
Hơn 10 giờ, ta đã làm chủ hoàn toàn thị xã Phan Rang và vùng phụ cận. Mũi tiến công của đội dự bị cũng đã chiếm được quận lỵ Phú Quý và đang hành tiến tới Cà Ná. Tuyến phòng thủ vững chắc mà Sài Gòn đặt bao nhiêu kỳ vọng vào đó đã vỡ tan như bọt xà phòng.
Sở chỉ huy binh đoàn đã cơ động vào thị xã và tạm đặt tại Tòa thị chính. Xe vừa dừng ông Đào đã lên đài gọi tiểu đoàn 4:
- Tam Đảo gọi 04! Báo cáo tình hình về ngay. 47!
Một lát sau, tiếng tiểu đoàn trưởng vọng về nghe rõ mồn một:
- 04 báo cáo! Hiện các mũi của 04 vẫn đang chốt giữ tại sân bay Thành Sơn, cảng Ninh Chữ và nam cầu Đạo Long. Đang phối hợp với bộ binh truy quét tàn binh địch. Báo cáo hết!
Một chút tò mò nổi lên trong đầu ông Đào:
- Tam Đảo gọi 04! Hiện giờ anh đang ở đâu? 47!
Tiếng Bản:
- 04 báo cáo! Hiện tôi đang ở sân bay Thành Sơn.
Ông Đào vội bóp phát, chẳng mật ngữ và chữ đúc nghiệp vụ gì nữa:
- Còn nhiều máy bay địch ở đó không?
Bản trả lời ngay:
- 04 báo cáo! Chúng tôi đã sơ bộ kiểm tra, còn hơn 30 máy bay các loại, có cái đã nổ máy rồi mà vẫn không kịp cất cánh.
Ông Đào mừng rỡ. Thật là một kết quả rất bất ngờ. Điều đó chứng tỏ tốc độ tiến công trong hành tiến của ta là rất nhanh, máy bay đã nổ máy rồi mà còn không kịp cất cánh. Ông quả quyết sải những bước dài vào ngôi nhà bề thế sơn màu kem. Ở đó, Bộ tư lệnh binh đoàn Sông Hương cùng các phái viên đang hồ hởi triển khai vị trí làm việc trong những căn phòng sang trọng. Đến cạnh tư lệnh binh đoàn, ông nói nhỏ:
- Tôi lên sân bay Thành Sơn, anh nhé!
Chừng như đang mải việc nên tướng Ân gật đầu không cần suy nghĩ:
- Vâng! Anh đi đi!- Ông Đào đã quay đi được vài bước thì tư lệnh binh đoàn gọi giật lại- Anh Đào, tàn binh địch còn nhiều, anh phải cẩn thận đấy!
Vừa ra đến xe, ông Đào đã giục Năm:
- Lên sân bay Thành Sơn!
Năm nổ máy xe nhưng vẫn chần chừ. Biết là Năm không biết đường nên ông Đào nhẹ nhàng:
- Cứ đi đi! Tớ sẽ chỉ đường cho.
Cả lái xe Năm và trợ lý chính trị Hàng đều ngơ ngác vì nghĩ rằng đây là lần đầu thày trò họ đến đây mà sao thủ trưởng lại thông thuộc đường sá như vậy. Ông Đào cười thầm: “Chỉ cần biết Thành Sơn nằm ở hướng tây bắc và cạnh con đường từ Phan Rang đi Đà Lạt là tìm được đường đi ngay mà”.
Chiếc xe con lấm láp xuyên qua những đường phố lớn một cách chậm chạp vì dòng người đổ ra đường ngày một đông. Nhiều người cầm trên tay những lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, giữa có ngôi sao vàng. Gương mặt ai cũng hồ hởi, tưng bừng như đã đón chờ ngày này từ lâu lắm rồi. Ông Đào thấy lâng lâng trong ngực vì phố xá còn gần như nguyên vẹn. Âu đó cũng là một điều may mắn.
Thị xã không lớn nên chỉ một lúc sau chiếc xe đã bắt vào đường 11 và ra đến ngoại vi. Nhà cửa đã thưa thớt dần rồi hết hẳn. Chỉ thấy những vườn nho trải dài. Trong cái nóng buổi trưa, nhìn những chùm nho đã chín mọng mà muốn ứa nước miếng. Trợ lý Hàng phàn nàn:
- Đúng là nóng như rang, thủ trưởng ạ.
Chợt nhớ lại suy nghĩ của mình ban sáng, ông Đào cười đồng tình:
- Chắc vì thế mà người ta mới đặt tên nó là Phan Rang.
Câu chuyện giữa hai thày trò ngày một rôm rả. Hàng thầm phục sự hiểu biết của thủ trưởng mình. Ông nói vanh vách về đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết của vùng đất này như một người đã từng sống ở đây lâu năm. Lại còn chuyện về nền văn hóa Chăm và những ngôi tháp Chàm nữa. Lái xe Năm vừa vặn tay lái một cách điêu luyện để tránh ổ gà vừa góp chuyện. Chợt Hàng kêu lên:
- Đằng trước có người.
Ông Đào căng mắt nhìn. Phía trước, cách chừng 500 mét, một toán khoảng hơn chục người đang đi ngang đường. Theo phán đoán của ông thì chỗ đó là nơi giao nhau giữa đường sắt với đường 11. Như vậy, nhóm người kia đang đi dọc theo đường sắt về phía nam, trông họ có vẻ hơi vội vàng. Mà không chỉ có thế, phía sau toán đi đầu còn một nhóm nữa đông hơn. Tuy nhiên, không thể nhìn rõ trang phục. Ông Đào đang định phàn nàn về thị lực của mình thì Hàng thất thanh:
- Hình như quân địch, thủ trưởng ạ!
Tiếng kêu của Hàng chưa dứt thì từ phía trước mấy họng súng đã lóe lửa. Những viên đạn cày xuống mặt đường ngay trước mũi xe chiu chíu. Phản xạ của người lính lâu năm tuy đã già nhưng vẫn còn khá nhanh nhẹn, ông Đào cúi rạp mình xuống trước khi một viên đạn xuyên thủng tấm kính phía trước. Lái xe Năm vừa cúi mình tránh đạn vừa bẻ hết cỡ vô lăng. Chiếc xe đang chạy nhanh gần như quay 180 độ về phía sau làm tất cả mọi người nhao hết sang phải. Những loạt đạn vẫn bắn theo tới tấp. Một bánh xe bị thủng lốp, xe nghiêng hẳn về một bên. Năm nghiến răng ghì chặt tay lái, chân vẫn nhấn mạnh ga. Chiếc xe như người bị thọt vẫn cố gắng chạy cà nhắc. Trong lúc đó Hàng loay hoay gỡ khẩu AK cố định phía sau xuống nhưng lúng túng mãi vẫn chưa cởi được dây buộc. Thêm một chiếc lốp nữa bị bắn thủng. Năm vẫn nhấn mạnh chân ga. Chiếc xe vẫn lồng lên lộc cộc như xe bò. Phía trước, một toán người xuất hiện. Ông Đào căng mắt nhìn vẫn không rõ là quân ta hay quân địch. Hàng đã gỡ được khẩu AK ra, đang định bắn về phía sau thì ông Đào gấp gáp:
- Hàng, cậu nhìn xem phía trước là quân ta hay quân địch?
Hàng quay ngoắt lại, chưa đầy một giây anh đã reo lên:
- Quân ta ạ!
Chiếc xe tiếp tục lết thêm vài chục mét nữa thì đã rõ đó là một đơn vị quân ta. Họ đang lùng sục gần đó thì nghe tiếng súng nên cơ động ra đây. Xe dừng lại, ông Đào thở ra một hơi dài. Các chiến sĩ bộ binh đã vây chặt chiếc xe, một toán nữa thì chạy lên phía đường sắt truy đuổi bọn tàn quân. Ông Đào bước xuống kinh ngạc nhìn hai chiếc lốp sau đã cháy đen, khói bốc lên khét lẹt. Hàng vẫn chưa hết run. Còn cậu chiến sĩ thông tin thì tái mét mặt. Lái xe Năm vừa thở vừa hổn hển:
- May quá, thủ trưởng nhỉ. Chỉ tý nữa thì mình chết.
Ông Đào bình thản:
- Cậu xử trí tốt lắm!
★ ★ ★
Trận hành tiến tiến công Phan Rang của phân đội phái đi trước của binh đoàn Sông Hương đã thắng lợi rực rỡ. Đặc biệt, tốc độ tiến công đạt mức kỷ lục: 70 ki- lô- mét một ngày, từ quận lỵ Du Long đến mũi Cà Ná sạch bóng quân thù. Quân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn một vạn tên địch phòng thủ tại đây, bắt sống trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh tiền phương quân đoàn 3, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, tư lệnh sư đoàn 6 không quân, chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, lữ trưởng lữ dù 2 và nhiều sĩ quan, binh sỹ khác. Tuyến phòng thủ vành ngoài tại Phan Rang mà Sài Gòn đặt nhiều kỳ vọng đã vỡ tan như bong bóng xà phòng.
Thừa thắng, tư lệnh binh đoàn Sông Hương quyết định tiếp tục hành tiến tiến công thị xã Phan Thiết với chủ lực là hai tiểu đoàn xe tăng 4 và 5 . Chỉ sau 4 giờ chiến đấu, toàn bộ quân địch ở tiểu khu Bình Thuận đã bị tan rã, thị xã Phan Thiết được giải phóng gần như nguyên vẹn.
Thấy quân ta đánh lướt qua, bọn địch ở Hàm Tân đã bỏ chạy rồi lại quay lại kêu gào “tử thủ”. Tuy nhiên, chỉ cần tiểu đoàn xe tăng 5 cùng với một trung đoàn bộ binh quay lại trong đêm đã giải quyết xong.
Ngày 20 tháng Tư, khối một của binh đoàn Sông Hương đã tới vị trí tập kết tại Rừng Lá sớm hơn quy định. Tư lệnh binh đoàn chỉ thị cho các đơn vị chuẩn bị phối hợp với binh đoàn Mê- Kông tiến công Xuân Lộc. Một không khí hết sức sôi động, khẩn trương diễn ra ở tất cả các đơn vị. Lữ trưởng Tình, lữ phó Tại chạy như con thoi để đốc thúc đội hình xe tăng chủ lực của lữ đoàn cơ động có mặt tại vị trí tập kết kịp thời gian quy định.